|
|
|

Thích
Không thích
|
|
|
|
| Chủ đề: Phân tích cơ bản - Back to BASIC - Kinh nghiệm thương trường |
| Chủ đề này đã có 171663 lượt đọc và 426 bài trả lời | 1 người thích | 0 người không thích |
|---|
|
Target Price
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 21:58, 08/04/07
Được cảm ơn 643 lần
|
|
|||||||||
|
Trích:
Gặp gấu bự, bác nào manh động dù ít nhiều ko khéo là bị gấu vả rơi răng. Khéo léo thì thoát nạn kiếm được chút cháo trong mạo hiểm giông bão. Sức mạnh của tiềm thức Target Price |
||||||||||
|
||||||||||
|
Banned
Thành viên từ 11:46, 15/08/06
Được cảm ơn 800 lần
|
|
|||||||||
|
Trích:
Bước tiếp theo có lẽ Chính Phủ nên làm là giảm các chi phí SX cho các DN như giảm xăng dầu, thuế nhập khẩu nguyên vật liệu sx hàng thiết yếu... để kích thích sx tạo hàng hoá cho XH, đây là 1 cách chống lạm phátthời KT suy thoái. Trợ cấp cho người nghèo ăn tết là một chủ trương đúng đắn, vì khi lạm phát hay suy giảm KT thì khu vực người nhèo, người thu nhập thấp là rất dễ bị tổn thương. Trợ cấp cho họ chính là lá chắn tốt nhất để bình ổn thị trường hàng hóa. Nhìn chung Chính Phủ đã có giải pháp phù hợp để điều hành KT trong tình hình hiện nay, chính sách này sẽ giúp cho XH ổn định hơn trong thời gian tới. (còn tiếp) |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên quen thuộc
Thành viên từ 19:35, 05/11/08
Được cảm ơn 6 lần
|
|
|||||||||
|
Sự phát triển các hình thái của tiền tệ
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, tiền tệ đã lần lượt tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là của hoạt động sản xuất, lưu thông, trao đổi hàng hoá. Trong phần này, chúng ta sẽ tìm hiểu xem đã có những dạng tiền tệ nào trong lịch sử, chúng đã ra đời như thế nào và tại sao lại không còn được sử dụng nữa. Bằng cách này chúng ta sẽ có được sự hiểu biết sâu sắc hơn về khái niệm tiền tệ. 1. Tiền tệ hàng hoá - Hoá tệ (Commodity money) Đây là hình thái đầu tiên của tiền tệ. Đặc điểm chung của loại tiền tệ này là: Hàng hoá dùng làm tiền tệ trong trao đổi phải có giá trị thực sự và giá trị của vật trung gian trao đổi này phải ngang bằng với giá trị hàng hoá đem ra trao đổi, tức là trao đổi ngang giá một hàng hoá thông thường lấy hàng hoá đặc biệt - tiền tệ3. Hoá tệ xuất hiện lần lượt dưới hai dạng: 1.1. Hoá tệ phi kim loại Hoá tệ phi kim loại là tiền tệ dưới dạng các hàng hoá (trừ kim loại). Đây là hình thái cổ nhất của tiền tệ, rất thông dụng trong các xã hội cổ xưa. Trong lịch sử đã có rất nhiều loại hàng hoá khác nhau từng được con người dùng làm tiền tệ. Trong cuốn ?oPrimitive money? của Paul Einzig viết năm 19664, ông đã đưa ra những thống kê khá thú vị sau về những loại tiền cổ xưa mà theo ông nhiều số trong đó vẫn còn được sử dụng cho đến cả ngày nay. Đó là: - Răng cá voi ở đảo Fiji - Gỗ đàn hương ở Hawaii - Lưỡi câu (cá) ở quần đảo Gilbert - Mai rùa ở đảo Marianas - Tuần lộc ở nhiều nơi thuộc Nga - Lụa ở Trung quốc - Bơở Na Uy - Da ở Pháp và Ý - Rượu Rum ở Australia - Bộ lông vẹt đỏ ở quần đảo Santa Cruz (vẫn còn cho đến năm 1961) - Gạo ở Philippines - Hạt tiêu ở Sumatra - Đường ở đảo Barbados - Nô lệ ở Châu Phi xích đạo, Nigeria, Ailen - Những chuỗi vỏ sò của những thổ dân da đỏ Bắc Mỹ - Bò, cừu ở Hy lạp và La mã - Muối ở nhiều nơi. Tuy nhiên, hoá tệ phi kim loại có nhiều điểm bất tiện như: tính chất không đồng nhất, dễ hư hỏng, khó phân chia hay gộp lại, khó bảo quản cũng như vận chuyển, và chỉ được công nhận trong từng khu vực, từng địa phương. Vì vậy mà hoá tệ phi kim loại dần dần biến mất và được thay thế bằng dạng hoá tệ thứ hai: hoá tệ kim loại. 1.2. Hoá tệ kim loại Hoá tệ kim loại là tiền tệ dưới dạng các kim loại, thường là các kim loại quý như vàng,bạc, đồng?. Nói chung các kim loại có nhiều ưu điểm hơn so với các hàng hoá khác khi được sử dụng làm tiền tệ như: chất lượng, trọng lượng có thể xác định chính xác, dễ dàng hơn, thêm vào đó, nó lại bền hơn, dễ chia nhỏ, giá trị tương đối ít biến đổi?. Trong thực tiễn lưu thông hoá tệ kim loại, chỉ có vàng trở thành loại tiền tệ được sử dụng phổ biến và lâu dài nhất. Bạc rồi đồng chỉ được sử dụng thay thế khi thiếu vàng dùng làm tiền tệ. Sự thống trị của tiền vàng có được là do vàng có những ưu việt hơn hẳn các hàng hoá khác trong việc thực hiện chức năng tiền tệ: * Vàng là một loại hàng hoá được nhiều người ưa thích. Chúng ta biết rằng, vàng chưa chắc đã là kim loại quý hiếm nhất nhưng nhu cầu của xã hội về vàng đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử và ngày càng tăng làm cho vàng trở thành một thứ hàng hoá rất hấp dẫn, được nhiều người ưa thích. Vì vậy, việc dùng vàng trong trao đổi dễ dàng được chấp nhận trên phạm vi rộng lớn. * Những đặc tính lý hoá của vàng rất thuận lợi trong việc thực hiện chức năng tiền tệ. Vàng không bị thay đổi về màu sắc và chất lượng dưới tác động của môi trường và cơ học nên rất tiện cho việc cất trữ. Nó dễ chia nhỏ mà không ảnh hưởng tới chất lượng. * Giá trị của vàng ổn định trong thời gian tương đối dài, ít chịu ảnh hưởng của năng suất lao động tăng lên như các hàng hoá khác. Sự ổn định của giá trị vàng là do năng suất lao động sản xuất ra vàng tương đối ổn định. Ngay cả việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào khai thác cũng không làm tăng năng suất lao động lên nhiều. Điều này làm cho tiền vàng luôn có được giá trị ổn định, một điều kiện rất cần thiết để nó có thể chấp hành tốt các chức năng tiền tệ. Trong giai đoạn đầu, tiền vàng thường tồn tại dưới dạng nén, thỏi. Nhưng về sau để tiện cho việc trao đổi, tiền vàng thường được đúc thành những đồng xu với khối lượng và độ tinh khiết nhất định. Loại tiền này vì thế mà còn được gọi là tiền đúc. Tiền đúc xuất hiện đầu tiên tại Trung quốc, khoảng thế kỷ thứ 7 trước CN, sau thâm nhập sang Batư, Hy lạp, La mã rồi vào châu Âu. Các đồng tiền lưu hành ở châu Âu trước kia đều dưới dạng này. Ví dụ: đồng ?opound sterling? của Anh, đồng livrơ hay lu-y của Pháp? Trước kia đồng bảng Anh vốn là những đồng xu bằng bạc có in một ngôi sao trên bề mặt, trong tiếng Anh cổ ?osterling? nghĩa là ngôi sao cho nên những đồng xu đó được gọi là ?opound sterling?, còn ký hiệu đồng bảng Anh (£) là bắt nguồn từ một từ Latinh cổ ?olibra? giống nghĩa với từ ?opound?. Tiền vàng đã có một thời gian thống trị rất dài trong lịch sử. Điều này đã chứng tỏ những hiệu quả to lớn mà nó mang lại cho nền kinh tế. Một sự thực là hệ thống thanh toán dựa trên vàng vẫn còn được duy trì cho đến mãi thế kỷ 20, chính xác là đến năm 1971. Ngay cả ngày nay, mặc dù tiền vàng không còn tồn tại trong lưu thông nữa, nhưng các quốc gia cũng như nhiều người vẫn coi vàng là một dạng tài sản cất trữ có giá trị.Tuy có những đặc điểm rất thích hợp cho việc dùng làm tiền tệ như vậy, tiền vàng vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu trao đổi của xã hội khi nền sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến mức cao. Một loạt lý do sau đây đã khiến cho việc sử dụng tiền vàng ngày càng trở nên bất tiện, không thực hiện được chức năng tiền tệ nữa: (1) Quy mô và trình độ sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, khối lượng và chủng loại hàng hoá đưa ra trao đổi ngày càng tăng và đa dạng; trong khi đó lượng vàng sản xuất ra không đủ đáp ứng nhu cầu về tiền tệ (nhu cầu về phương tiện trao đổi) của nền kinh tế. (2) Giá trị tương đối của vàng so với các hàng hoá khác tăng lên do năng suất lao động trong ngành khai thác vàng không tăng theo kịp năng suất lao động chung của các ngành sản xuất hàng hoá khác. Điều đó dẫn đến việc giá trị của vàng trở nên quá lớn, không thể đáp ứng nhu cầu làm vật ngang giá chung trong một số lĩnh vực có lượng giá trị trao đổi mỗi lần nhỏ như mua bán dịch vụ hoặc hàng hoá tiêu dùng?. (3) Ngược lại, trong những giao dịch với giá trị lớn thì tiền vàng lại trở nên cồng kềnh. (4) Việc sử dụng tiền tệ hàng hoá bị các nhà kinh tế xem như là một sự lãng phí những nguồn tài nguyên vốn đã có hạn. Để dùng một loại tiền tệ hàng hoá, xã hội sẽ phải cắt bớt các công dụng khác của hàng hoá đó hoặc dùng các nguồn lực khan hiếm để sản xuất bổ sung. Rõ ràng là với việc dùng vàng làm tiền tệ con người đã phải giảm bớt các nhu cầu dùng vàng làm đồ trang sức hoặc trong các ngành có sử dụng vàng làm nguyên liệu vì xã hội phải dành một phần lớn số lượng vàng hiện có để làm tiền tệ. Với những lý do như vậy mà xã hội đã phải đi tìm cho mình một dạng tiền tệ mới phù hợp hơn. Chúng ta chuyển sang hình thái tiền tệ thứ hai: .... |
||||||||||
|
||||||||||
|
== lão đại ==
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 10:14, 06/12/07
Được cảm ơn 1012 lần
|
|
|||||||||
|
phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật cứ lọ mọ mãi chưa dò thấy đường. Các bác để em quăng 1 quẻ nhé: Năm nhuận đồng nghĩa với thất bát- Năm nay 7 phiên giảm sẽ có 3 phiên tăng==> tổng kết là móm
cuộc đời lúc thịnh lúc suy lúc cưỡi bạch mã lúc phi mèo mù |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên quen thuộc
Thành viên từ 19:35, 05/11/08
Được cảm ơn 6 lần
|
|
|||||||||
|
2 Tiền giấy (paper money)
Tiền giấy xuất hiện đầu tiên dưới dạng các giấy chứng nhận có khả năng đổi ra bạc hoặc vàng do các ngân hàng thương mại phát hành (gold certificate, silver certificate). Đây là các cam kết cho phép người nắm giữ giấy này có thể đến ngân hàng rút ra số lượng vàng hay bạc ghi trên giấy. Do có thể đổi ngược ra vàng và bạc nên các giấy chứng nhận này cũng được sử dụng trong thanh toán như vàng và bạc. Sự ra đời những giấy chứng nhận như vậy đã giúp cho việc giao dịch với những khoản tiền lớn cũng như việc vận chuyển chúng trở nên thuận lợi hơn rất nhiều. Dần dần các giấy chứng nhận nói trên được chuẩn hoá thành các tờ tiền giấy có in mệnh giá và có khả năng đổi ra vàng một cách tự do theo hàm lượng vàng qui định cho đồng tiền đó. Ví dụ: ở Anh trước đây bên cạnh những đồng pound sterling tiền đúc còn lưu hành đồng bảng Anh bằng giấy do các ngân hàng phát hành và được đổi tự do ra vàng theo tỷ lệ 1 bảng Anh tương đương 123,274 grain, tương đương với 7,32238 gr vàng nguyên chất. Việc đổi từ tiền giấy ra vàng được thực hiện tại các ngân hàng phát hành ra nó. Loại tiền giấy này rất phổ biến ở châu Âu trong thời gian trước chiến tranh thế giới thứ nhất, thường được gọi là tiền ngân hàng hay giấy bạc ngân hàng (bank note). Việc sử dụng tiền ngân hàng hoàn toàn mang tính chất tự nguyện. Sau Đại chiến thế giới thứ nhất, nhằm siết chặt quản lý trong việc phát hành tiền giấy, các nhà nước đã ngăn cấm các ngân hàng thương mại phát hành giấy bạc ngân hàng, từ nay mọi việc phát hành chỉ do một ngân hàng duy nhất gọi là ngân hàng trung ương thực hiện. Vì thế ngày nay nói đến giấy bạc ngân hàng phải hiểu là giấy bạc của ngân hàng trung ương. Hàm lượng vàng của đồng tiền giấy bây giờ được qui định theo luật từng nước. Ví dụ: hàm lượng vàng của đồng đô la Mỹ công bố tháng 1 năm 1939 là 0.888671g. Vì vậy mà người ta còn gọi tiền giấy này là tiền pháp định (Fiat money). Thế nhưng chẳng bao lâu sau khi xuất hiện, do ảnh hưởng của chiến tranh cũng như khủng hoảng kinh tế5, đã nhiều lần tiền giấy bị mất khả năng được đổi ngược trở lại ra vàng (ở Pháp, tiền giấy bị mất khả năng đổi ra vàng vào các năm 1720, 1848 - 1850, 1870 - 1875, 1914 - 1928 và sau cùng là kể từ 1/10/1936 tới nay; ở Mỹ trong thời gian nội chiến, từ năm 1862 - 1863 nhà nước phát hành tiền giấy không có khả năng đổi ra vàng và chỉ tới năm 1879 khi cuộc nội chiến đã kết thúc mới có lại khả năng đó), thậm chí có những thời kỳ cả tiền giấy được đổi ra vàng và tiền giấy không đổi được ra vàng cùng song song tồn tại6. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ còn duy nhất đồng USD là có thể đổi ra vàng, tuy nhiên tới năm 1971, với việc Mỹ tuyên bố ngừng đổi đồng USD ra vàng, sự tồn tại của đồng tiền giấy có thể đổi ra vàng trong lưu thông thực sự chấm dứt. Ngày nay, tiền giấy thực chất chỉ là các giấy nợ (IOU) của ngân hàng trung ương với những người mang nó. Nhưng không như hầu hết các giấy nợ, chúng hứa trả cho người mang nó chỉ bằng các tờ tiền giấy khác7, tức là ngân hàng trung ương thanh toán các giấy nợ này bằng các giấy nợ khác. Và vì vậy, giờ đây, bạn mang tờ 100.000 đ ra ngân hàng người ta sẽ chỉ đổi cho bạn ra các đồng tiền với mệnh giá nhỏ hơn như 20.000, 10.000, 5000 đ chứ không phải là vàng. Khi phát hành tiền giấy thì tiền giấy trở thành tài sản của người sở hữu chúng, nhưng đối với ngân hàng trung ương lại là một khoản nợ về giá trị (hay về sức mua) của lượng tiền đã phát hành ra. Chính vì vậy, khi phát hành ra một lượng tiền bao giờ lượng tiền này cũng được ghi vào mục Tài sản Nợ trong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng Trung ương. Qua nghiên cứu quá trình hình thành tiền giấy, có thể thấy, tiền giấy ra đời với tư cách là dấu hiệu của kim loại tiền tệ (tiền vàng), được phát hành ra để thay thế cho tiền kim loại trong việc thực hiện chức năng tiền tệ nhằm khắc phục những nhược điểm của tiền tệ kim loại. Chính vì vậy, tiền giấy vẫn được sử dụng với giá trị như giá trị tiền tệ kim loại mà nó đại diện mặc dù giá trị thực của nó thấp hơn nhiều. Tờ giấy bạc 10 USD trước năm 1970 mặc dù được in ấn khá công phu trên chất liệu giấy đắt tiền vẫn không thể có giá trị bằng 8,88671g vàng mà nó đại diện. Và với việc in thêm chỉ một con số 0 nữa chúng ta cũng sẽ có một tờ 100 USD với chi phí rẻ hơn nhiều so với 88,8671g vàng mà nó đại diện. Cũng vì thế tiền giấy còn được gọi là tiền tệ dưới dạng dấu hiệu giá trị hay là tiền danh nghĩa (token money). Tiền giấy ngày nay không còn khả năng đổi ngược trở lại tiền tệ kim loại (tiền vàng) như trước nữa. Việc xã hội chấp nhận sử dụng tiền giấy mặc dù giá trị thực của nó thấp hơn nhiều so với giá trị mà nó đại diện là vì tiền giấy được quy định trong luật là phương tiện trao đổi, vì mọi người tin tưởng vào uy tín của cơ quan phát hành (tức NHTW), và vì người ta thấy việc sử dụng tiền giấy là tiện lợi. Thế nhưng một khi mất lòng tin vào cơ quan phát hành, không còn tin rằng NHTW có thể đảm bảo cho giá trị danh nghĩa của tiền giấy được ổn định thì người ta sẽ không sử dụng tiền giấy nữa. Một thực tế là ở nhiều nước, chẳng hạn Việt nam trước kia, do tiền Việt nam mất giá liên tục, người ta đã sử dụng USD để mua bán trao đổi các hàng hoá có giá trị lớn như nhà cửa, xe cộ v.v?. Về lợi ích của việc dùng tiền giấy, có thể thấy: * Việc sử dụng tiền giấy đã giúp cho mọi người có thể dễ dàng cất trữ và vận chuyển tiền hơn. Rõ ràng là các bạn sẽ thích mang theo mình những tờ tiền giấy hơn là những đồng tiền đúc nặng nề sớm muộn sẽ tạo ra những lỗ thủng trong túi của mình. * Tiền giấy cũng có đủ các mệnh giá từ nhỏ tới lớn phù hợp với qui mô các giao dịch của bạn. * Về phía chính phủ, cái lợi thấy rõ nhất của tiền giấy là việc in tiền giấy tốn chi phí nhỏ hơn nhiều so với những giá trị mà nó đại diện và có thể phát hành không phụ thuộc vào số lượng các hàng hoá dùng làm tiền tệ như trước đây. Ngoài ra, chính phủ luôn nhận được khoản chênh lệch giữa giá trị mà tiền giấy đại diện với chi phí in tiền khi phát hành tiền giấy. Ở nhiều nước khoản chênh lệch này đã tạo ra một nguồn thu rất lớn cho ngân sách. Ví dụ: Trước đây, đồng D- Mark được xem là đồng tiền dự trữ quan trọng nhất của thế giới sau đồng đô la Mỹ nên nó được rất nhiều nước dự trữ. Theo một công trình nghiên cứu của Ngân hàng liên bang Đức lúc đó, khoảng từ 30 đến 40% số lượng đồng D-Mark bằng tiền giấy ?ođược lưu hành ở ngoài nước và nằm ngoài hệ thống ngân hàng?. Ở Đông Âu, nhiều công dân đã sử dụng đồng D-Mark như đồng tiền của chính nước mình. Và vì vậy, trong nhiều thập niên, Ngân hàng Liên bang Đức đã cho phát hành rất nhiều tiền giấy, nhiều hơn rất nhiều so với người Đức cần. Việc in đồng Mark đã đem lại một khoản lãi lớn cho Ngân sách Liên bang. Ví dụ: năm 1996, khoản đó là 8,8 tỷ D-Mark. Trong những năm đặc biệt phát đạt, khoản tiền đó chiếm tới 1/5 toàn bộ thu nhập của CHLB Đức. Tiền giấy cũng có những nhược điểm như: không bền (dễ rách); chi phí lưu thông vẫn còn lớn; khi trao đổi hàng hoá diễn ra trên phạm vi rộng (chẳng hạn giữa các quốc gia hay giữa các vùng xa nhau), đòi hỏi tốc độ thanh toán nhanh, an toàn thì tiền giấy vẫn tỏ ra cồng kềnh, không an toàn khi vận chuyển; có thể bị làm giả; dễ rơi vào tình trạng bất ổn (do không có giá trị nội tại và không thể tự điều tiết được số lượng tiền giấy trong lưu thông như tiền vàng). Bên cạnh tiền giấy, ngày nay do sự phát triển của các tổ chức tài chính tín dụng, đặc biệt là của hệ thống ngân hàng, một hình thái tiền tệ mới đã xuất hiện dựa trên những hoạt động của các tổ chức đó. Đó là tiền tín dụng. |
||||||||||
|
||||||||||
|
Banned
Thành viên từ 11:46, 15/08/06
Được cảm ơn 800 lần
|
|
|||||||||
|
Trích:
TTCK đã rớt xuống mức quá hấp dẫn, nhiều cổ phiếu đã xuống mức giá hoàn toàn không tưởng? Các cuộc xả lũ (bán tháo) đã dần qua đi, nay thì bắt đầu xuất hiện trở lại. Lần này được xem là bán những cp còn lại để thu hồi 1 chút vốn để tồn tại, đó là 1 phần kế hoạch trong 3 tháng qua của nhiều CTCK vì danh mục tự doanh của họ đã trở nên h-eo hút. Trước sức cầu gần như tê liện như hiện nay thì mục đích này cũng rất khó thực hiện ồ ạt, dòng tiền chảy vào TTCK gần như khô cạn, các ngân hàng thương mại thờ ơ, các tổ chức tài chính thì đang nín thở, nhà đầu tư cá nhân thì đang vật lộn với cuộc sống, các doanh nghiệp thì đang đối mặt với nguy cơ thiếu vốn lưu động để hoạt động.... Cổ phiếu ư? Nó đã là 1 từ ngữ bị lãng quên và đang bị tẩy chay, "em làm ở CTCK xyz" là sự hãnh diện của các bạn trẻ trong những năm qua thì nay lại là nguy cơ thất nghiệp rất cao? Sự thành công và sự kính trọng của họ đối với nghề ngày dần một ít đi, ngày càng suy giảm... Khi sức cầu tăng lên thì lại có 1 lượng cung tăng lên vừa đủ, đáp ứng thoả mãn nhu cầu mua cổ phiếu ít ỏi như tình hình hiện nay. Ngành tài chính đang phải nín thở cùng bất động sản và cùng chờ ngày mai tươi sáng! Sức cầu mới gần như không có và sẽ rất yếu vì vòng quay tiền trong XH chỉ bằng 1/5 so với trước đây. Trong chuyến thị sát đầu năm Kỷ Sửu của tại hạ thì NH AgriBank cũng rất hạn chế giải ngân cho vay, điều này rất hiếm khi xảy ra trong những năm hưng thịnh trước đây... Các doanh nghiệp (DN) đang phải thực thi tiết kiệm chi phí sx bằng mọi cách để tồn tại, giảm sản lượng, giảm công nhân... nhưng không giảm giá bán sản phẩm!!! Trong khi thu nhập người lao động không tăng lên thì việc kích thích tiêu dùng là không thể vì đa phần người lao động đã sống rất tiết kiệm (trừ những người có thu nhập cao) nên việc kích cầu tiêu dùng với đối tượng này gần như là không thể vì hầu hết các mặt hàng phục vụ cuộc sống tối thiểu là không giảm mà đang có chiều hướng tăng lên so với cùng kỳ năm ngoái. Họ còn phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm trong năm nay, như vậy đối tượng kích cầu tiêu dùng của chính phủ sẽ chỉ trọng tâm vào đối tượng người có thu nhập cao hay là nông dân? Nông dân thì lại càng không thể, người thu nhập cao thì tỷ lệ này khá thấ? Cách làm phù hợp nhất hiện nay của chính phủ có lẽ là phải tiết giảm ngay các mặt hàng thiết yếu ví dụ như: Gạo, thịt, cá... làm như vậy người lao động sẽ có thặng dư và họ sẽ tiêu sài cho những nhu cầu khác. Nhưng nếu giảm gạo, thịt, cá... thì người nông dân lại là người thiệt thòi như vậy phải giảm ngay nguyên vật liệu phục vụ vật nuôi - cây trồng, nhưng nếu như thế thì lại ảnh hưởng đến DN sx các mặt hàng phục vụ cho nông nghiệp (phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc...)... Qua đó cách nhìn trên chúng ta thấy cần hỗ trợ các DN sx các mặt hàng phục vụ cho nông nghiệp, điều này sẽ làm ngòi nỏcho quả bom kích cầu tiêu dùng của chính phủ, chỉ có thặng dư thì người dân và DN mới tiêu sài? Hơn nữa nền KT của VN chủ yếu chỉ dựa vào nông nghiệp, rất nhiều các sản phẩm xuất khẩu lại là của ngành nông nghiệp. Hãy kích đầu tư vào nông nghiệp sẽ tạo ra chuỗi phản ứng lan truyền cấp số nhân... Kích đầu tư vào bất động sản là một phiêu lưu khó có thể kiểm soát được rủi ro, mà đối tượng hưởng lợi trực tiếp và nhiều nhất vẫn là những người có thu nhập cao (tỷ lệ rất ít trong XH) cách này là cách xử lý từ ngọn xuống gốc. (còn tiếp) stockpro |
||||||||||
|
||||||||||
|
Banned
Thành viên từ 11:46, 15/08/06
Được cảm ơn 800 lần
|
|
|||||||||
|
Chi phí cho 1 sàn nhỏ đạt chuẩn của UBCK thì cũng chỉ cỡ 500 tr/tháng, một CTCK vừa vừa thì chi hết cỡ gần 2tỷ/tháng (có khoảng 3 văn phòng chính). Nếu đem chi phí này nhân cho 12 tháng thì cũng chỉ ngốn hết khoảng cỡ 20 tỷ/năm; đây là chi phí duy trì hoạt động. Nhưng nên nhớ 1 doanh nghiệp chỉ tính đến việc sống là đang làm cho mình chết. Có người nói CTCK đang rất nhiều tiền, theo tôi nghĩ họ đang chuẩn bị 1 số các dịch vụ mà ai cũng biết đó là repo và cầm cố cp, cho vay mượn cp hay tiền để kinh doanh CK... Nếu các CTCK vừa mới cutloss CK xong và lại mua CK thì hoá ra họ đang bán máu của mình để nuôi chính họ sao? Chiến lược này sẽ giết chết họ?
Việc huy động, lôi kéo thêm người tham gia vào TTCK trong thời gian qua luôn đạt kỷ lục âm... Trong tình thế làm ăn bi đát về mặt dịch vụ CK như hiện nay do giao dịch và các dịch vụ cộng thêm đều gần như đóng băng thì việc bán CK trong danh mục tự doanh là việc bất khả kháng. Những cuộc bắt tay không thành của nhiều tai to nước ngoài và các CTCK từ vài tháng qua cho thấy việc M&A không còn là cách thoát hiểm hiệu quả nữa. Duy trì sự sống đối với CTCK thì quá dễ nhưng nếu làm theo cách trên (lấy vốn để duy trì hoạt động) thì họ (các CTCK) đang phải xẻ thịt của mình để ăn (sài vào vốn góp của mình), đây cũng là một cách tự sát? Cũng giống như các đợt bán tháo trước đây, chúng ta cần tỉnh tảo để tìm điểm cân bằng cung = cầu, lúc đó ta sẽ có mức giá trao đổi cp chấp nhận từ thị trường. Nhưng hiện nay sức cung vẫn lớn hơn cầu nên có thể nói là vẫn còn tiếp tục down, lịch sử cũng đã chứng minh điều này. |
||||||||||
|
||||||||||
|
Banned
Thành viên từ 11:46, 15/08/06
Được cảm ơn 800 lần
|
|
|||||||||
|
Phải đối đầu với hậu "Kích cầu của Thế Giới"?
Hàng nghìn tỷ đô-la được rải khắp các quốc gia trên thế giới nhằm kích cầu tiêu dùng, giải quyết hàng tồn kho của các siêu tập đoàn sản xuất đa quốc gia. Tình cảnh ế ẩm, không tiêu thụ đường hàng đã làm cho các tập đoàn này không còn bình tĩnh được nữa, họ bắt đầu thu lỗ và cắt giảm chi phí, xa thải công nhân, ngừng sản xuất 1 thời gian ... Nhưng hình như những cách này vẫn chưa cho thấy sự hiệu quả đáng kể nào. Bước tiếp theo có thể hình dung ra rằng họ sẽ phải tiếp tục giảm giá mạnh sản phẩm của mình nhằm thu hồi vốn vì khi nhận gói hỗ trợ của chính phủ thì các tập đoàn cũng cam kết tạo ra những công việc mới nhiều hơn, do vậy những sản phẩm thay thế (giá rẻ) sẽ bắt đầu xuất hiện trên thị trường tiêu dùng, người ta sẽ làm cho nhiều sản phẩm rẻ đi, dùng nguyên vật liệu thay thế giá rẻ, tiết giảm chi phí... Như vậy, sắp tới sẽ có dòng sản phẩm tương tư nhưng giá sẽ rất rẻ ồ ạt trên khắp thị trường thế giới. Các Doanh Nghiệp VN đã bắt kịp xu hướng này của thế giới hay chưa? Sự cạnh tranh các sản phẩm thay thế giá rẻ sẽ bắt đầu sôi động trong những tháng tới nhằm chiếm lĩnh thị phần, khách hàng tiêu dùng... Các DN sx không nên chủ quan và cũng nên có sách lược đối phó. Người tiêu dùng trên khắp thế giới sẽ được hưởng lợi khá nhiều từ những gói kích thích kinh tế ấy. Gói chống suy giảm kinh tế cũng cần phải tính đến yếu tố này vì thế giới đang vận động rất rất nhanh. (còn tiếp) stockpro |
||||||||||
|
||||||||||
|
Banned
Thành viên từ 11:46, 15/08/06
Được cảm ơn 800 lần
|
|
|||||||||
|
Bao giờ cho tới ngày xưa?
Ngày xưa, nhà đầu tư được xem như là 1 nghề, 1 nghề mà nhiều người chấp nhận và vô cùng hấp dẫn. Ngày nay, thì hoàn toàn ngược lại, đã từ lâu rồi TTCK VN đã không còn những phiên giao dịch kỷ lục, khi đó mua được cổ phiếu gần như là may mắn. Vấn đề chứng khoán xuất hiện hầu hết trên các mặt báo giấy còn bây giờ thì chỉ còn những bài viết trên những trang báo điện tử. Ngày xưa, thành phần tham gia CK vô cùng rộng lớn hầu hết là các thành phần kinh tế: quĩ đầu tư, tổ chức tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp, cá nhân... trong và ngoài nước. Người tham gia vào CK đã tăng một cách đột biến khiến cho hệ thống giao dịch CK của HOSE đôi lúc có những trục trặc, nhiều CTCK không thể đáp ứng nhu cầu đặt lệnh của khách hàng, tiền chảy vào trong đầu tư CK như là dòng nước mùa lũ. Trong một thời gian khá ngắn TTCK VN đã phải chứng kiến việc nhiều cty trên và ngoài sàn lập các cty Ck (là những cty con hoặc liên doanh), để xoá bỏ đisự khó khăn trong giao dịch, tình trạng giao dịch khó khăn đã không còn xuất hiện, nhiều nhà đầu tư đã không còn 1 cái cảm giác là đặt lệnh như không biết mình có khớp được hay không? Đã qua rồi cái ngày xưa đó nhưng cũng phải công nhận TTCK VN có nhiều nuối tiếc đáng buồn, việc TTCK xây dựng trên nền tảng công nghệ yếu đã lấyđi những cơ hội, phiện muộn cho không ít nhà đầu tư. Riêng về đối tượng sở hữu cổ phiếu cũng là vấn đề đáng bàn, nhiều DN trên sàn sở hữu ck chồng chéo lẫn nhau, như thế sự ảnh hưởng dây chuyền nếu có 1 DN lớn nào gặp khó khăn thì sự suy giảm sẽ kéo theo hàng loạt những DN khác cùng bị ảnh hưởng về mặt phải trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán, điều này làm suy giảm lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh... Chính vì lý do này mà hàng loạt các CTy Niên Yết đã rơi vào tình trạng khó khăn vì khoản đầu tư tài chính và trên thị trường giá cổ phiếu của chính bản thân cty đã rơi thảm hại làm ảnh hưởng đến việc tài trợ vốn cho hoạt động đầu tư phát triển và duy trì sản xuất. Khi thị trường gặp khó khăn họ (các DN) đành bán đi những ck họ sở hữu, điều này làm cho TTCK liên tục lao dốc, trong năm qua đã có những cuộc đại thanh lý cp dạng như trên... Điều này có còn tiếp tục diễn ra nữa hay không? Chúng ta đang phải đối mặt với những vấn đề khó khăn này ngoài những khó về kinh tế nói chung. Sự nuối tiếc thấy rõ trên những gương mặt những nhà đầu tư tạm rời xa sàn chứng khoán, những người còn lại tiếp tục hy vọng "Bao giờ cho đến ngày xưa" (còn tiếp) stockpro |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên rất tích cực
Thành viên từ 19:42, 02/06/03
Được cảm ơn 18 lần
|
|
|||||||||
|
nhờ mod xóa hộ
Được sunny_boy sửa chữa / chuyển vào 02:06 ngày 14/02/2009 IQ is not everything but it sets limits.
|
||||||||||
|
||||||||||
|
||