|
|
|
|
|
| Chủ đề: Phân tích cơ bản - Back to BASIC - Kinh nghiệm thương trường |
| Tác giả | Chủ đề này đã có 150024 lượt đọc và 420 bài trả lời |
|---|
|
Thành viên rất tích cực
Thành viên từ 09:56, 10/09/07
Được cảm ơn 6 lần
|
|
|||||||||
|
Topic về PTKT lại dở hơi đưa nhận định phân tích vĩ mô vào làm gì,lạc đề
Về mặt phân tích kỹ thuật của VN-index cho thấy xu hướng uptrend đang hình thành và thời gian kết thúc của nó nhanh nhất cũng là tháng 10/2009 trong quá trình đó rung lắc,lên xuống và điều chỉnh là không tránh khỏi==>tránh bán ra do tâm lý Về dòng tiền vào thị trường thì đừng nên có câu hỏi ngớ ngẩn là tiền từ kích cầu chảy sang,không có nhiều đâu.Nhìn vào giao dịch trong 2 tháng qua cho thấy tiền của ĐTNN,tổ chức trong nước và 100% tiền trên tài khoản của đầu tư nhỏ lẻ chứ không có tiền vay mượn để đầu tư chứng khoán đâu==>Yên tâm là niềm tin và kỳ vọng thời gian tới còn dài và lớn lắm |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 11:46, 15/08/06
Được cảm ơn 564 lần
|
|
|||||||||
|
Trích:
Vì thế nhà đầu tư nên lưu ý và thận trọng trong quyết định mua bán của mình! |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên mới
Thành viên từ 22:43, 17/07/09
Được cảm ơn 3 lần
|
|
|||||||||
|
Topic này hữu ích quá !!!
![]() |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 11:46, 15/08/06
Được cảm ơn 564 lần
|
|
|||||||||
|
Vượt qua khủng hoảng tài chính & suy thoái kinh tế
Linh Vũ Thể thao văn hóa & đàn ông Làm thế nào để vượt qua khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, như đã từng xảy ra ở các nước Châu Á thời điểm 1997-1999 và hiện đang xảy ra tại Mỹ? Trong phạm vi bài báo này người viết sẽ điểm qua bài học kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc vượt qua khủng hoảng và suy thoái trên con đường phục hồi kinh tế. Khủng hoảng tài chính Khủng hoảng tài chính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá so với cung tiền. Nhu cầu về tiền mặt của người dân hay các nhà đầu tư nước ngoài gây ra sức ép đối với hệ thống Ngân hàng và thị trường tài chính, khiến cho hệ thống Ngân hàng và thị trường chứng khoán có thể sụp đổ. Khi điều này xảy ra thì nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng suy thoái, thất nghiệp tăng và phải trải qua một thời kỳ khó khăn để có thể điều chỉnh. Trong kinh tế thế giới hiện đại, tính lây lan (contagion) của khủng hoảng tài chính cũng là một hiện tượng thường thấy. Khủng hoảng tài chính cũng thường đi kèm với suy thoái kinh tế kéo dài. Nhiều nhà kinh tế đã đưa ra các giả thuyết khác nhau lý giải nguyên nhân khủng hoảng tài chính và các giải pháp cần thiết nhưng nói chung vẫn chưa có được một sự thống nhất ý kiến. Trong một mô hình đơn giản tại một nền kinh tế đóng, có thể hình dung con đường dẫn tới khủng hoảng như sau. Khi kinh tế tăng trưởng và lợi nhuận tăng, các hãng tin rằng lợi nhuận kỳ vọng sẽ cao và họ có thể trả được nợ không khó khăn gì. Các hãng tăng cường vay nợ để đầu tư và nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng. Về phía các Ngân hàng, họ cũng tin rằng họ sẽ thu lại được vốn vay nên tiếp tục cho vay mà ít quan tâm tới hiệu quả đầu tư của các hãng. Quá trình đó diễn ra theo hình xoắn ốc mà các nhà kinh tế coi là phương án Ponzi (Ponzi scheme). Kết quả là các khoản đầu tư ngày càng rủi ro và ít có lãi - ví dụ các khoản đầu tư có tính đầu cơ vào thị trường bất động sản - cho tới khi một số hãng phá sản và không trả được nợ, kéo theo khủng hoảng thanh toán cho các Ngân hàng. Trong bối cảnh nền kinh tế mở thì con đường dẫn tới khủng hoảng tài chính còn phức tạp hơn trong đó vai trò của chính sách tỉ giá hối đoái, các khoản đầu tư vốn ngắn hạn, hiệu ứng tâm lý đám dông, ảnh hưởng lây lan từ các nền kinh tế khác? đóng góp khiến các quốc gia càng trở nên dễ bị tác động bởi khủng hoảng tài chính. Vượt qua khủng hoảng lài chính và suy thoái kinh tế - kinh nghiệm các nước. Cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất trong vòng 20 năm qua xảy ra ở Châu Ávào năm 1997 và kéo dài cho tới năm 1999 mới bắt đầu có dấu hiệu hồi phục kinh tế ở các quốc gia bị ảnh hưởng. Điểm đặc biệt của cuộc khủng hoảng này là ở tính lây lan nhanh chóng của nó. Không mất nhiều thời gian từ khi khủng hoảng xảy ra ở Thái Lan vào mùa hè năm 1997 cho tới khi nó nhanh chóng trở thành một hiện tượng lây lan loàn cầu ở các nền kinh tế mới nổi ở Châu Á và cả ở những châu lục khác như Nga và Mỹ Latinh. Tại Thái Lan, khủng hoảng xảy ra khi đồng baht của Thái Lan bị đổ vỡ sau quyết định thả nổi tỷ giá hối đoái của Chính phủ Thái Lan sau một thời gian dài "neo" đồng baht với đồng đôla Mỹ để khuyến khích xuất khẩu (do tỷ giá hối đoái ổn định và có lợi cho các nhà xuất khẩu). Thời gian trước khi xảy ra khủng hoảng, Thái Lan đã vay nợ nước ngoài rất nhiều với nhiều khoản đầu tư thiếu hiệu quả trên thị trường bất động sản và tăng trưởng dựa trên những nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường chứng khoán. Dự đoán trước khả năng kinh tế Thái Lan sụp đổ, các nhà đầu tư ngắn hạn nước ngoài nhanh chóng rút các khoản vốn ra khỏi nước này khiến hệ thống tài chính - tiền tệ của Thái Lan càng nhanh chóng sụp đổ. Đồng baht mất giá nhanh chóng khiến thu nhập từ xuất khẩu giảm mạnh trong khi gánh nặng nợ nước ngoài tăng trầm trọng. Các quốc gia khác trong khu vực cũng chịu ảnh hưởng lây lan khi các nhà đầu tư rút vốn ở các thị trường này, khiến cho thị trường chứng khoán và tỷ hối đoái đều tụt dốc không phanh, ảnh hưởng nặng nề nhất ngoài Thái Lan là Indonesia, Hàn Quốc, và trong chừng mực ít hơn là Malaysia, Hong Kong và Philippines. Thái Lan và Hàn Quốc với hỗ trợ của IMF Để đối phó với khủng hoảng, Thái Lan kêu gọi sự giúp đỡ của các Tổ chức tài chính quốc tế Tháng 8/1997, IMF cứu viện Thái Lan bằng hai gói hỗ trợ kinh tế với giá trị hơn 20 tỉ đôla với các điều kiện như thông qua luật quy định phá sản, tái tổ chức và cấu trúc Công ty, thiết lập các khung giám sát mạnh mẽ hơn đối với Ngân hàng và các Tổ chức tài chính. Thái Lan thực hiện các yêu cầu này và trải qua một qúa trình cực nhọc trong khôi phục kinh tế. Nước này tiến hành những cải cách quan trọng trong hệ thống Ngân hàng tài chính. Như tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng lên tới 45% vào năm 1998 thì năm 2006, tỷ lệ này chỉ chừng 3 - 4% (số liệu của IMF). Tuy nhiên chính sách khắc khổ dựa trên cơ sở những lời khuyên của IMF gây ra những phản ứng mạnh mẽ trong người dân trước tình trạng thất nghiệp và suy thoái kinh tế lan tràn. Năm 2001, Thủ tướng mới Thaksin đắc cử đưa ra hàng loạt các chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế bằng cách khuyến khích sản xuất và tiêu dùng nội địa, đồng thời giảm sự phụ thuộc và các nguồn vốn và thương mại nước ngoài. Những chính sách này được biết đến với cái tên Thaksinomifcs đã góp phần đưa Thái Lan hồi phục và tăng trưởng kinh tế trở lại trong giai đoạn 2002 - 2004. Tuy nhiên từ năm 2005, dưới áp lực của giá dầu cao và các khó khăn khác như hạn hán, lũ lụt và bất ổn chính trị, nền kinh tế Thái Lan lại gặp lại những khó khăn trong tăng trưởng kinh tế cho tới nay, nhất là sau vụ đảo chính quân sự Thủ tướng Thaksin năm 2006. Tương tự Thái Lan, Hàn Quốc là nước bị ảnh hưởng nặng nề bởi khủng hoảng tài chính và đã nhờ sự giúp đỡ của IMF. Nhưng khác với Thái Lan, các nền tảng kinh tế của Hàn Quốc khá vững chắc và không xảy ra hiện tượng bong bóng bất động sản với các khoản đầu cơ ngắn hạn như ở Thái Lan. Hàn Quốc cũng có những khó khăn của riêng mình đó là ở sự thiếu hiệu quả và đầu tư tràn lan sang nhiều ngành nghề khác nhau của tác chaebol - các Tập đoàn công nghiệp tài chính ở nước này dẫn tới tỷ lệ nợ xấu cao trong hệ thống Ngân hàng. Tuy nhiên, nếu không xảy ra khủng hoảng ở Thái Lan và ảnh hưởng lan tràn tới khu vực thì có lẽ Hàn Quốc đã không rơi vào tình trạng khủng hoảng nặng nề như vậy. Sau khi Thái Lan xảy ra khủng hoảng, các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vôn khỏi khu vực, trong đó có Hàn Quốc khiến thị trường chứng khoán sụt thê thảm và nhiều Công ty phá sản. Chính phủ Hàn Quốc đối phó với khủng hoảng bằng cách để đồng Won xuống giá một nửa (từ 1700 won cho một đôla xuống còn 800 won cho một đôla) và chấp nhận gói viện trợ gần 60 tỷ đôla của IMF. Chính quyền của Tổng thống Kim Dae Jung lên cầm quyền năm 1998 trong thời điểm khủng hoảng và đã tiến hành các cải cách kinh tế mạnh mẽ hướng tới một nền kinh tế mở, có tính thị trường, cắt bỏ các khoản trợ cấp dưới một hình thức cho các Tập đoàn chaebol. Quan trọng trong các hệ thống chính sách này có thể kể đến việc tái cấu trúc các Tập đoàn này theo hướng lập trung vào những ngành kinh doanh hiệu quả và bán lại các lĩnh vực kinh doanh thiếu hiệu quả cho các Công ty khác cả trong nước và nước ngoài, giải thể các Tập đoàn làm ăn thua lỗ (trong đó có cả Tập đoàn lớn thứ hai Hàn Quốc là Daewoo), đóng cửa các Ngân hàng thiếu hiệu quả. Sự uyển chuyển trong việc phối hợp hành động với các tổ chức quốc tế đồng thời khuyến khích nhân dân cùng chịu đựng khó khăn như các thỏa thuận với công đoàn cho phép giới chủ thải hồi bớt lao động? cũng góp phần đưa nước này nhanh chóng hồi phục. Hai năm sau khi khủng hoảng xảy ra, Tổng thống Kim Dae-Jung tuyên bố khủng hoảng đã kết thúc vào tháng 12/1999. Tăng trưởng kinh tế đạt 10% năm 1999 và 9% năm 2000 và ở mức ổn định đáng kể 5 - 6% trong thời gian gần đây. Hiện nay, thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc đã tăng gấp ba lần so với thời điểm năm 1997. Trong vài chục năm trước đây, khủng hoảng tài chính thường ở dưới hình thức khủng hoảng hệ thống Ngân hàng (banking crisis). Tuy nhiên, kể từ khi hệ thống tỉ giá hối đoái cố định giữa các nước phát triển theo hiệp ước Bretton-Wood không còn được áp dụng thì nhiều cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra dưới hình thức khủng hoảng tiền tệ (curency crisis), trong đó có sự suy giảm nghiêm trọng giá trị đồng nội tệ, ví dụ Mexico 1994, Đông và Đông Nam Á 1997-1998. Cách thức các quốc gia đối phó với khủng hoảng và suy thoái không phải lúc nào cũng như nhau, và với cùng một tập hợp biện pháp, hiệu quả có thể sẽ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể. Malaysia và các biện pháp kiểm soát vốn Nếu như Thái Lan và Hàn Quốc ứng xử với khủng hoảng bằng cách kêu gọi sự giúp đỡ của IMF và tiến hành các biện pháp được IMF khuyến khích thì Malaysia lại hành động không theo thông lệ. Khi khủng hoảng bắt đầu lan ra, Malaysia là một trong những nước bị hiệu ứng "lây lan" tác động mạnh nhất. Thị trường chứng khoán Kham Lumpur giảm từ 1300 điểm xuống còn 400 điểm chỉ trong vài tuần, trong khi đồng ringgit của Malaysia cũng sụt giá từ mức 2,5 ringgit một đôla xuống mức 4,8 ringgit một đôla. Thay vì thả nổi đồng liền và kêu gọi sự giúp đỡ của IMF (cùng các điều kiện bắt buộc đi kèm) như ở Thái Lan, Hàn Quốc, và Indonesia, Malaysia quyết định cố định đồng ringgit với đồng đôla theo tỷ giá 3,8 ringgit cho một đôla, đồng thời cấm chuyển vốn ra nước ngoài trong một thời hạn nhất định, và từ chối viện trợ của IMF. Các hiện pháp này có lẽ đã giúp Malaysia tránh rơi vào tình trạng tụt dốc không phanh như ở các nước láng giềng. Tuy vậy GDP của Malaysia cũng giảm mạnh 7,% vào năm 1998 dù trong năm 1999, tăng trưởng đã trở lại với mức 5,6%. Cùng với các biện pháp kiểm soát vốn và cố định tỷ giá, chính phủ Malaysia tiến hành những chương trình chi tiêu rất lớn trong các năm sau đấy để khuyến khích hồi phục kinh tế. Song song với các biện pháp vĩ mô nói trên, Malaysia cũng tiến hành cải cách doanh nghiệp và hệ thống lài chính, tăng cường giám sát các Ngân hàng. Cho tới năm 2005, Malaysia bãi bỏ chính sách tỷ giá cố định để theo đuổi chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý. Trước đó các chính sách kiểm soát vốn cũng đã được dỡ bỏ. Tới thời điểm hiện nay, kinh tế Malaysia tỏ ra khá ổn định và lành mạnh trong việc hấp thụ các khó khăn của nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu thời gian qua. Khủng hoảng DOT-COM và khủng hoảng nhà ở tại Mỹ Cuộc sụp đổ bong bóng dot-com ở Mỹ năm 2000 lại là một cuộc khủng hoảng xảy ra do cơn sốt trên thị trường chứng khoán với các Công ty kinh doanh trên Internet thường được gọi chung là các Công ty dot-com. Cổ phiếu của các Công ty này thường do các Công ty vốn mạo hiểm (tiếng Anh gọi là venture capitalist) đầu tư. Trước tình hình thành công mau chóng của một số Công ty kinh doanh trên Internet như yahoo, Google, Amazon? đã tạo thành làn sóng đầu tư vào các Công ty dot-com, khiến cổ phiếu các Công ty này tăng với tốc độ chóng mặt và các nhà đầu tư vốn trở nên thiếu thận trọng trong việc lựa chọn nơi đầu tư vốn. Ngày 10/3/2000, bong bóng dot-com ở đỉnh cao thị chỉ số tổng hợp NASDAQ lên tới 5048 điểm, tăng hơn hai lần so với một năm trước đó. Ngay ngày thứ hai tuần sau đó xảy ra sự bán tống cổ phiếu với trị giá hàng tỷ đôla từ các đại Công ty như Cisco, IBM, Dell? khiến cho cả thị trường chao đảo và gây ra chuỗi dây chuyền bán tháo trong các nhà đầu tư. Đến ngày 15/3/2000 thì chỉ số NASDAQ chỉ còn 4580 điểm. Quá trình đi xuống này diễn ra liên tục và cho tới năm 2001 thì bong bóng xịt hẳn và rất nhiều Công ty dot- com phá sản. Cuộc khủng hoảng dot-com dẫn tới suy thoái kinh tế ở Mỹ trong một thời gian ngắn (quý I năm 2000 khi cú xịt dot- com bắt đầu xảy ra, quý I và quý III năm 2001). Nhưng khi khủng hoảng dot-com kết thúc thì cũng là lúc châm ngòi cho một bong bóng mới - bong bóng bất động sản ở Mỹ như là một lối ra cho các nhà đầu tư. Bong bóng này diễn ra từ năm 2001- khi bong bóng dot-com đang vỡ - cho tới khi xảy ra khủng hoảng bất động sản vào năm 2007. Bong bóng bất động sản và năm 2008 đã châm ngòi cho việc nước Mỹ bước vào suy thoái từ quý I năm 2008 và có khả năng dẫn tới một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu trong năm nay. Đối phó với khủng hoảng, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên lục cắt giảm lãi suất và hỗ trợ thanh khoản cho các Ngân hàng qua các nghiệp vụ thị trường mở, và cho các Ngân hàng vay ngắn hạn nhằm bảo đảm sự tiếp tục hoạt động của hệ thống Ngân hàng, tránh khả năng một cuộc đổ vỡ trong hệ thống tài chính. Gần đây, tháng 3/2008, Fed cũng hỗ trợ vốn và đứng ra bảo đảm để Công ty tài chính J.P.Morgan Chase mua lại Bear Steams, một tổ chức tài chính sở hữu nhiều chứng khoán cầm cố bất động sản, để tránh việc bán tháo các chứng khoán bất động sản và sự sụp đổ hoàn toàn thị trường này. Chính phủ Bush cũng đưa ra các biện pháp để hỗ trợ những người vay tiền mua nhà nhằm giảm bớt số trường hợp nhiều người mua nhà không thể trả được nợ Ngân hàng. Trong phạm vi cả nền kinh tế, Chính phủ Bush đưa ra gói chính sách kinh tế với giá tỷ đôla nhằm khuyến khích tăng trượt tế và đưa nước Mỹ ra khỏi tình trạng thoái hiện nay. Như vậy, trong khủng hoảng tài Châu Á, Thái Lan và Hàn Quốc có các phản ứng chính sách tương tự nhau nhưng kinh tế Hàn Quốc đã phục hồi nhanh chóng hơn hẳn Thái Lan do các điều kiện kinh tế ban đầu của nước này vững vàng hơn nhiều, và cũng do nước này có sự ổn định chính trị và nhất trí trong toàn dân cao hơn Thái Lan. Trong khi đó, Malaysia lại có những biện pháp đối phó khác hẳn các nước khác, khi tự tách mình ra khỏi hệ thống tài chính thế giới trong một thời gian, nhằm tạo ra cho nền kinh tế một "khoảng nghỉ" để có thể tiến hành các cải cách kinh tế cần thiết. Biện pháp này được một số nhà kinh tế đánh giá cao, chẳng hạn như nhà kinh tế được giải Nobel Joseph Stiglitz, nhưng cũng khiến nước này bị giới đầu tư thế giới dè chừng, e ngại hơn. Nhưng điểm chung nhất trong các biện pháp ứng phó của các quốc gia trước khủng hoảng có lẽ là ở sự rà soát kỹ càng hệ thống tài chính, lành mạnh hóa hệ thống này để chúng có thể ứng phó được với những biến động không đáng mong muốn của thị trường. Nguồn: Thể thao văn hóa & đàn ông |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 11:46, 15/08/06
Được cảm ơn 564 lần
|
|
|||||||||
|
Trong lý thuyết của casino, kẻ thua bạc rời khỏi sòng thì đó là cái may mắn cho người chủ sòng bạc, các con bạc còn lại có tỷ lệ cơ hội thắng bạc lớn tăng lên. Tương tự như thế kẻ thua cuộc ở TTCK Việt Nam ra đi là chúng đang bán phần lỗ của mình cho người khác tức là nếu chúng ta đầu tư ngay tại thời điểm này thì chúng ta đã triệt tiêu phần rủi ro của thằng thua cuộc bỏ ra đi.
Chúc các bạn cuối tuần vui vẻ |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên rất tích cực
Thành viên từ 09:56, 10/09/07
Được cảm ơn 6 lần
|
|
|||||||||
|
Mỗi một chu kỳ khủng hoảng là một cơ hội cho một nền kinh tế cơ cấu lại,tự nhìn nhận lại chính mình để trong tương phát triển bền vững hơn với rủi ro ngày càng giảm đi.Nói hẹp hơn như trong chứng khoán nếu không rơi từ 1xxx về 235 thì lấy đâu ra một lớp các nhà đầu tư mới hoành tráng với sức giao dịch mãnh liệt như 6 tháng vừa qua,nếu như liên tục trên đỉnh 1xxx thì những đại gia không làm gì,không học tập nâng cấp trình độ mãi là đại gia sao.Do đó có thể nói trong khủng hoảng chứng khoán vừa rồi là cơ hội đối với những nhà đầu tư mới cũng như là cơ hội để những người sống xót qua năm 2007 phải nâng cấp cả về kinh nghiệm cũng như trình độ lên cao hơn mới mong tồn tại và phát triển được trong tương lai
Nói chung không nên gán chứng khoán với cờ bạc vì 2 cái đó chỉ giống nhau 10% thôi còn đến 90% là khác nhau,khác nhau hoàn toàn.Chứng khoán hay hơn cờ bạc,hiệu quả và an toàn hơn cờ bạc nhiều do đó không nên so sánh hoa hậu chứng khoán với con cave đứng đường là cờ bạc |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên tích cực
Thành viên từ 14:41, 03/05/09
Được cảm ơn 1961 lần
|
|
|||||||||
|
Mỗi nhà đầu tư nên tự phân tích và đánh giá cty mà mình dự định đầu tư trước. Phân tích dựa trên vốn pháp định, giá trị thị trường, khả năng sinh lợi của cty trong vài năm tới (hướng tới tương lai), mức độ trong sạch (transparency) trong công bố thông tin, khả năng & đạo đức của ban điều hành.... Mức đầu tư theo thang điểm 1-10. Mức 10 điểm là mức mà đầu tư không có rủi ro (hệ số rủi ro =0). Nhưng ông bà ta thường nói: ?oĐiều gì tốt đẹp quá không thể tin được thì thực tế là không tồn tại!?, do đó điểm 10 không tồn tại. Nếu có cty nào 10 điểm thì cũng đừng nên đầu tư vào vì có lẽ một ngày nào đó cty đó sẽ không tồn tại (thà sai lầm bỏ qua cơ hội còn hơn là mình chết vì nó-thà ta phụ nó còn hơn để nó phụ ta). Mức độ đạo đức của các tay trong hội đồng quản trị & ban điều hành có tỉ trọng khá lớn trong quyết định đầu tư. Các báo cáo từ Cẩn thận* với cty có cổ đông cá nhân (chủ tịch, tổng giám đốc hay kiêm cả hai) & người nhà của cá nhân đó nắm giữ hơn 51% (chi phối). Gương của Bông Bạch Tuyết cho thấy chỉ phần vốn nhà nước có 30% mà đã gây ra bao nhiêu khó khăn cho kế hoạch tái cấu trúc cty (hộp tới họp lui, cãi nhau qua lại cũng bởi tại có một thằng nắm giữ nhiều quá-mà ban điều hành đưa giải pháp nào nó cũng lắc đầu hết trọi). Khi một cá nhân & gia đình nắm giữ chi phối hơn 51%, thì điều đó đồng nghĩa với các kế hoạch, phương hướng, chính sách? của cty được xây dựng có lẽ là dựa vào ý kiến của cá nhân đó và chủ yếu phục vụ cho mục đích hay suy nghĩ của cá nhân đó. Khi đường lối, chính sách và thậm chí là vận mạng của cty (tiền mình đầu tư) chỉ phụ thuộc vào một người thì quá rủi ro (đau ốm, tai nạn, quyết định sai lầm-con người chứ có phải là thánh đâu mà cái gì làm cũng đúng, quyết định theo tình cảm cá nhân?). Đừng nên so sánh với Cẩn thận* với cty mà lâu lâu các thành viên ban điều hành hay ban quản trị gây sốc cho dư luận bằng cách chơi ngông (kiểu phạm húy ngày xưa vậy). Trong một số trường hợp thì đối với nhà đầu tư Châu Âu, Cẩn thận* với các cty mà ngành nghề kinh doanh dựa hơi quá nhiều vào các chính sách của chính quyền hay cá nhân uy quyền nào đó (hay kiểu COCC). Có thể cty thu lợi nhuận cao trong một thời gian nhờ chính sách (khi hơi hám còn) nhưng khi chính sách thay đổi (khi hơi hám hết) thì nhiều khi chết không kịp ngáp (mà chính sách ở VN thì thay đổi liên u tù tì không dứt, cái sau đá cái trước, bộ này đá bộ kia). Cẩn thận* với các cty mà thành viên ban quản trị, kiểm soát hay ban điều hành (hay người nhà, vợ con của họ) bán cổ phiếu liên tục và số lượng lớn. Đặc biệt thận trọng cho cty mà cổ đông sáng lập bán cổ phiếu dưới bất kỳ lý do gì (ngoại trừ lý do chuyển nhượng hay tặng cho con em, vợ, bố mẹ, trường học). Chi tiêu cá nhân ư? Tiền lương, thưởng hàng năm đâu, tiền chia cổ tức đâu mà phải bán cổ để chi tiêu? Ví dụ: cty vốn pháp định cở 500 tỉ thôi, nếu cổ đông sáng lập chiếm chỉ 3% cổ phần, mổi năm chia cổ tức 10% tiền mặt và phần còn lại bằng cổ phiếu. Với 10% cổ tức ~ 1.5 tỉ chứ chả ít ỏi gì. Lấy vốn mở cty khác chăng? Nếu cty hiện tại đang ăn nên làm ra, tỉ xuất lợi nhuận cao, giá trị cổ phiếu có cơ tăng cao thì tại sao họ rút vốn để mở cty khác? Với các cổ đông sáng lập, cty là đứa con rứt ruột đẻ đau của họ thì khó có thể biện minh cho những lý do vớ vẩn để họ cắt thịt con mình ra bán. Nếu họ đã thực sự cắt thịt con mình ra bán thì chắc chắn cty đang có vấn đề hay đạo đức của họ có vấn đề (bán đi một mớ rồi rủ nhau lấy tên cty mẹ thành lập cty con khác mà trong đó cty mẹ chỉ nắm có tí xíu hà-nếu như cty mới có lợi nhuận lớn thì cổ phần hóa rồi bán thu gấp bội, nếu cty mới èo uột quá thì sang tay lại cho cty mẹ với giá ban đầu kiểu đại học FPT). Nếu như chỉ một hay 2 người trong ban quản trị, ban kiểm soát hay ban điều hành bán cở vài K đến vài chục K thì còn có thể lý giải là họ cần ít tiền chi tiêu cá nhân, chứ hàng loạt cô chú bác nhà nó mà bán vài chục K, hết lần này đến lần khác thì chắc là có vấn đề. Có những cty mà cổ đông sáng lập (nằm luôn ban quản trị, ban điều hành) bán liên u tù tì, mổi đợt vài trăm K (trị giá thị trường vài chục tỉ trở lên) rồi lý giải cho chi tiêu cá nhân, mở cty con. Ông bà ta có câu ?okhông có lửa sao có khói?. Theo lý thuyết đương nhiên họ là những người am hiểu tình hình và triển vọng của cty nhất. Ấy vậy mà họ còn không tin tưởng vào triển vọng & tương lai của cty, họ còn thoái vốn thì nhà đầu tư nhỏ lẻ như chúng ta nên uốn lưỡi 7 lần trước khi đâm đầu vào cột**. Nên chọn mấy cty cò vài ngành nghề kinh doanh, vì nếu ngành này có chết thì ngành khác còn giúp cty sống lây lất qua ngày. Các cty thuộc dạng có ngành nghề phòng thủ (lợi nhuận trung bình nhưng đều đặn, có bão táp thì cũng ảnh hưởng chút chút chứ chả chết) và nghành nghề tấn công (ngành nghề thuộc dạng được ăn cả-ngã về không-không có lời chứ phá sản luôn thì tránh cho xa). Nếu cty có mỗi một ngành mà lở có bề gì thì chết chắc. Mà nếu cty đã chỉ có một ngành nghề thì phải thuộc dạng gần như độc quyền (kiểu Cẩn thận* với các cty mà vài năm có 1 lần lợi nhuận đột biến. Đã có lợi nhuận đột biến thì sẽ có dạng thua lổ không lường trước được. Năm 2009 lợi nhuận đột biến, mua cổ phiếu ào ào. Đến năm 2010 thua lổ cũng đột biến thì chỉ có nước chết. VD: sắt thép thì theo giá thế giới. Q1/2009 nhờ ơn trời nhập được vài trăm ngàn tấn sắt giá rẻ, sau đó giá sắt thế giới tăng 100%, do đó Q2, Q3 cty có lợi nhuận khủng. Và vào cuối Q3/2009 do lượng nguyên liệu giá rẻ kia cạn nên phải nhập tiếp vài trăm ngàn tấn sắt giá cao. Nguyên Q4/2009 giá sắt thế giới hạ ào ào, cho nên Q4/2009 và Q1/2010 cty thua lổ đột biến. Coi như toi cơm. Những ngành nghề khác như giá cao su, cà fê, hạt tiêu, ca cao, đồng? cũng biến đổi như giá sắt thép vậy. Lịch sử giá của các mặt hàng trên cho thấy rằng thì cứ vài năm thì giá lại tăng đột biến trong khoảng 1 năm sau đó rớt thê thảm. Khi mua cổ phiếu thì mua theo giá có lợi nhuận đột biến nhưng khi bán cổ phiếu thì lại bán theo giá thua lổ không lường trước được (cty thua lổ nên kéo theo nhà đầu tư cũng thua lổ theo). Tốt nhất nên chọn các cty mà có độ ổn định về thu nhập, ổn định về lợi nhuận, % phát triển hàng năm ổn định (cái gì đoán trước được thì vẫn tốt hơn kiểu không biết trước tương lai ngày mai). Còn nhớ các cty sắt thép như HPG, HSG, Nên đầu tư vào các cty có báo cáo tài chính rỏ ràng, cty con hay liên kết cũng công bố rỏ ràng (%), cty có ban lãnh đạo trong sạch. Tránh càng xa càng tốt những cty không minh bạch về tài chính, u u minh minh trong những cty con hay liên kết, những cty mà các nhà sáng lập lấy tên cty để thành lập cty con để ăn mảnh (được thì các bác ăn, lổ thì các bác đẩy về cho cty mẹ-trong đó có các nhà đầu tư như chúng ta). |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên tích cực
Thành viên từ 14:41, 03/05/09
Được cảm ơn 1961 lần
|
|
|||||||||
|
Nên đầu tư vào cty niêm yết hơn là OTC. Vì khi cần cần rút vốn để tái cơ cấu thì sàn niêm yết có nhiều người mua hơn sàn OTC. Đặc biệt khi thị trường down, sàn niêm yết còn không có người mua thì sàn OTC bán cho ai. Năm 2008 chứng kiến bao nhiêu cty CK chết dở cũng bởi kẹt trên thị trường OTC, trong khi nhà đầu tư NN đầu tư phần lớn vào thị trường niêm yết nên họ rút vốn dề dàng hơn (dể hơn chứ không phải muốn là được). Tốt nhất vẫn là các chú Bluechip hay có vốn pháp định >500 tỉ, dao dịch bèo phải cở vài trăm ngàn/phiên. Hạn chế chơi mấy chú Penychip vì mấy chú phá sản chả hay, nhiều khi vợ cần tiền éo ơi ra sàn bán cũng chả có ma nào mua (khi down thì Bluechip còn không có người mua nữa là Penychip), nếu mà bán cở vài chục K trở lên là giá sàn ngay mặc dù thị trường tăng điểm. Khi thị trường down thì ai ai cũng bán thì hầu như 99% các nhà đầu tư nhỏ lẻ chả bán được Penychip-tranh không lại với các đại gia xả hàng thoái vốn bởi vì cho dù các nhà đầu tư nhỏ đặt lệnh trước đi nữa nhưng vẫn đến sau do mức độ ưu tiên. Mà cho dù là đại gia đi nữa thì với khối lượng dao dịch của Penychip có vài ngàn đến vài chục ngàn cổ/phiên thì thoái vốn đến bao giờ cho hết nếu nắm giử cở 1 triệu cổ phiếu (VD: cty tầm tầm sàn HOSE có vốn pháp định cở 150 tỉ, tương đương 15 triệu cổ phiếu. Nếu đại gia nào đó nắm giữ cỡ 6% thì đã là 900K cổ phiếu). Với các Bluechip thì khả dỉ hơn vì dao dịch khối lượng lớn (cho dù lúc down cũng dao dịch nhiều) nên có thể chen chân mà thoát hàng. *Cẩn thận không có nghĩa là không đầu tư. Chỉ có điều trước khi bỏ tiền ra thì xem trước dòm sau cho kỹ, bỏ vốn ít mà có khả năng thu lại gấp vài lần thì cũng chơi một vố (nhưng đừng mang hết vốn chơi nó có gì thì cuổng trời), hơi nghi ngờ tì rút vốn gấp (thà ăn lúa non hay thu hồi tí vốn còn hơn mất trắng). Tốt nhất là lướt sóng chứ đừng nên đầu tư lâu dài. |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên tích cực
Thành viên từ 14:41, 03/05/09
Được cảm ơn 1961 lần
|
|
|||||||||
|
Và hàng trăm năm nay chính phủ Mỹ đã giải cứu có mấy cty đâu mà chơi trò xác xuất quá nhỏ vậy. Thiếu cha gì cty trên thị trường để đầu tư, điên cuồng gì lại lao đầu vào mấy chổ mà xác xuất sống thì ít-xác xuất chết thì nhiều hả trời. *** Đối với quĩ đầu tư thì tiền đầu tư hầu hết chả phải của ban giám đốc (99.99% là huy động từ cổ đông, sau đó chứng khóan hóa bán ra thị trường) nên họ dám chơi liều mạng-chả phải mạng của họ mà là tiền của nhà đầu tư, được ăn cả-ngã về không (thắng thì được thưởng lớn theo từng quí-còn thua thì cùng lắm từ chức chứ có mất xu cắc nào đâu mà sợ). Những năm trước khủng hoảng 2003-2007, các tổ chức đại gia như Goldman Sachs, AIG, City, Merrill Lynch, Morgan Stanley?thu lợi nhuận hàng chục tỉ USD/năm. Ấy thế mà chỉ có một năm thất bại (2008) thôi thằng thì phá sản (Lehman), thằng thì bán mình (Merrill Lynch), thằng thì chuyển đổi thể chế hoạt động hơn mấy chục năm (GS, Morgan), thằng thì muối mặt xin tiền FED đến độ dân Mỹ la làng la xóm (BoA, AIA, City, Fannie, Fredie, Well Fargo?). Các thế chế hùng mạnh của thế giới với hàng vài chục năm lăn lộn đầu tư, tiền lời vô kể, ấy thế mà chỉ sơ suất có một năm mà thằng thì chết, thằng thì lòi ruột nữa là nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ như chúng ta. Dân Mỹ có thể vay tiền ngân hàng để đầu tư-nếu có thua lổ thì xin phá sản là xong. Chứ ở VN tiền đầu tư của nhà đầu tư cá nhân là mồ hôi, xương máu chứ có phải là từ trên trời rơi xuống đâu, đầu tư thất bại nhiều khi đồng nghĩa với việc vợ con phải ra ngủ lề đường vì nhà bị ngân hàng kê biên rồi còn đâu. Ở VN nhà đầu tư cá nhân có vay ngân hàng để đầu tư dẫn đến thua lổ -mang nợ ngân hàng thì bán nhà, gá vợ đợ con mà trả cho xong nợ. Trả chưa xong thì cày hàng chục năm sau nữa để có tiền mà trả nợ chứ có xin phá sản như ở Mỹ, Anh được đâu, chưa kể nguy cơ phải ăn cơm nhà nước ở nhà công (ở tù). Ấy thế mà không cẩn thận sao? ấy thế mà dám nhắm mắt đầu tư liều mạng sao? ấy thế mà dám đầu tư vào những công ty có ban lãnh đạo có tư cách đạo đức kém sao (nó lừa mình làm sao mà biết)?ấy thế mà dám đầu tư theo những lời khuyên của những con bìm bịp, chim lợn trên mạng sao? ấy thế mà dám đầu tư theo lời khuyên của những thằng thua lổ mém chết như GS, City, Credit Suisse, UBS, BoA, Merrill Lynch, SSI, Daragon, |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 11:46, 15/08/06
Được cảm ơn 564 lần
|
|
|||||||||
|
Trích:
Thư mục: Bên lề Chứng khoán | Đăng ngày: Cách đây 26 phút Sài Gòn ngày 9 tháng 9 năm 2009, cơn mưa dầm hiếm thấy ở Sài Gòn không thể ngăn nổi 10 km đường lầy lội từ "ngã năm chuồng cầy" đến "phố wall Việt Nam", tôi đã đi trong cơn mưa phùn ấy vào đúng cái ngày "tam cửu phong thuỷ" đặc biệt hiếm có trong đời để đến với hội thảo của Vinabull tổ chức nhằm giới thiệu và phân tích CTCP Thuỷ điện Vĩnh Sơn Sông Hinh (mã VSH sàn HSX). .... http://vn.myblog.yahoo.com/stocks-vietnam |
||||||||||
|
||||||||||
|
|
||