Trò bịp trên phố Wall

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by vuadauco, Nov 27, 2011.

1541 người đang online, trong đó có 616 thành viên. 18:41 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. vuadauco

    vuadauco Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 24, 2011
    Likes Received:
    19
    [FONT=&quot]Tôi là một người bán trái phiếu ở Wall Street và London. Làm việc bên cạnh những trader ở Solomon Brothers, đã đặt tôi, tôi tin, vào trung tâm của một trong những sự kiện quan trọng của một thời đại. Trader là sư phụ của chém giết nhanh gọn và có rất nhiệu cuộc chém giết diễn ra cũng rất nhanh gọn trong khoảng 10 năm qua. Và Solomon Brothers là ông vủa của những traders. Những gì tôi cố gắng làm trong quyển sách này, ngoại trừ việc rời khỏi sàn giao dịch Salomon, là mô tả và giải thích những sự kiện, những thái độ đã làm nên cá tính của một kỉ nguyên. Câu chuyện đôi khi lan man nhưng nó vẫn là câu chuyện của tôi từ đầu đến cuối. Số tiền mà tôi đã không kiếm được, những lời nói dối mà tôi đã không nói ra, tôi vẫn hiểu, trong tư cách cá nhân, đó là vì vị trí công việc của tôi.

    Đâu đó gần trung tâm của cuộc đô xô tìm vàng hiện đại. Chưa bao giờ mà rất nhiều thanh niên 24 tuổi, không có kĩ năng lại kiếm được rất nhiều tiền trong một thời gian cực kì ngắn như chúng tôi đã làm trong thập kĩ qua ở New York và London. Chưa bao giờ mà một ngoại lệ có thể làm chủ qui luật thị trường rằng một người có thể lấy ra ít hơn là bỏ vào. Không phải là tôi phản đối tiền. Tôi thích có nhiều hơn là ít tiền. Nhưng tôi không thể nín thở để chờ 1 cơn bão khác ập đến. Những gì xảy ra là rất hiếm và đáng ngạc nhiên trong một giai đoạn lịch sữ khá dễ dàng tiên đoán của kiếm tiền và xài tiền.

    Có thể nói rằng, theo tiêu chuẩn mà chúng tôi đánh giá chính mình, là tôi đã thành công. Tôi kiếm rất nhiều tiền. Tôi được khuyên bởi những người quản lí công ty chúng tôi rằng một ngày nào đó tôi sẽ gia nhập bọn họ trên đỉnh cao sự nghiệp. Nhưng tôi thà không muốn bức phá sớm như vậy. Nhưng người đọc càng phải hiểu rằng tôi hoàn toàn không có lí do nào để cay đắng hay ghẻ lạnh người chủ trước của tôi. Tôi viết quyển sách này chỉ bởi vì kể một câu chuyên thì sẽ tốt hơn là tiếp tục sống trong câu chuyện đó.
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Bài xì phé của những thằng lừa đảo - Micheal Lewis[/FONT]
    [FONT=&quot]

    "Wall Street" , theo như một câu châm biếm, " là một con đường với một đầu là một dòng sông còn đầu kia là một nghĩa địa". Mô tả ấn tượng nhưng vẫn còn thiếu. Nó đã bỏ qua cái trường mẫu giáo ở giữa.


    CHƯƠNG I

    Bài Nói Dối

    Đó là vào khoảng đầu năm 1986, năm đầu tiên trong giai đoạn đi xuống của công ty tôi, Salamon Brother. Ngài chủ tịch hội đồng quản trị, John Gutfreund, rời khỏi bàn của mình ở lối vào của sàn giao dịch và đi dạo quanh. Tại bất cứ thời điểm nào trên sàn, hàng tỉ đôla đang đối mặt với rủi ro bởi dân buôn trái phiếu. Gutfreund thường hay dạo quanh và hỏi mọi người bằng những câu hỏi. Giác quan thứ 6 hướng ông ta tới bất cứ nơi nào khủng hoảng đang hiện ra. Gutfreund có vẻ như có thể ngửi thấy tiền đang bị mất.

    Ông ta là người cuối cùng mà nhà buôn thần kinh thép muốn nhìn thấy. Gudfreund (đọc là Good Friend – tiếng Anh nghĩa là người bạn tốt) rất thích rón rén đằng sau và làm ngạc nhiên bạn. Đó là thú vui, của ông ta nhưng bạn thì không. Luôn bận rộn nói chuyện với cả 2 cái điện thoại cùng 1 lúc, cố gằng đẩy lùi thảm họa, bạn không còn thời gian để quay lại mà nhìn. Bạn cũng không cần làm vậy. Bạn có thể cảm thấy ông ấy. Không gian xung quanh bắt đầu rung chuyển. Những người khác đều làm ra vẻ bận rôn điên cuồng trong khi đó thì nhìn chằm chằm vào 1 điểm ngay trên đầu bạn. Bạn cảm thấy một luồng khí lạnh đến tận xương tủy mà tôi tưởng tượng nó giống với cảm giác một con thỏ đang co quắp lại khi 1 con gấu lẳng lặng tiến đến nó. Tiếng báo đông rít lên trong đầu: Gutfreund! Gutfreund! Gutfreund!

    Thường thì ngài chủ tịch thường chỉ yên lặng lướt qua chút xíu và chuyển đi chỗ khác. Bạn cũng khó có khi nhìn thấy ông ta. Dấu hiệu duy nhất mà tôi thường thấy là mẩu tàn cigar rớt trên sàn, ngay kế bên ghế tôi. Tàn cigar của Gutfreand thường dài hơn và không bị vỡ ra so với tàn ciga của các các xếp khác ở công ty. Tôi luôn giả thiết rằng ông ta hút loại xì gà đắt tiền hơn nhiều so với những người còn lại, được mua bằng số tiền 40 triệu đôla mà ông ta kiếm được trong việc bán lại Solomon Brother năm 1981 hoặc trong 3,1 triệu mà ông ta trả lương cho chính mình trong năm 1986, hơn bất cứ CEO nào ở Wall Street)

    Tuy nhiên, ngày hôm đó của năm 1986, Gutfreand lại làm điều kì lạ. Thay vì làm kinh hãi tất cả chúng tôi, ông ta đi thẳng tới bàn làm việc của John Meriwether, 1 trong những thành viên quản trị của công ty và cũng là nhà buôn trái phiếu giỏi nhất của công ty. Ông ta thì thầm vài tiếng với John Meriwether. Các nhà buôn xung quanh vểnh tai gắng nghe trộm. Điều mà Gutfreund đã nói trở thành một huyền thoại tại Salomon Brother và là một phần tên tuổi của công ty. Ông ta nói rằng “ 1 ván, 1 triệu đô la, không được khóc.”

    1 ván, 1 triệu đô la, không được khóc. Meriwether bắt lấy ý nghĩa ngay tức thì. Ông Vua Của Wall Treet, như tuần báo Business Weeks đã phong cho Gutfreund, muốn chơi 1 ván tay đôi trò chơi gọi là “Bài Nói Dối”. Ông ta chơi trò này hầu hết các buổi chiều với Meriwether và 6 trader trẻ khác đang làm việc dưới quyền Meriwether và thường bị lột sống. Vài người nói rằng Gutfriend luôn thua thê thảm. Người khác cũng không thể tưởng John Gutfreund giống ai đó ngoại trừ là người có quyền lực tuyệt đối ở công ty và rất nhiều người kể lại rằng thách đấu như vậy là hoàn toàn không thích hợp với tác phong của ông ta. Nhưng chính xác, đó lại làm sự việc trở nên huyền bí.

    Điểm khác biệt của lần thách đấu này của Gutfreund là độ lớn của tiền cược. Bình thường thì ông ta chỉ cá không hơn vài trăm đô. 1 triệu thì chưa bao giờ nghe. 2 chữ cuối cùng “không khóc” có nghĩa kẻ thua cuộc sẽ được mọi người trông đợi ở sự đau đớn tột cùng nhưng không được phép than van, chửi rủa hay rên rỉ. Anh ta bắt buộc phải giữ sự mất mát cho chính mình. Nhưng tại sao? Bạn có lẽ hỏi vậy giả sử mình là bất cứ ai đó ngoại trừ Ông Vua của Wall Street. Tại sao phải làm như vậy ngay từ đầu? Tại sao phải thách đấu với chính Meriwether mà không phải ai đó trong những giám đốc quản lý khác? Nó giống như 1 hành động điên rồ. Bởi vì Meriwether là Ông Vua Của Trò chơi. Nhà vô địch về “Bài Nói Dối” của sàn giao dịch Salomon Brothers.

    Mặc khác, một điều bạn học được trên sàn giao dịch rằng người thành đạt như Gutfeund luôn có vài lí do cho điều ông ta làm. Đó có thể không phải là lí do tốt nhất, nhưng ít ra nó là một quan điểm. Tôi không thể đọc ý nghĩa sâu kín nhất của Gutfreund, nhưng tôi biết rằng tất cả mọi người trên sàn giao dịch đều cờ bạc và ông ta khao khát là một người trong bọn họ. Cái tôi nghĩ Gutfreund có ở trong đầu trong lúc này là ước ao chứng tỏ dũng khí. Ai có thể tốt hơn Meriwether cho mục đích này? Ngoài ra, Meriwther có lẽ là người duy nhất có đủ cả tiền và thần kinh để chơi.

    Cái tình cảnh trái khoáy này cần được đặt trong 1 khung cảnh. John Meriwether, trong sự nghiệp đã mang về hàng trăm triệu đô cho Salomon Brothers. Anh ta có một khả năng, hiếm thấy ở người khác, và là một đặc điểm quý giá đối với dân buôn tài chính: che dấu cảm xúc. Hầu hết trader đều lộ ra họ thắng hay thua trong cách nói chuyện và di chuyển. Họ sẽ quá dễ chịu hoặc quá căng thẳng. Với Meriwether, bạn không hề, không bao giờ nhận ra. Anh ta lúc nào cũng mang vẻ mặt nữa vui nữa buồn khi thắng và ngay cả khi thua. Tôi nghĩa anh ta có một khả năng điều khiển cả hai cảm xúc thường hủy hoại dân trader: sự tham lam và sự sợ hãi, và nó tạo anh ta thành một người ưu tú trong thế giới tài chính quyết liệt này. Anh ta còn được mọi người trong công ty công nhận là một nhà buôn trái phiếu giỏi nhất trong Wall Street. Xung quanh côngty, chỉ có giọng điệu kĩnh hãi khi mọi người nói về anh ta. Họ nói “ Anh ta là người làm ăn giỏi nhất ở đây” hoặc “ người đối mặt với rủi ro giỏi nhất mà tôi từng gặp” hay “ người chơi Bài Nói Dối cực kì nguy hiểm”.

    Meriwether làm say mê đám trader trẻ làm việc cho anh ta. Bọn họ chỉ khoảng từ 25 đến 32 tuổi ( Meriwether lúc đó 40). Hầu hết đều mang học vị tiến sĩ về toán học, kinh tế học, và, hay vật lý học. Nhưng khi đến với phòng làm việc của Meriwther, họ rủ bỏ hết dáng vẻ trí thức, và trở thành môn đồ của anh ta. Họ bị ám ảnh bởi trò chơi Bài Nói Dối, quan tâm nó như là đó là trò chơi của chính mình, và quan trọng hóa nó lên tầm cao hơn.

    John Gutfruend luôn là người ngoài đối với trò chơi này. Đành rằng, Business Week đăng hình ông ta lên trang đầu và gọi ông ta là “Vua của Wall Street”, nhưng đó chẳng có ý nghĩa gì đối với bọn trẻ. Và tôi muốn nói, đó chính là vấn đề ở đây. Khi Gutfreund được trao vương miện bởi giới truyền thông, bạn có thể thấy ngay đám dân trader suy nghĩ: “những cái tên và khuôn mặt ngu xuẩn thường xuất hiện nơi công cộng”. Công bằng mà nói, Gutfreund đã từng một thời là trader, nhưng như vậy có khác gì một bà già tự cho là mình cũng một thời sắc nước hương trời.

    Gutfruend cũng thừa nhận như vậy. Ông ta rất thích trade. So với quản lý, trade là công việc trực tiếp. Bạn đặt cược, và bạn có thể thắng hoặc thua. Khi bạn thắng, tất cả mọi người từ dưới lên trên cùng đều khâm phục, thèm muốn , và sợ bạn với lí do: bạn điều khiển đồng tiền. Khi bạn quản lý công ty, tất nhiên bạn nhận lấy một khoảng khâm phục, thèm muốn và sợ hãi. Nhưng với tất cả những lí do nào khác, bạn không làm ra tiền cho công ty. Bạn không đối mặt với rủi ro. Bạn là đồ thế chấp của người sản xuất. Họ đối mặt với rủi ro.Họ chứng minh sự ưu việt mỗi ngày bằng cách giải quyết rùi ro tốt hơn bất cứ ai trên thế giới “ nhưng người đối mặt với rủi ro”. Tiền được đem về từ những người giải quyết rủi ro như Meriwether và nếu nó có được mang về hay không đều nằm ngoài sự điều khiển của Gutfreund. Đó là lí do tại sao rất nhiều người nghĩ rằng việc thách John Meriwether chơi một ván với một triệu đô la là cách mà Gutfreund khoe khoang rằng mình cũng là một kẻ máu me. Và nếu mà bạn muốn phô trương, Bài Nói Dối là cách duy nhất. Trò chơi này có ý nghĩa đặc biệt đối với dân trader. Những người như John Meriwether tin rằng Bài Nói Dối có rất nhiều điểm chung với buôn bán trái phiếu. Nó kiểm tra tính cách của trader. Nó mài giũa bản năng của trader. Một trader giỏi cũng là người chơi bài giỏi và ngược lại. Tất cả chúng tôi đều hiểu điều đó.

    Trò chơi: trong Bài Nói Dối, một nhóm ít nhất là 2 và nhiều là 10 vây lại thình một vòng tròn. Mỗi người chơi giữ một tờ đô la ngang ngực. Trò chơi tương tự như tinh thần của trò chơi Tôi không tin. Mỗi người cố gắng lừa người khác về số sê ri in trên tờ tiền anh ta cầm. 1 người bắt đầu mằng cách đặt giá. Anh ta nói, ví dụ như “ 3 số 6”. Nghĩa là tất cả số seri của tất cả các tờ đô la công lại kể cả tờ của anh ta đều có ít nhất 3 số 6.

    Khi mà lần ra giá đầu tiên được đặt, trò chơi chuyển theo chiều kim đồng hồ. Ví dụ khi “3 số 6” được ra giá, người chơi bên trái của người đặt giá có thể làm 2 thứ. Anh ta có thể ra giá cao hơn ( có 2 loại ra giá cao hơn: cùng số lượng với con số lớn hơn [ 3 số 7, 3 số 8 hay 3 số 9] và nhiều hơn số lượng của bất kì số nào [ ví dụ 4 số 5]). Hay anh ta có thể “thách” giống như là nói “ tôi không tin”.

    Đặt cược sẽ leo ********* đến khi tất cả các người chơi khác đều “thách” giá cược của 1 người duy nhất. Khi đó, và chỉ khi đó, tất cả người chơi lật số seri ra và xem xem người nào tháu cáy người nào. Trong đầu của người chơi xoay vần với các sác xuất. Đâu là khả năng xảy ra cho 3 số 6 trong 1 xấp, chẳng hạn 40 số seri? Với người chơi giỏi, tuy nhiên, tính toán chỉ là chuyện nhỏ, cái khó là đọc gương mặt của người chơi. Và trò chơi càng phức tạp hơn khi tất cả người chơi đầu biết cách thấu cáy, và thấu cáy ngược lại.

    Trò chơi có vài cảm giác của trading, giống như đấu kiếm có vài cảm giác của chiến trận.

    Câu hỏi mà người chơi bài phải hỏi chính mình là, cho tới 1 lúc, không khác gì câu hỏi mà dân trader hỏi. Đây có phải là hành động thông minh? Đôi có đang cảm thấy may mắn không? Đối phương xảo trá tới cỡ nào? Đối phương có biết mình đang làm gì không, và nếu không, làm sao tôi có thể khai thác điểm yếu này? Có phải hắn ta đang cố dụ mình hoặc là hắn thật sự có tứ quí? Mỗi người chơi đều tìm kiếm điểm yếu, khả năng phán đoán và dấu hiệu của người khác và cố gẳng tránh xa nó cho chính mình. Dân trader trái phiếu ở Godman Sachs, First Boston, morgan Stanley, Merrill Lynch và các công ty khác ở Wall Street đều chơi vài phiên bản của trò chơi này. Nhưng nơi mà tiền cược được đặt lớn nhất, xin cám ơn Meriwether, là sàn giao dịch trái phiếu của Salomon Brother ở New York.

    Luật lệ của “Bài Nói Dối “ cũng giống như luật đấu súng. Nó bắt buộc một người phải chấp nhận mọi lời thách đấu. Bởi vì luật này mà John Meriwether bị bắt buộc phải chơi. Nhưng anh ta biết rằng như vậy thật là ngu ngốc. Đối với anh ta, không hề có lợi ích nào. Nếu anh ta thắng, anh ta sẽ làm sếp mình giận. Điều này không tốt. Nhưng nếu anh ta thua, 1 triệu đô la sẽ bay khỏi túi quần. Điều này còn tồi tệ hơn là làm sếp giận. Mặc dù, John Meriwether là 1 người chơi giỏi hơn nhiều, nhưng trong một ván tay đôi, mọi chuyện đều có thể xảy ra. Kết quả cỏ thể hoàn toàn chỉ là may mắn. Trong công việc Meriwether thường có khỉ bỏ cả ngày chỉ để tránh các giao dịch ngu xuẩn, cho nên anh ta dường như không chấp nhận lần này.

    “Ồ không John,” anh ta nói với Gutfruend, “nếu chúng ta đã chơi với những con số như vậy, tôi thà chơi với tiền thật. 10 tiệu đô, không được khóc”

    10 triệu đô la. Đó là khoảnh khác tuyệt diệu. Meriwether đang chơi Bài Nói Dói ngay trước khi ván bài bắt đầu. Anh ta đang thấu cáy. Gutfreund phải cân nhắc đề nghị của Meriwether. Tưởng chừng như ông ta chấp nhận, có lẽ đó là một xa hoa cho giải trí đầu óc đơn thuần, làm ông ta thoải mái ( thật sướng khi là một người giàu có). Nhưng mặt khác, 10 triệu đô là rất nhiều tiền. Nếu Gutfreund thua, ông ta chỉ còn lại chừng 30 triệu đô. Vợ ông ta, Susan, đang bận rôn tiêu xài 1 khoảng 15 triệu trang hoàng ngôi nhà của họ ở Manhattan. (Meriwether biết điều này). Và Gut Freund là sếp, ông ta chẳng hề bị bó buộc bởi luật của Meriwether. Có lẻ điểm cốt yếu của sự thách đấu chỉ là xét đoán phản ứng của Meriwether (ngay cả Gutfreund cũng phải ngạc nhiên). Thế là Gutfreund khước từ. Thật ra, ông ta nở nụ cười miễn cưỡng chính hiệu của mình và nói “ anh thật là điên”

    Không, với Meriwther, anh ta chỉ…thật là , thật là giỏi.
    [/FONT]





  2. vuadauco

    vuadauco Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 24, 2011
    Likes Received:
    19
    [FONT=&quot]CHƯƠNG II[/FONT][FONT=&quot]

    KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC NÓI ĐẾN TIỀN

    Em muốn trở thành một nhân viên ngân hàng đầu tư (investment banker). Nếu bạn có 10,000 cổ phiếu, em sẽ bán nó giúp bạn. Em sẽ kiếm được nhiều tiền. Em yêu công việc của mình vô cùng. Em sẽ giúp đỡ mọi người. Em sẽ trở thành triệu phú. Em sẽ có một ngôi nhà to, nó sẽ làm em hạnh phúc.
    --- Học sinh lớp 7 ở tiểu bang Minesota “ Những điều em muốn khi lớn lên” – tháng 3, 1985


    Tôi sống tại London vào mùa đông 1984, vừa tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế ở Đại Học Kinh Tế London ( London School of Economics), và cũng lúc tôi nhận được thiệp mời đi dự dạ tiệc với bà Hoàng Thái Hậu. Sở dĩ tôi được mời là thông qua một cô em họ xa mà mấy năm trước đính hôn với một nam tước người Đức. Mặc dù tôi không phải là người thường xuyên được mời dự tiệc ở Cung Điện St.James, nhưng cô em họ tôi thì rất hay được mời. Tôi thuê một bộ vest đen, leo lên xe điện ngầm và lên đường. Sự kiện này là mắt xích đầu tiên trong một chuỗi những chuyện hầu như không thể xảy ra và kết thúc bằng việc tôi được nhận vào làm việc cho Solomon Brothers.

    Bữa dạ tiệc được quảng cáo rùm beng này hóa ra là một cuộc gặp gỡ đễ gây quĩ của Hoàng gia Anh và và bảy hay tám trăm nhân viên bán bảo hiểm. Chúng tôi rạo rực bước qua đại sảnh có những chiếc ghế gỗ màu sẫm đặt trên những chiếc thảm đỏ màu rượu vang bên dưới những bức chân dung của gia đình Hoàng gia, cứ như là đang thử giọng để hát phụ họa cho dàn đồng ca “ Masterpiece Theater”. Đâu đó trên đại sảnh là 2 vị giám đốc điều hành ( Managing Director) của Solomon Brothers. Tôi biết điều này chỉ vì tôi được ngồi giữa 2 bà vợ của họ, quả là điều may mắn.

    Bà vợ của vị giám đốc điều hành cao cấp hơn của Salomon Brother, một người Mỹ tay nắm chặt mép bàn mỗi khi cố nghểnh cổ để nhìn lướt về phía các vị trong Hoàng gia Anh. Khi bà ta biết rằng tôi đang chuẩn bị tìm việc và có ý muốn tham gia vào ngành tài chính, bà đã chuẩn buổi tối đó thành cuộc phỏng vấn. Bà ta đã chọc, hỏi và đâm tôi đến gần như chao đảo, và đã hài lòng. Khi kiểm tra xong điều thú vị với tuổi 24 của tôi, bà ta hỏi tại sao tôi lại không vào làm việc ở sàn giao dịch của Solomon Brothers.

    Tôi cố gắng bình tĩnh. Tôi sợ nếu tôi tỏ ra quá hăm hở thì bà ta sẽ nhận ra mình đã mắc một sai lầm ghê gớm. Gần đây tôi nghe thấy lời bình luận đầy tính truyền thuyết của John Gutfreund là để thành công trên sàn giao dịch của Solomon Brothers, người ta phải dậy sớm vào mỗi buổi sáng với tinh thần “ sẵn sàng cắn nát mông một con gấu”. Tôi nói, việc đó không có vẻ buồn cười..lắm. Tôi đã giải thích cho bà ta khái niệm của mình về cuộc sống sẽ là như thế nào khi làm việc trong một ngân hàng đầu tư. ( Việc mô tả bào gồm một văn phòng to bằng kính, một cô thư kí, một tài khoản chi tiêu lớn và một lô những cuộc họp hành với các vị đứng đầu ngành công nghiệp). Công việc này vẫn tồn tại ở Solomon Brothers, nhưng nó không được coi trong nữa. Nó gọi là Tài Chính Doanh Nghiệp ( Corporate Finance). Nó khác với Đầu tư (sale & trade), xong nhìn chung cả hai đầu là công việc của ngân hàng đầu tư. Sàn giao dịch của Gutfreund nơi mà cổ phiếu và trái phiếu được mua và bán, là trung tâm ầm ĩ ì xèo của việc kiếm tiền và chấp nhận rủi ro. Các nhà buôn ( trader) không có thư kí, văn phòng hay họp hành. Lãnh vực Tài Chính Doanh Nghiệp, phục vụ các công ty và chính phủ trong việc vay mượn, họ được gọi là “ khách hàng” cho có vẻ thanh tao và tế nhị nhưng đó là chỉ là thế giới nhỏ bé. Bởi vì họ không liều với tiền, các nhà Tài Chính Doanh Nghiệp luôn bị dân trader xem là những kẻ yếu đuối nhu nhược. Tuy nhiên với bất cứ tiêu chuẩn nào ngoại trừ tiêu chuẩn của Wall Street, Tài Chính Doanh Nghiệp vẫn còn là khu rừng rậm đầy rẫy những người khổng lồ ăn thịt người).

    Đến khi tôi đã gần nói hết thì quí bà Salomon vẫn còn ngồi lặng lẽ. Rồi thở dài , bà nói một cách giễu cợt về mấy gã ăn mặc chỉnh tề với những đồng lương ít ỏi trong lãnh vực Tài Chính Doanh Nghiệp đó. Đó là tuổi trẻ tươi sáng ử? Chẵng lẻ tôi lại muốn ngồi trong văn phòng suốt ngày? Tôi là ai? Một trứng dái khô?

    Rõ ràng bà ta không muốn trả lời. Bà thích những câu hỏi hơn. Vì vậy tôi đã hỏi nếu bà có quyền hạn để có thể cho tôi công việc. Và bà ta kết thúc câu chuyện rằng bà sẽ lưu tâm và sẽ nói với chồng khi về nhà.

    Đến cuối tiệc, bà Hoàng Thái Hậu 84 tuổi tất bật bước ra khỏi phòng. Chúng tôi, tám trăm vị bán bảo hiểm, 2 giám đốc của Salomon Brothers, vợ của họ và tôi đứng dậy lặng lẽ tôn kính trong lúc bà ta tiến về phía mà lúc đầu tôi cho là cửa sau. Song tôi nhận ra chắc chắn đó là mặt trước của lâu đài và chúng tôi, những nhà gây quĩ bị bỏ ở lại như những thằng giao hàng. Bà Hoàng Thái Hậu đi đầu, theo sau là bà hầu Jeeves, đi thằng như 1 cái chổi, thắt cà vãt trắng, đeo dải và tay nâng một cái mâm bạc. Tiếp theo Jeeves , mọi người nối đuôi thành 1 đoàn diễu hành. Và có 1 tốp chó Corgis, loại chó nhỏ hình ống xứ Wales trông như một bầy chuột cống. Người Anh cho rằng nó dễ thương. Sau này tôi được nói lại rằng hoàng Gia Anh đi đâu cũng mang theo chúng.

    Không khí trang nghiêm im lặng bao trùm trên đại sảnh của cung điện khi bà Thái Hậu kéo ghế lại gần, mấy tay bán bảo hiểm cuối đầu như những người đi hành lễ. Mấy con chó Cogis được huấn luyện cứ 15 giây lại khẽ nhún bằng cách vắt chéo hai chân sau và hạ sát bụng xuống sàn nhà. Cuối cùng đoàn diễu hành cũng tới nơi. Chúng tôi đứng ngay bên cạnh bà Thái Hậu. Bà vợ của Solomon Borthrs mặt đỏ bừng bừng. Tôi chắc mình cũng vậy nhưng bà ta còn bừng bừng hơn. Lòng mong muốn được chú ý của bà ta đang trỗi dậy. Có nhiều cách gây sự chú ý của Hoàng gia trước sự hiện diện của 800 tay bảo hiểm từ Prudential lầm lầm lì lì, nhưng cách hay nhất là hét lớn. Và bà ta đã làm vậy. Chính xác là bà ta quát “ Ê, Thái Hậu, mấy con chó của bà dễ thương ghê!!”

    Mấy chục vị bán bảo hiểm tái mặt. Bình thường thì họ đã tái rồi, có lẽ tôi thổi phồng chăng? Họ nuốt nước miếng và liếc nhìn vào mấy tay đang đứng đầu đôi mũ có quả tua (ngự lâm quân?) Người duy nhất trong tầm mà tôi đủ nghe không tỏ ra vẻ khó chịu lại chính là bà Thái Hậu. Bà ta vững trãi bước ra khỏi sảnh.

    Vào lúc bối rối, tất cả những người hiện diện đến từ 2 tổ chức biến sắc, bà Thái Hậu đã giải quyết sự bất nhã một cách tế nhị bằng cách phớt lờ nó đi. Bà vợ của giám đốc điều hành Solomon Brothers cũng lấy hết thần kinh và bản năng ra để lấy lại thăng bằng của căn phòng bằng cách thốt lên những lời chào hỏi. Tôi luôn có một sự ngưỡng mộ nhất định đối với hoàng gia, đặc biệt là bà Thái Hậu. Nhưng cũng từ giây phút đó, tôi phát hiện ra Solomon Brothers, những kẻ ăn bám ở cung điện St.James, cũng hấp dẫn không kém. Đối với một số người, họ là những kẻ cộc cằn, xấu tính, không được xã hội chấp nhận .Nhưng tôi không thể làm gì khác hơn. Bởi vị họ là những investment banker, những người của tôi. Và không nghi ngờ gì nữa, cái cá tính mạnh mẽ này, sản phẩm của văn hóa Solomon Brothers có thể thuyết phục chồng bà ta cho tôi một công việc.

    còn tiếp...
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Chẳng bao lâu tôi được chồng bà ta mời đến văn phòng của công ty Solomon Brothers ở London và được giới thiệu với traders và salemen trên sàn giao dịch. Tôi thích họ. Tôi thích không khí ồn ào trong môi trường của họ. Những tôi vẫn không nhận được một lời mời chính thức nào và tôi cũng không phải trải qua thêm một vòng phỏng vấn nào khác. Xem ra việc không phải trải qua vòng phỏng vấn nào khác chứng tỏ bà vợ ông giám đốc điều hành đã làm đúng lời hứa và Solomon có ý định nhận tôi. Nhưng rồi chẳng có ai bảo tôi quay lại cả.

    Một vài ngày sau tôi nhận được cú điện thoại khác. Nói rằng tôi có muốn tới ăn sáng lúc 6h30 ở khách sạn Berkeley ở London với Leo Corbett, một vị đứng đầu đặc trách sơ tuyển của Solomon từ New York tới không? – Tôi nói đương nhiên tôi muốn. Và tôi trải qua một đêm thấp thỏm mất tự nhiên đến 5h30 sáng rồi khoác lên bộ vest xanh để đi ăn sác công vụ. Nhưng Corbett cũng không cho tôi việc làm, chỉ có một đĩa trứng rán. Chúng tôi có một cuộc trao đổi vui vẻ nhưng điều đó cũng làm tôi bối rối vì có người nói rằng những người tuyển mộ của Salomon Brothers là những thằng mất dạy ( nv bastard). Rõ rang là Cobbert muốn tôi làm việc ở Salomon nhưng ông ta không bao giờ đi thẳng vào đề nghị cả. Tôi trở về nhà, cởi quần áo và lăn lên giường ngủ.

    Cuối cùng, tôi kể lại cho một người bạn sinh viên ở trường Kinh Tế Lon Don chuyện xảy ra. Vì anh ta cũng muốn có một công việc với Salamon Brothers, nên anh ta biết tôi chính xác phải làm gì. Salamon Brothers, anh ta nói, không bao giờ mời ai vào làm cả. Đã là quá tế nhị khi nó tạo cơ hôi cho mọi người nắm bắt. Salamon chỉ đưa ra gợi ý. Nếu như tôi đã có lời gợi ý rằng công ty muốn nhận tôi, vậy thì cách tốt nhất tôi phải làm là gọi cho Leo Corbett ở New York và nhận công việc từ ông ta.

    Tôi đã làm , tôi gọi điện cho ông ta, lại tự giới thiệu mình và nói: “ Tôi muốn ông biết rằng tôi đã chấp nhận”.

    “Rất vui mừng có anh vào làm việc” Ông ta cười và nói…

    Vậy tiếp theo? Ông ta giải thích rằng tôi sẽ bắt đầu cuộc sống với “ người anh em” ( (Solomon) Brothers) bằng một chương trình huấn luyện vào cuối tháng Bảy. Tôi sẽ học cùng với khoảng 120 người khác, phần lớn được tuyển từ các trường đại học danh tiếng. Ông ta cúp máy và cũng chẳng nói cho tôi là tôi được trả bao nhiêu, và tôi cũng chẳng hỏi vì tôi biết, vì một lí do nào đó, giới investment banker không thích nói chuyện về tiền.

    Còn tiếp...
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Ngày tháng trôi đi, tôi chẳng biết gì về trading, cho nên, tôi gẩn như chẳng biết gì về Solomon Brothers. Đối với Solomon Borthers, hơn bất cứ công ty nào ở Wall Street, là một công ty được điều hành bởi những trader. Tôi chỉ biết được những gì tôi đã đọc qua báo chí. Và người ta nói Solomon Brothers là ngân hàng đầu tư có lãi nhất trên thế giới. Sự thực có thể thế, quá trình nhận được công việc làm tôi phấn khởi. Sau sự choáng váng ban đầu về lời hứa nhận công việc lâu dài, tôi bắt đầu hoài nghi về một khát vọng công việc trên sàn giao dịch. Chợt nảy ra trong đầu rằng tôi muốn làm việc trong ngành tài chình. Nếu không phải trong tình huống đó, thì có lẽ tôi đã viết cho Leo cho ông ta hay rằng tôi không muốn thuộc về bất cứ nhóm nào chấp nhận tôi là hội viên. Nhưng tình huống ở đây là tôi không có công việc nào khác.

    Tôi đành phải mang vết nhơ là đã có được một công việc thực sự đầu tiên thông qua chỗ quen biết. Nhưng nó còn khá hơn điều sỉ nhục là thất nghiệp. Dù bằng cách nào nhảy lên được sàn giao dịch Solomon đều phải chấp nhận những trở ngại không mấy vui vẻ như trong các cuộc phỏng vấn xin việc chẳng hạn ( 6000 người nộp đơn năm đó). Phần lớn trong số họ , khi tôi cùng làm việc đã phải vật lộn trong những cuộc phỏng vấn và đã có những câu chuyện rùng mình để kể lại. Loại trừ kí ức khó hiểu về cuộc tấn công của Solomon vào Hoàng gia nước Anh ra , thì tôi không có một vết sẹo chinh chiến nào cả và tôi cảm thấy hổ thẹn.

    Ừ, thì đúng vậy, tôi thú nhận. Một trong những lí do mà tôi chộp ngay lấy cơ hội của Solomon như một quả bóng xì hơi là tôi đã nhìn thấy mặt trái của vấn đề tìm việc làm trên Wall Street và không muốn thấy nó một lần nữa. Là một sinh viên năm cuối đại học năm 1981, tức là 3 năm trước cái đêm tôi gặp may ở Cung điện St.James, tôi cũng nộp đơn xin việc trong các ngân hàng. Tôi chưa bao giờ gặp người ở Wall Street nào có sự tán đồng trọn vẹn về bất cứ vấn đề gì mà họ thấy trên tờ đơn xin việc của tôi. Một số người cười vào bản tóm tắt lí lịch ( CV/Resume). Mấy tay đại diện tuyển người nói rằng tôi thiếu kĩ năng về thương mại và cũng rất sợ để nói tôi sẽ sống suốt đời nghèo khổ. Tôi luôn có những khó khăn khi đưa ra những hay đổi sắc bén và tôi nhớ rằng sắc bén nhất là tôi không thể hình dung nổi tôi có thể khoác lên một bộ đồ vest. Và tôi cũng chưa bao giờ gặp một banker tóc vàng. Tất cả những người liên quan đến tiền bạc mà tôi gặp đều tóc đen hay bị hói. Tôi thì không. Vậy bạn thấy đó, tôi có nhiều vấn đề. Khoảng một phần tư số người mà tôi làm việc chung ở Solomon Brothers đều đến thẳng từ trường đại học, tức là đã qua kì tuyển người mà tôi bị rớt. Tôi vẫn tự hỏi như thế là thế nào?

    Lúc đó, tôi không cho trading là một nghề quan trọng. Vấn đề này, không chỉ một mình tôi. Nếu họ nghe nói về sàn giao dịch, những sinh viên năm cuối xem nó như một cái ***g nhốt những con vật hoang dã chưa được huấn luyện xong., và một trong những thay đổi lớn trong những năm 80 là sự giảm bớt đi cái bộ tịch của những người có được học vấn xa hoa nhất ở Mỹ và Anh. Khóa 1982 của đại học Princeton của tôi là khóa cuối cùng nắm được thực trạng này một cách chắc chắn. Cho nên chúng tôi không nộp đơn xin việc ở sàn giao dịch. Thay vào đó chúng tôi nhắm vào những công việc trả lương thấp hơn trong ngành tài chính. Lương khởi điểm 25 nghìn đô la một năm cộng với tiền thưởng. Tính lại hết thì nó khoản 6 đôla 1 giờ. Công việc có tên “ nhân viên phân tích ngân hàng đầu tư".

    Nhân viên phân tích chẳng phân tích cái gì cả. Họ là nô lệ cho một nhóm những nhà Tài Chính Doanh Nghiệp, những người làm những công việc thương lượng và giấy tờ ( cũng không phải là trading hay bán hàng) cho những đợt phát hành cổ phiếu và trái phiếu của các công ty của Hoa Kì. Ở Solomon Brothers, họ là những người thấp nhất trong những người thấp, còn ở ngân hàng khác thì họ là người thấp nhất trong những người cao; dù trong trường hợp nào thì cũng là công việc khổ cực. Họ phải sao chụp, đọc, sửa chửa, ghép các tài liệu giấy tờ một cách tẻ nhạt và làm việc hơn 90 giờ 1 tuần. Nếu họ làm tốt thì họ được các sếp đánh giá tốt.

    Đây là niềm vinh dự mơ hồ. Các sếp thường gắn các máy beeper lên người nhân viên phân tích nào họ thích để có thể gọi họ trong mọi lúc. Một số nhà phân tích cực giỏi sau mấy tháng bước vào công việc mới đã mất đi ý chí tự nguyện của mình là sống bình thường. Chính bản thân họ đã hoàn toàn vượt qua cả sếp của mình, làm việc thâu đêm suốt sáng. Họ hiếm khi ngủ và lúc nào cũng có vẻ muốn bệnh, họ càng làm tốt công việc hơn thì trông họ như cái chết sắp đến gần hơn. Một nhà phân tích thành công nhất làm việc cho Dean Witter vào năm 1983 ( một người bạn mà lúc ấy tôi rất hâm mộ phong cách làm việc của anh ta) đã làm việc căng thẳng đến nỗi anh ta thường vào toilet ngủ gật. Anh ta làm việc suốt cả đêm và vào ngày nghỉ cuối tuần, ấy vậy mà anh ta còn cảm thấy có lỗi là không làm được nhiều việc hơn. Nếu trong trường hợp có người phát hiện anh ta đi toilet quá lâu thì anh ta giả vờ là bị đau bụng. Theo định nghĩa, công việc phân tích chỉ kéo dài 2 năm. Sau đó anh ta sẽ quay lại học tiếp cao học ở business school. Nhiều nhà phân tích thừa nhận rằng 2 năm đó, khoảng thời gian giữa đại học và cao học là những năm tháng tồi tệ nhất.

    Nhà phân tích là tù nhân của chính tham vọng hẹp hòi của riêng mình. Anh ta cần tiền, nhưng không muốn bộc lộ theo bất cứ lối bất thường nào. Anh ta muốn những người khác nghĩ mình thành công như chính mình tự cho là thế. ( Tôi kể cho bạn điều này chỉ vì tôi đã tự thoát khỏi nhà tù mà không chọn lựa gì. Và nếu tôi không thoát thì chắc chắn lúc này tôi đã không ở đây. Cõ lẽ tôi vẫn đang tiếp tục leo lên nấc thang như nhiều bạn học của tôi). Chỉ có một cách chắc chắn và chỉ có một cách duy nhất để tiến lên như những người có mắt tinh đời nhìn thấy: học đại học ngành kinh tế ,dùng bằng kinh tế để kiếm 1 việc phân tích ở Wall Street, dùng công việc đó để xin học cao học (MBA?) ở các trường danh tiếng Stanford hay Havard, và rồi sau đó hẵng lo lắng về phần đời còn lại của mình.

    Còn tiếp...
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Do vậy, câu hỏi mà các bạn học và tôi đang hỏi nhau vào học kì mùa thu 1981 và mùa xuân 1982 là: Làm thế nào mình trở thành nhà phân tích Wall Street nhỉ? Thời gian trôi, câu hỏi này có kết quả kì lạ. Kết quả thứ nhất và tất nhiên có thể nêu ra để kết luận điều này. Đây là một ví dụ 40% trong 1300 sinh viên khóa 1986 tốt nghiệp từ đại học Yale đã xin vào chỉ riêng một ngân hàng đầu tư, First Boston. Tôi nghĩ, có lẽ có một cảm giác ổn định trong những con số đó. Số người càng lớn, thì càng dễ đối với họ để tự dối mình rằng mình là người thông minh. Điều đầu tiên bạn học được trên sàn giao dịch là khi có một số lượng đông người muốn mua cùng một loại hàng, có thể cổ phiếu , trái phiếu hoặc một công việc, thì món hàng đó nhanh chóng được định giá cao quá mức. Rất tiếc vào thởi điểm đó, tôi chưa một lần đặt chân lên một sàn giao dịch nào.

    Kết quả thứ hai, gây cho tôi ấn tượng vào lúc này lại là một bi kịch, là phong trào học kinh tế. Ở trường Harvard năm 1987, môn kinh tế học căn bản đã có 40 lớp và một 1000 sinh viên; số lượng tuyển sinh của khoa cũng đã tăng gấp 3 trong 10 năm. Ở trường Princeton, trong năm tôi tốt nghiệp, lần đầu tiên trong lịch sử của trường, kinh tế trở thành ngành phổ biến nhất. Càng nhiều người học kinh tế, thì tấm bằng kinh tế càng là yêu cầu bắt buộc khi xin việc ở Wall Street. Có một lập luận hay cho điều này là khoa kinh tế đáp ứng được 2 yêu cầu cơ bản nhất của các giám đốc ngân hàng đầu tư. Đầu tiên, họ muốn có những con người thực hành, sẵn sang đưa hết trình độ học vấn của mình vào nghề nghiệp. Môn kinh tế, mà ngày càng trở thành môn khoa học khó hiểu, đang sinh ra những luận thuyết toán học không có ứng dụng rõ ràng nào, gần như chỉ là một phương tiện. Lối dạy môn kinh tế đã không kích thích được trí tưởng tượng. Tôi muốn nói là không mấy ai tự nhận là mình thực sự thích môn kinh tế. Học kinh tế không phải là vì đam mê say đắm mà là hành động hi sinh mang tính cách lễ nghi nhiều hơn. Tất nhiên tôi không thể chứng minh hết điều này. Đây chỉ là nhận định dựa vào cái mà những nhà kinh tế học gọi là chủ nghĩa kinh nghiệm tự nhiên. Tôi quan sát, tôi thấy, ngẫm nghĩ về những người bạn đã tiêu hao dần hết cuộc đời mình. Tôi thường hỏi những người có mục đích làm trong ngành ngân hàng tại sao họ lại học kinh tế, và họ giải thích rằng đó là môn khoa học ứng dụng nhiều nhất, ngay cả trong việc họ vẽ những biểu đồ nhảm nhí. Tất nhiên họ đúng và thậm chí còn cuồng nhiệt hơn. Kinh tế là môn học ứng dụng. Nó tạo cho con người việc làm. Và thực tế đã có vì nó chứng minh là họ nằm trong số những con người tin tưởng nhất vào tầm quan trọng của kinh tế học đối với cuộc sống.

    Các giám đốc ngân hàng đầu tư cũng muốn tin tưởng như vậy, rằng tính logic trong kỹ thuật tuyển dụng của họ là khá chắn chắn. Chẳng người nào ngoài ngành lại được chấp nhận cả. Tính tự phụ này đi đôi với niềm tin tưởng của các ngài giám đốc ngân hàng đầu tư rằng họ có thể điều khiển số mệnh của mình, cái gì đó, mà sau này chúng ta sẽ thấy, là họ đã không làm nổi. Môn kinh tế cho phép nhà tuyển mộ của các ngân hàng đầu tư có thể trực tiếp so sánh các học bạ trong trường của các ứng cử viên. Khía cạnh duy nhất không thể giải thích được là ở chỗ lý thuyết kinh tế ( thứ mà các sinh viên có nhiệm vụ phải biết) lại không phục vụ cho bất kì chức năng nào ở ngân hàng đầu tư. Các giám đốc ngân hàng đã dùng môn kinh tế như là một thứ tiêu chuẩn cho toàn bộ sự thông minh.

    Giữa hôi chứng cuồng loạn, tôi cũng bị cuồng loạn theo. Tôi đưa ra một quyết định tỉnh táo là không học ngành kinh tế ở Princeton, một phần là do tất cả mọi người đều học ngành này , theo cách tôi hiểu, dường như là một sai lầm. Xin đừng hiểu sai về tôi. Tôi biết rồi một ngày nào đó tôi cũng phải kiếm sống. Nhưng dường như là một sự phí phạm không nắm bắt lấy cơ hôi duy nhất để thể hiện bộ óc của bạn về một lĩnh vực nào đó thực sự làm bạn hứng thú. Cũng là phí phạm khi không sử dụng phần còn lại của ngôi trường. Vì vậy tôi đạt chân vào một trong những khoa được ứng dụng ít nhất của trường. Ngành Lịch sử nghệ thuật đối lại với ngành kinh tế., không ai muốn có nó trong tờ CV/Resume của mình. Lịch sử nghệ thuật, một sinh viên kinh tế đã nói với tôi: “ là dành cho bọn con gái ở Connecticut”. Mục đích kinh tế chính của lịch sử nghệ thuật là để sinh viên nâng điểm trung bình trong học bạ. Họ nhảy vào khoa tôi, học lấy vài môn để cải thiện phần nào số điểm trung bình đó. Quan điểm của ngành lịch sử nghệ thuật như là sự cải thiện hoặc sự tự cải thiện, với tính chất khác biệt với tính chất nghề nghiệp, là một mục đích chính đáng của giáo dục lại được mọi người xem như là sự khờ khạo và thiếu thận trọng. Ngày tốt nghiệp sắp đến, mọi thứ ngày càng hiện rõ. Ngay cả một số bạn cùng lớp cũng bày tỏ sự thông cảm với tôi như thể tôi là một kẻ què quặt, bần cùng vô ý thức. Việc trở thành người theo đạo dòng Francis có cái lợi của nó, nhưng đó không phải là một vé để đi đến Wall Street.

    Công bằng ra, nghệ thuật chỉ là sự bắt đầu của mọi vấn đề của tôi. Nó không giúp được chuyện tôi thi rớt môn” Vật Lí học cho những bài thơ” hay pha chế rươu và nhảy dù là năng khiếu mà tôi nêu trong CV/Resume. Sinh ra và lớn lên ở tận cùng Miền Nam, tôi chưa bao giờ nghe nói đến ngân hàng đầu tư cho tới vài tháng trước buổi phỏng vấn đầu tiên của tôi.

    Tuy nhiên, Wall Street dường như là nơi mà người ta muốn đến lúc bấy giờ. Thế giới này không cần thêm luật sư, tôi cũng không thể trở thành bác sĩ, dự định của tôi về việc bắt đầu ý tưởng kinh doanh sản xuất những cái túi nhỏ bịt mông con chó lại không chó chúng ị bậy ra ngoài đường phố Mahattan ( với dòng quảng cáo “ Chúng tôi ngăn được phế thải rồi) không bao giờ tìm được nguồn vốn. Có lẽ sự thực của vấn đề ở đây là tôi sợ sẽ lỡ chuyến xe buýt mà tôi biết mọi người đều đã đặt chỗ trước vì sợ rằng sẽ không có chuyến thứ 2. Tôi hoàn toàn không có ý định cụ thể sẽ làm gì sau khi tốt nghiệp và Wall Street trả giá cao nhất cho những gì tôi có thể làm, đó là không biết làm gì cả. Đó cũng không phải là vấn đề, thậm chí còn là lợi thế nếu như tôi cảm thấy mình xứng đáng có một công việc. Nhưng tôi thì chẳng xứng đáng. Nhiều bạn bè cùng học đã hi sinh một phần tốt đẹp trong đời đi học của mình cho Wall Street, còn tôi thì chả hi sinh gì cả. Điều này làm cho tôi trở thành một tay tài tử bước điệu Valse vào trong một cuộc chiến mà đối thủ là những chàng trai tốt nghiệp từ những trường danh giá vùng Đông Bắc.

    Còn tiếp...
    [/FONT]



    [FONT=&quot]Tóm lại, tôi sẽ không làm cho ngân hàng đầu tư lúc này. Khoảnh khắc suy tính của tôi xuất hiện ngay sau buổi phỏng vấn đầu tiên của năm 1982 với công ty Leahman Borthers ở Wall Street. Để có được buổi phỏng vấn ấy, tôi đã phải đứng ngập sâu 6 inch trong tuyết lạnh cùng với 50 sinh viên khác đợi văn phòng hướng nghiệp của trường đại học Princeton mở cửa. Suốt cả mùa đông cái văn phòng ấy giống như một cái quầy bán vé xem chương trình biểu diễn của Micheal Jackson, với những hàng dài hỗn tạp sinh viên đứng thâu đêm để đợi lên trước. Khi cánh cửa mở bung, chúng tôi lao vào tranh nhau điền tên lên tờ hẹn phỏng vấn của Leahman.

    Dù vậy, tôi vẫn không định làm việc trong ngân hàng đầu tư, xong thấy vui vui, tôi cũng đã chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn của mình. Tôi học thuộc lòng một số điều được sinh viên Princeton thừa nhận là bí quyết để tồn tại trong buổi phỏng vấn xin việc với các ngân hàng đầu tư. Những người nộp đơn đòi hỏi phải có văn hóa cao. Chẳng hạn vào năm 1982, ít nhất họ cũng phải có khả năng định nghĩa được những thuật ngữ sau: ngân hàng thương mại ( commercial bank), ngân hàng đầu tư (investment bank), tham vọng, làm việc vất vả, cổ phiếu, trái phiếu, đạo luật Glass-Steagall.

    Glass-Steagall là một đạo luật của Quốc hội Mỹ, nhưng nó có hiệu lực hơn cả một đạo luật của Chúa. Nó chia nhân loại ra làm đôi. Với đạo luật này, năm 1934, các nhà lập pháp Hoa Kỳ đã tách investment bank ra khỏi hoạt động commercial bank. Investment bank hiện nay nhận phát hành công cụ tài chính (security), chẳng hạn như cổ phiếu, trái phiếu. Các commercial bank như Citibank nhận tiền gửi và cho vay. Đạo luật đó tạo nên nghề ngân hàng đầu tư với mục đích thiết thực, và đây là sự kiện quan trọng nhất lịch sử của thế giới, ít nhất là tôi tin như vậy.

    Nó hoạt động riêng biệt. Sau luật Glass-Steagall, phần lớn mọi người đều trở thành commercial bankers, nhưng trong ý nghĩ của mọi người, commercial banker chỉ là một thương gia bình thường với những tham vọng bình thường của người Mỹ. Ông ta đã cho vài nước Nam Mỹ vay vài trăm triệu đô la một ngày. Nhưng thật ra ông ta cũng chẳng thiệt gì. Ông ta chỉ làm theo những gì mà người khác cấp trên ra lệnh theo một chuỗi lệnh dài vô tận mà thôi. Một commercial banker không còn là kẻ quấy rối hơn Dagwood Bumstead nữa. Ông ta có một vợ, một chiếc xe hơi vừa chở khách vừa chở hàng, hai đứa con và một con chó nó thường tha đôi dép đi trong nhà cho ông khi ông đi làm về lúc 6 giờ. Tất cả chúng tôi đều biết và các investment bank cũng biết rằng chúng ôi cũng đã nộp đơn xin việc ở các commercial bank khác như là phương án phòng hờ. Commercial bank luôn là chỗ an toàn.

    Investment banker là một giống nòi khác, là bậc thầy về giao dịch, Phải có tầm nhìn bao quát, tài năng phi thường và tham vọng. Nếu có một con chó, nó gầm gừ. Có 2 chiếc xe thể thao màu đỏ trong khi lại muốn 4 chiếc. Để có được những thứ ấy, đối với một người mặc bộ đồ vest trông rất lịch sự, thật bất ngờ, lại sẵn sàng gây rắc rôi. Chẳng hạn rất thích quấy rối đám sinh viên năm cuối như tôi. Investment banker có một kĩ thuật được biết như những bữa phỏng vấn gây hồi hộp mạnh (stress test). Nếu bạn được mời đến các văn phòng của Leahman ở New York, câu phỏng vấn đầu tiên là yêu cầu mở cửa sổ ra. Bạn đang ở tầng 43 có thể nhìn toàn cảnh Wall Street. Cửa sổ được hàn chặt. Tất nhiên chỉ có một điểm thôi. Người phỏng vấn chỉ muốn xem liệu bạn có khả năng làm theo yêu cầu của ông ấy hay không rồi đưa bạn tới chỗ toát mồ hôi ra, làm tham vọng của bạn tan ra thành nước. Người ta đồn rằng, một số người phỏng vấn căng thẳng đến mức đã ném cái ghế vào cửa sổ.

    Một mẹo gây căng thẳng khác là cách đối xử im lặng. Bạn bước vào cuộc phỏng vấn, người phỏng vấn ngồi im trên ghế không nói lời nào. Bạn chào ông ta, Ông ta liếc. Bạn nói bạn đến để tham dự phỏng vấn xin việc, ông ta liếc tiếp. Bạn kể chuyện cười nhảm hay làm trò hề, ông ta lại liếc và lắc đầu. Ruột gan bạn nóng như lửa đốt. Rồi ông ta nhặt tờ báo lên (hoặc tệ hơn tờ CV/Resume của bạn) và bắt đầu đọc. Ông ta đang thử khả năng điều khiển buổi họp của bạn. Trong trường hợp này, có thể chấp nhận việc ném cái ghế qua cửa sổ. Tôi muốn trở thành một nhân viên trong ngân hàng đầu tư. Leahman Brothers là công ty tốt nhất. Tôi muốn trở nên giàu có. Vào ngày hẹn, giờ hẹn, tôi xát 2 lòng bàn tay đầy mồ hôi với nhau ở bên ngoài phòng phỏng vấn, cố chỉ có những ý nghĩ thật thà trong đầu, chẳng hạn như những điều này. Tôi đã kiểm tra nhanh các trang bị tựa như nhà du hành vũ trụ chuẩn bị lên bệ phóng. Những điểm mạnh của tôi: Tôi là một người tham vọng thành đạt, làm việc đồng đôi, người của công chúng – nghĩa là gì tôi cũng chả biết. Điểm yếu của tôi: qua hăng hái thành ra hay mau mắn, nhanh nhảu trong công việc.
    [/FONT]



    [FONT=&quot]Tên của tôi được gọi đến. Lehman phỏng vấn từng cặp. Tôi không chắc rằng tôi tận dụng được cơ hội này.

    Tin vui là Lehman đã cử về trường một người đàn ông và một người phụ nữ. Tôi không biết người đàn ông đó. Nhưng người phụ nữ là một cựu sinh viên, một bạn cũ mà tôi trước đây không mong gặp. Có lẽ tôi sẽ được.

    Tin buồn, khi tôi vào căn phòng nhỏ, cô ta không mỉm cười, cũng không tỏ ra là cô ấy biết tôi. Về sau cô ấy nói với tôi rằng cư xử như vậy là không chuyên nghiệp. Chúng tôi bắt tay nhau, và cô ta có vẻ thuần thục như một võ sĩ quyền anh trước khi vào trận. Rồi cô ấy quay về góc phòng ngồi nghỉ, cứ như đợi hồi chuông báo. Cô ngồi yên lặng trong một bộ quần áo màu xanh lục. Người đàn ông đi cùng cô ấy là một thanh niên trạc 22 tuổi, vai rông, khỏe mạnh, tay cầm tờ CV của tôi.

    Giữa 2 người đã có 2 năm kinh nghiệm làm việc trong nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Điều lố bịch nhất trong những cuộc phỏng vấn của ngân hàng đầu tư tại trường chính là những người được cử về để tiến hành phỏng vấn. Rất nhiều người trong số họ chưa làm việc ở Wall Street quá một năm. Những lời lẽ họ ưa dùng là các từ chuyên môn. Ngồi cứng nhắc, cử chỉ trịnh trọng, nói năng rõ ràng, nhâm nhi cốc nước lạnh kiểu nghề nghiệp. Cười, cạo cạo xuống bàn không phải là tác phong chuyên nghiệp. Bạn tôi và người đi cùng là thể hiện số một của trường hợp chống lại việc muốn tỏ ra là nhà chuyên nghiệp. Một năm trên Wall Street làm họ biến dạng đi nhiều. Bảy tháng trước còn nhìn thấy bạn tôi trong khuôn viên trường, mặc quần jean, áo thun logo, nói năng nhảm nhí. Cô ta nốc bia còn nhiều hơn cả mức sức khỏe cho phép. Tóm lại, cô ta là một sinh vinh điển hình. Bây gờ thì cô ta là một đối thủ đáng gờm trong cơn ác mộng Orwellian của tôi.

    Người thanh niên kéo chiếc ghế phía sau cái bàn sắt lạnh lẽo và bắt đầu đặt câu hỏi với tôi. Có lẽ cách tốt nhất để mô tả cuộc gặp gỡ của chúng tôi là kể lại chi tiết. Trí nhớ là điều tốt nhất về những chuyện đã qua trong cuộc đối thoại này.

    Người thanh niên: anh hãy giải thích cho tôi sự khác biệt giữa investment bank và commercial bank?

    Tôi: ( sai lầm thứ nhất là việc tôi xao lãng không nắm lấy cơ hội để khen ngợi giới investment banker và dồn sự nhạo bang vào giờ làm việc ngắn ngủi nhàm chán về phía giới ngân hàng thương mại) Investment banker phát hành cổ phiếu. Anh thấy đấy, cổ phiếu và trái phiếu. Comercial banker chỉ cho vay mà thôi.

    Người thanh niên: Tôi thấy anh có nhiều tài năng về môn lịch sử nghệ thuật. Tại sao? Thế anh có lo ngại khi xin việc không?

    Tôi: ( bám sát đường lối chỉ đạo của khoa lịch sử nghệ thuật ở Princeton): Ồ môn lịch sự nghệ thuật gây sự quan tâm của tôi nhiều nhất, và khoa đó ở đây thật tuyệt vời. Vì trường Princeton không có khóa đào tạo hướng nghiệp nào nên tôi không cho rằng lựa chọn chuyên môn trong trường đại học lại tách biệt lắm với chuyện xin việc.

    Người thanh niên: Anh có biết tổng sản phẩm quốc gia (GDP) của Hoa Kì là bao nhiêu không?

    Tôi: không dám chắc, nó khoảng 500 tỉ đôla

    Người thanh niên: ( đưa mắt đầy ý nhị với người phụ nữ mà tôi nghĩa là bạn tôi) Có tới hơn 3000 tỉ chứ. Anh thấy đấy, chúng tôi phỏng vấn hàng trăm người cho từng vị trí khác nhau. Anh đang chọi lại nhiều người có tài năng về kinh tế lại tinh thông nghiệp vụ của mình. Tại sao anh lại muốn trở thành investment banker?

    Tôi: ( rõ ràng câu trả lời thật thà nhất là tôi cóc biết. Có điều không chấp nhận được. Sau một hồi câu giờ, tôi cho anh ta câu trả lời mà tôi nghĩ anh ta muốn nghe). Ồ thật ra, nói cho cùng thì tôi muốn kiếm tiền.

    Người thanh niên: Đó không phải là câu trả lời chính xác với nghề này, anh làm việc nhiều giờ liền thì phải có động cơ nào đó thúc đẩy mạnh hơn cả đồng tiền ây chứ. Sự thực lương của chúng tôi phù hợp với sự đóng góp của chúng tôi. Thực tình mà nói chúng tôi không khuyến khích những người quá quan tâm đến đồng tiền tham gia cùng với chúng tôi. Thế thôi, xong rồi.

    Thế thôi sao? Những lời đó reo vào tai tôi. Trước khi tôi có thể dừng chuyện đó lại thì tôi đã đứng bên ngoài căn phòng nhỏ, mồ hôi lạnh toát để nghe ứng cử viên tiếp theo bị quay. Chưa bao giờ, dù chỉ trong một khoảnh khắc tôi lại nghĩ rằng người ta lại không chấp nhận một người yêu tiền làm việc cho ngân hàng đầu tư. Tôi từng cho rằng invement banker cũng kiếm tiền để sinh sống thôi, theo kiểu hãng Ford sản xuất xe hơi vậy. Ngay cho dù mấy nhân vật phân tích không được trả lương hậu hĩnh bằng mấy nhà investment banker, tôi vẫn cho rằng người ta muốn nói họ ít nhất cũng tham lam. Tại sao người thanh niên vai rộng của Lehman ấy mếch lòng với gợi ý ấy? Một người bạn đã kiếm được việc làm ở Lehman Brothers về sau này giải thích. Anh ta nói: “ Đó là điềm cấm kị. Khi được hỏi tại sao bạn muốn trở thành investment banker, bạn chỉ được nói về những thách thức và mong muốn thực hiện công việc giao dịch buôn bán và hứng thú khi được làm việc với những người có phẩm chất năng lực cao. Nhưng, không bao giờ, đừng bao giờ nhắc đến tiền.”

    còn tiếp...
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Học cách nói dối thì dễ. Tin vào nó lại là vấn đề khác. Từ đó trở đi, bất cứ một investment banker nào hỏi về động cơ của tôi, tôi liền dắt ông ta vào những câu trả lời chính xác: sự thách thức, sự hồi hộp trong những giao dịch, về những con người. Đúng, vài năm về trước, khi tôi tự nhủ điều này khó mà hợp lí được (thậm chí tôi còn làm tương tự điều đó với bà vợ ông giám đốc điều hành Salomon Brothers). Tuy nhiên, việc đồng tiền không phải là động lực bao quát ở đây thì hoàn toàn chính xác là một cục *** bò (nv bull****). Nhưng bên trong văn phòng hướng nghiệp của trường Princeton, bạn không thể để cho sự thật chen ngang vào công cuộc tìm kiếm việc làm. Tôi đã tâng bốc mấy tay investment banker. Đồng thời tôi cũng sôi lên vì thái độ đạo đức giả của họ. Tôi định nói, trong những ngày ấu trĩ ấy, liệu có ai cũng phải nghi ngờ tầm quan trọng của đồng tiền trên Wall Street hơn chính những người ở Wall Street, khi nói chuyện với những người từ nơi khác tới hay không?

    Sôi lên rồi dịu đi. Cần phải dịu đi. Từ khi tôi tốt nghiệp đại học Princeton, tôi không có việc làm ( công ty Solomon đã từ chối mà không cần phỏng vấn). Trong những năm tiếp theo, trong khi trải qua 3 nghề, tôi bắt đầu cảm thấy tôi vẫn không khác gì kẻ thất nghiệp như những investment banker nhìn thấy ở tôi. Tôi cũng không nghi ngờ về những gì tôi xứng đáng có được. Tôi chỉ không thích cái cách mà tôi phải trả giá. Tôi không học được điều gì từ chồng thư từ chối của Wall Street ngoài trừ việc mấy tay investment banker làm ăn trên thị trường vì lòng trung thực hay vì sự phục vụ của tôi (cũng không phải là vì 2 điều này có liên quan với nhau). Một cuộc phỏng vấn thành công vào ngân hàng đầu tư của sinh viên năm cuối có vẻ như một câu chuyện đậm nét giáo điều. Còn một cuốc phỏng vấn bất thành thì lại giống một tai nạn khủng khiếp. Buổi phỏng vấn với Lehman Brothers của tôi là điển hình không chỉ cho kinh nghiệm riêng của tôi mà còn cho hàng nghìn cuộc phỏng vấn do một chục ngân hàng với mấy chục trường đại học từ khoảng năm 1981 đến nay.

    Dẫu sao, câu chuyện vẫn kết thúc có hậu. Công ty Lehman Brothers cuối cùng đã vỡ nợ. Một cuộc chiến giữa những trader và những tay corporate finance đã làm cho công ty sụp đổ vào đầu năm 1984. Phe trader đã chiến thắng, nhưng ngôi nhà oai nghiêm Lehman Brothers không còn đáng để mà ở trong đó nữa. Những vị giám đốc và cổ đông cao cấp ( Partner) phải lật ngữa mũ ra , đi tới đối thủ cạnh tranh Sheason để xin được mua lại. Cái tên Lehman Brothers mãi mãi bị xóa trên những tấm danh thiếp trên Wall Street. Khi tôi đọc tin này trên tờ báo New York Times, tôi nghĩ, thoát nợ! , thừa nhận rằng đó không phải là cách phản ứng của một con chiên ngoan đạo. Liệu điều không may xảy ra với Lehman Brothers có trực tiếp liên quan đến việc không vui lòng khi phải thú nhận rằng kiếm tiền là động lực chính của nó hay không, tôi thực không biết.



    [/FONT]
  3. vuadauco

    vuadauco Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 24, 2011
    Likes Received:
    19
    [FONT=&quot]CHƯƠNG III[/FONT][FONT=&quot]

    HỌC CÁCH YẾU MẾN/ĂN BÁM VĂN HÓA CỦA CÔNG TY MÌNH.

    Kẻ nào biến được mình thành quái vật thì sẽ xóa được hết nỗi đau làm người. – Samuel Jackson


    Tôi còn nhớ chính xác những gì tôi thấy và cảm nhận được trong ngày đầu tiên ở Solomon Brothers. Một cảm giác run run vì lạnh bao trùm toàn thân như thể vẩn còn mơ màng ngái ngủ. Với một lí do. Tôi không phải bắt đầu làm việc cho đến 7h30 sáng nên tôi dậy sớm và đi dạo khắp Wall Street trước khi đến văn phòng. Tôi chưa bao giờ thấy nơi này . Một phía có một dòng sông, còn phía bên kia là một nghĩa địa. Ở khoảng giữa là khu Mahattan cổ kính. Một hẻm núi hẹp và sâu ( ct: có thể hiểu là con đường lọt giữa 2 bên là dãy nhà cao tầng) mà trong đó những chiếc taxi màu vàng luồn lách qua những nắp cống, ổ gà và những đống rác. Những đoàn người khoác bộ vest ào ào cuốn vào ga xe điện ngầm Lexington. Đối với giới thượng lưu, những người này có vẻ không được hạnh phúc. Họ trông nghiêm túc, căng thẳng, ít ra thì cũng nghiêm túc hơn tôi lúc này nhiều. Tôi chỉ có vài nỗi bồn chồn lo sợ thường xuất hiện khi khởi đầu một cái gì mới. Lạ lùng thay, tôi không thể tưởng tượng rằng cuối cùng thì mình cũng đã đi làm, mà lại giống như đi đổi tờ vé số trúng giải độc đắc.

    Solomon Brothers đã gửi cho tôi một lá thư tại London thông báo rằng công ty sẽ trả tôi mức lương của môt thạc sĩ quản trị kinh doanh ( MBA) mặc dù tôi không có bằng MBA. Khoảng 42,000 đôla cộng thêm tiền thưởng. Hồi ấy tôi không có đủ trình độ cần thiết để cảm thấy hèn mọn đối với 48,000 đôla (tương đương 45,000 bảng Anh lúc đó) một năm. Khi tin đó nhận được ở nước Anh, nơi mà đồng lương tập tễnh làm nổi bật tính hào phóng của Solomon Brothers. Một giáo sư trưởng khoa ở trường kinh tế London, người mà lúc nào cũng hay quan tâm đến những gì liên quan đến vật chất, đã trố mắt lên nhìn tôi, ríu rít nói khi ông ta nghe thấy số tiền tôi được trả. Nó gấp đôi lương của ông ta ở tuổi 40, ở đỉnh cao của sự nghiệp. Tôi mới 24 tuổi và ở đáy của sự nghiệp. Không có sự công bằng trên thế giới này, và xin cám ơn Chúa về điều đó.

    Có lẽ nên giải thích đồng tiền này xuất phát từ đâu thì hay hơn là cứ nghĩ nhiều về nó. Năm 1985 là năm công ty Solomon Brothers làm ăn có lãi nhất thế giới. Ít nhất đây là những gì tôi được nghe nhiều lần. Tôi không bao giờ phải áy náy để kiểm tra lại bởi vì dường như đối với tôi nó hoàn toàn đúng. Wall Street đang sôi sục và chúng tôi là công ty kiếm nhiều tiền nhất trên Wall Street.

    Wall Street luân chuyển cổ phiếu và trái phiếu. Vào cuối những năm 1970 là thời kì bắt đầu của cả lịch sử tài chính và nền chính trị hiện đại Mỹ. Solomon Brtohers am tường về trái phiếu hơn bất kì công ty nào khác trên Wall Street: biết cách định giá, cách buôn bán nó. Chỉ có 1 mảng nhỏ duy nhất mà công ty không chiếm ưu thế: trái phiếu thứ cấp (junk bond), mà chúng ta sẽ đề cập tới sau, lại là sở trường của một công ty khác rất giống chúng tôi: Drexel Burnham. Nhưng vào cuối những năm 1970 và đầu 1980, trái phiếu thứ cấp chỉ chiếm một phần nhỏ trong một thị trường trái phiếu rộng lớn mà Solomon chiếm lĩnh hoàn toàn. Phần còn lại của Wall Street đành nhường bước và đầu hàng Solomon Brothers không phải vì họ không thu được lợi nhuận mà cũng không phải họ không có uy tín. Lợi nhuận nhiều nhất là từ huy động vốn ( cổ phiếu) cho các công ty. Uy tín là có nhiều mối quan hệ với giới điều hành các công ty. Solomon Brothers lại là một công ty đứng ngoài các mối quan hệ tài chính và xã hôi.

    Dù như thế nào thì đó cũng là điều tôi nghe được. Thực khó để chứng minh vì chỉ là những lời nói miệng. Nhưng hãy nghĩ xem lời nói đùa mở đầu buổi diễn thuyết tại trường Wharton vào tháng 3, 1977 của Sydney Homer thuộc Solomon Brothers, nhà phân tích trái phiếu hàng đầu của Wall Street từ những năm 1940 đến 1970. Homer nói: “ Tôi cảm thấy bế tắc về công việc của mình. Vào những bữa tiệc rượu ****tail, các quí bà cứ dồn dập hỏi tôi về quan điểm của tôi về thị trường, nhưng chao ôi, khi họ biết được tôi là một người kinh doanh trái phiếu thì họ cứ lẳng lặng bỏ đi”.

    Hay hãy suy nghĩ xem về chính việc thiếu bằng chứng. Có 287 quyển sách nói về trái phiếu trong thư viện thành phố New York và hầu hết chúng đều chứa đầy công thức phức tạp. Không có cuốn nào mà không có những con số khô khan, hay mang những tựa đề hấp dẫn đại loại như “ Mặt trận trái phiếu yên ả”, “ Chiến lược cho nhà đâu tư với rủi ro thấp”. Nói cách khác, những cuốn đó không thuộc loại sách mà bạn phải ngồi dở liền tay từng trang và dán chặt thân vào ghế. Người ta thường cho rằng con người có xu hướng để lại cho xã hội những tri thức quí giá thông qua những hồi kí và giai thoại hơn. Nhưng có đến hàng chục hồi kí và giai thoại kinh điển như vậy cho thị trường chứng khoáng thì thị trường trái phiếu lại hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Dân trái phiếu có cùng một vấn đề giống như với những nhà khảo cổ ở tận sâu trong rừng Amazon. Một phần là bởi vì những người trong thế giới trái phiếu không phải là những học giả hoặc có học vấn cao, càng làm cho nó không được hấp dẫn. Năm 1968, lần cuối cùng tính về số bằng cấp ở Solomon Brothers, 13 trong số 28 vị Partners không học đại học và một người chưa tốt nghiệp lớp 8. Trong đám này, John Gutfruend có vẻ là người trí thức nhất, mặc dù ông ta bị đại học Havard từ chối, xong ông ta cũng đã tốt nghiệp trường Oberlin ( ct nd: trường hạng xoàng).

    Còn tiếp...
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Câu chuyện hoang đường lớn nhất về dân bond trader và cho nên sự hiểu lầm lớn nhất về sự phồn vinh chưa hề thấy trên Wall Street vào những năm 1980 là họ kiếm tiền bằng cách cả gan liều mạng ( take big risk). Đúng là có một số ít., Còn tất cả các trader đều ít liều hơn. (take small risk). Phần lớn các trader hành động đơn giản như những kẻ thu thuế. Sự phát đạt họ có được, như Kurt Vonet (nhưng lại nói về dân luật sư) đã tóm lược một cách ngắn gọn là: “ Có một khoảnh khắc kì diệu khi một người dâng nộp một kho báu mà chính người sắp nhận kho báu đó lại chưa kịp nhận ra. Một luật sư nhanh nhẹn ( tôi lại muốn ám chỉ trader) sẽ chớp lấy vận may, sở hữu nó trong tích tắc, lấy đi một phần kho báu và rồi chuyền nó đi.”

    Nói cách khác, Salomon đã cắt lại một phần nhỏ từ mỗi giao dịch tài chính. Cứ thế mà công lên. Saleman của Solomon bán trái phiếu mới của IBM trị giá 50 triệu USD cho Quĩ hưu trí X. Trader ở Solomon, người cung cấp cho saleman số trái phiếu đó, được hưởng 1/8 của một phần trăm (0.125%) trị giá trái phiếu hay 62,500 đôla. Nếu trader đó muốn, anh ta có thể lấy thêm. Thị trường trái phiếu không như thị trường cổ phiếu, tỉ lệ hoa hồng không được tuyên bố công khai.

    Bây giờ trò vui bắt đầu. Khi mà trader biết được những trái phiếu IBM đó đang thuộc về ai và tính nết của người chủ của nó, anh ta không cần phải thông minh lắm cũng có thể cho những trái phiếu ( kho báu) di chuyển một lần nữa. Anh ta có thể tạo ra ra giây phút kì diệu của riêng mình.Anh ta có thể , ví dụ như bảo saleman của mình cố gắng thuyết phục công ty bảo hiểm Y rằng những trái phiếu IBM có giá trị cao hơn cái giá mà Quĩ hưu trí X đã trả lúc đầu. Điều đó đúng hay không thì cũng không quan trọng. Trader đó mua lại những cỗ phiếu từ X và bán chúng cho Y lấy thêm 1/8 khác. Và Quỹ hưu trí thì rất hài lòng vì có được một món lãi nhỏ trong một thời gian ngắn ngủi như thế thôi.

    Trong tiến trình trên, tốt nhất là không để cả hai đối tác từ 2 phía của người trung gian biết giá trị thực của trái phiếu đó. Những người trên sàn giao dịch có thể đã không được đi học, nhưng học có bằng tiến sĩ về sự ngu xuẩn của con người. Trên bất cứ thị trường nào cũng giống như chơi trên một sòng bài xì phé, bao giờ cũng có một thằng khờ. Nhà đầu tư tinh ranh Warren Buffet thích nói rằng nếu anh không nhận ra ai là thằng khờ đó trong thị trường thì coi chừng anh chính là nó. Năm 1980, khi mà thị trường trái phiếu bừng dậy từ một giấc ngủ dài, thì nhiều nhà đầu tư và thậm chí cả các ngân hàng ở Wall Street cũng không có một manh mối nào đề nhận ra ai là thằng khờ trong trò chơi này. Traders trong công ty Solomon Brothers biết ai là thằng khờ bởi vì đó là nghề của họ. Hiểu về thị trường là hiểu về những điểm yếu của những kẻ khác. Họ vẫn thường nói một thằng khờ là người sẵn sàng bán trái phiếu rẻ hơn giá trị thực của nó hay mua trái phiếu giá cao hơn giá trị thực của nó. Một trái phiếu chỉ đáng giá cho người nào đánh giá nó đúng. Và Solomon là công ty đã đánh giá những trái phiếu đúng nhất.

    Nhưng không thể nào giải thích được tại sao công ty Solomon Brothers đặc biệt phát tài vào những năm 1980. Việc kiếm tiền trên Wall Street hơi giống như việc ăn thịt nhồi con gà tây. Một cơ quan quyền lực cao hơn nào đó, đầu tiên phải nhồi nhân vào con gà tây. Con gà tây được nhồi trong những năm 1980 nhiều hơn bao giờ hết. Và công ty Solomon do sự thông thạo của mình, đã ăn đến lần thứ 2, thứ 3 trước khi các công ty khác biết rằng đang có bữa ăn.

    Một trong những người làm công việc nhồi nhân con gà đó là Cục Dự Trữ Liên Bang ( FED). Điều đó thực mỉa mai vì không ai phản đối những cái vượt quá giới hạn của Wall Street vào những năm 1980 của ông chủ tịch FED Paul Volcker. Tại một cuộc họp báo hiếm hoi thứ bảy ngày 6/10/1979, Volker tuyên bố rằng lượng cung tiền sẽ không biến động theo chu kì kinh tế nữa, nguồn cung tiền này sẽ được giữ cố định, và lãi suất sẽ được thả nổi. Tôi nghĩ, sự kiện đó đánh dấu bước khởi đầu của thời đại hoàng kim của dân bond trader. Nếu như Volcker không bao giờ làm cuộc cải tổ căn bản với chính sách đó thì thế giới ấy sẽ có biết bao bond trader ngày một nghèo đi, sự thay đổi tập trung vào chính sách tiền tệ có nghĩa là lãi suất sẽ hết sức biến động. Giá trái phiếu ngược chiều với lại suất. Để cho lãi suất biến động tức là để cho giá trái phiếu biến động. Trước khi có bài diễn văn của Volcker thì trái phiếu là phương tiện đầu tư bảo thủ, nơi mà các nhà đầu tư bỏ tiền tiết kiệm của mình vào đó khi mà họ không cảm thấy hào hứng trong thị trường chứng khoán. Sau bài diễn văn của Volcker, các trái phiếu đã trở thành phương tiện để đầu cơ, một hình thức tạo nên sự giàu có chứ không phải chỉ để lưu giữ giá trị. Qua một đêm thị trường trái phiếu được chuyển từ một vũng nước thành một sòng bạc. Doanh thu của Salomon tăng vọt. Ngày càng thêm nhiều nhân viên được thuê cho các công việc kinh doanh mới với lương khởi đầu là 48,000 đô la.

    Khi mà Volcker đã để lãi suất thả nổi tự do, thì những bàn tay nhồi nhân gà tây bắt đầu làm việc. Các chính quyền tiểu bang, người tiêu dùng và các công ty vay tiền với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết, điều này có nghĩa khối lượng giao dịch, phát hành trái phiếu cũng bùng nổ (một cách khác để nhìn vào vấn đề này là các nhà đâu tư đang cho vay tiền một cách thoải mái hơn trước đây). Số tiền nợ của ba nhóm trên hợp lại vào năm 1977 là 323 tỉ đôla, phần nhiều trong đó không phải là trái phiếu mà là những khoản do các ngân hàng thương mại cho vay. Vào năm 1985 ba nhóm đó đã vay 7000 tỉ đô la. Còn gì nữa, nhờ có các chủ thầu tài chính như công ty Solomon và tính hay dao động của các ngân hàng thương mại, tỉ lệ phần trăm của các món nợ dưới hình thức trái phiếu đã lớn hơn nhiều so với trước.

    Vì vậy không những giá trái phiếu dao đông mạnh hơn mà tính thanh khoản cũng tăng. Chẳng có gì thay đổi trong nội bộ công ty Solomon Brothers đã làm cho traders mạnh mẽ hơn . Tuy nhiên, bậy giờ trader làm bùng nổ cả về qui mô lẫn tần số giao dịch. Một saleman ở Solomon trước đây chỉ bán được 5 triệu đô la giá trị hàng hóa trong sổ sách của trader mỗi tuần thì bây giờ có thể đẩy 300 triệu đô la chỉ trong một ngày. Anh ta cùng với trader và công ty tha hồ làm giàu. Và họ quyết định rằng, vì lí do tốt cho công ty, bỏ ra phần nào số tiền trên để đầu tư, mua những người như tôi.

    Còn tiếp....
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Các lớp đào tạo ở công ty Solomon Brothers được dạy ở trên tầng 23 một tòa nhà của công ty nằm tại góc đông nam của Mahattan. Cuối cùng thì tôi cũng đã leo lên được tới đó để…bắt đầu sự nghiệp. Thoạt nhìn thì tầng lầu có vẻ trống vắng, lạnh lẽo. Mấy học viên khác hình như đã đến cách đây mấy giờ đồng hồ rồi. Thực tế thì, để có lợi thế hơn những người khác, phần lớn đã ở đây hàng tuần trước. Trong lúc tôi đi vào, họ đã tụ tập thành từng đám trên hành lang hay trong phòng giải lao phía sau nói chuyện luyên thuyên. Nó như là một cuộc đoàn tụ. Tất cả mọi người đều quen biết nhau. Bè nhóm đã hình thành. Tất cả các két gửi đồ có khóa tốt nhất đã được bị chiếm. Những người mới đến bị xem xét với vẻ nghi ngờ. Những ý nghĩa về ai là “người giỏi” đã hình thành, có nghĩa là ai sẽ được vào làm trên sàn giao dịch Solomon, và ai là kẻ thất bại.

    Có một nhóm đứng thành vòng tròn ở góc phòng giải lao đang chơi một trò chơi mà lúc đó tôi không nhận ra, nhưng bây giờ thì biết, “ Bài Nói Dối”. Họ cười nhạo, chửi rủa và liếc nhìn bài nhau, nói chung cư xử theo phong cách của trader. Họ đeo thắt lưng. Tôi nghĩ rằng, lúc đó tôi đã bỏ ngay lập tức cái ý tưởng cảm thấy Solomon Brother là nhà của mình, khi thấy những cái thắt lưng đó. Tôi thì đeo lên mình sợi đai quần màu đỏ tươi có những đồng đôla bằng vàng chạy dọc. Đã đến lúc nên đóng vai một investment banker. Lầm to. Về sau có một học viên tốt bụng cho tôi lời khuyên, “ Đừng có để họ thấy anh trên sàn giao dịch với cái thứ này. “Chỉ có mấy ông giám đốc điều hành mới có thể tránh được phiền hà khi đeo nó thôi”. Họ sẽ nhìn anh và nói: “ Đ. Mẹ, mày là thằng con Q. nào?”

    Tôi cũng còn nhớ rằng khi tôi bước vào phòng giải lao buổi sáng đầu tiên đó, một học viên nữ đang quát tháo trên cái điện thoại, chắc phải là điều gì đó một mập mờ. Giữa cái tháng bảy nóng như thiêu đốt, cô gái mập lùn này mặc một bô vest ba mảnh bằng vải tweed và đeo một cái nơ con **** màu trắng quá cỡ, đến nỗi tôi không cần phải đắn đo cho rằng cô ta làm thế chỉ để gây sự chú ý. Cô ta đặt một tay che ống nghe và nói với một nhóm nhỏ phụ nữ ngay đó: “Nè mấy chị, tôi có thể đặt 6 bộ vest hoàn chỉnh chỉ với giá 750 đôla. Hàng chất lượng nhá. Giá này rất tốt. Mấy chị không thể tìm ra chỗ nào rẻ hơn đâu”.

    Chính nó giải thích điều đó. Cô ta mặc bộ tweed chỉ vì cô ta đang bán quần áo mang bằng vải tweed thôi. Cô ta đoán chính xác rằng lớp thực tập đã đại diện cho một thị trường: Những người này có tiền để đốt, có mắt để mặc cả và có tủ quần áo lớn để chứa. Cô ta đặt chúng từ một cái sạp Ba Tàu nào đó với số lượng lớn. Khi nhận thấy tôi đang nhìn, cô ta nói ngay “đàn ông tôi cũng chơi”. Cô ta không có ngụ ý tục tĩu. Thế nên lời nói đầu tiên tôi nhận được hôm đó lại là từ một người định bán cho tôi một cái gì đó. Thật đúng là một chào đón của Solomon Brothers.

    Từ một góc tối nhất của phòng giải lao phát ra một tia hi vọng nhỏ, đó là dấu hiệu đầu tiên cho thấy có những khái niệm khác về cuộc sống ở Solomon Brothers. Một anh chàng béo mập nằm dang tay trên sàn nhà, đến nỗi tôi có thể xác định là hắn đang ngủ. Chiếc áo sơ mi của hắn thì bỏ ngoài quần và nhàu nếp; cái bụng trắng phớ xỗ sàng như một cục bướu của con cá voi chỗ mấy cái khuy không được cài. Miệng hắn mở rộng y như đang đợi một chùm nho rơi vào. Hắn là một người Anh, được quyết định trước sẽ làm cho một văn phòng ở London về sau tôi được biết và tỏ ra không băn khoăn gì về nghề nghiệp của hắn lắm. So với phần lớn các thực tập sinh, thì hắn là một người trong cuộc. Hắn phàn nàn liên miên về việc bị công ty đối xử như một thằng con nít. Hắn đã sống với thị trường ở London được tròn 2 năm và đã thấy hết ý định của sự lố bịch trong chương trình huấn luyện. Vì vậy hắn biến Mahattan thành nơi quậy phá vào ban đêm và cố hồi sức vào ban ngày. Hắn uống mấy bình cà phê và lăn ra ngủ trên sàn lớp đào tạo, mà từ chỗ đó đã gây được ấn tượng đầu tiên không thể gội sạch đối với nhiều bạn đồng nghiệp mới của hắn.

    127 thành viên của khóa 1985 là một trong những đợt sóng rũ sạch đi những gì gọi là sàn giao dịch sinh lãi nhiều nhất thế giới. Vào thời kì ấy chúng tôi thuộc lớp đào tạo lớn nhất trong lịch sử của Solomon, và khóa sau chúng tôi lại lớn gần gấp đôi. Tỷ lệ nhân viên giúp việc cho một nhà chuyên môn (tin nổi không? chúng tôi cũng là những nhà chuyên môn!) là 5 trên 1, do vậy 127 chúng tôi có nghĩa cần thêm 635 nhân viên giúp việc. Số lượng tăng nhanh lại là một bi thảm cho một công ty có sơ sơ hơn 3000 người. Sự gia tăng quá nhanh này dần dần sẽ làm cho công ty bị què quặt và thậm chí cả chúng tôi nữa. Nó không được tự nhiên, tựa như cứ tưới quá nhiều phân lên một cái cây con vậy. Vì một lí do kì lạ nào đó mà ban quản lí điều hành đã không đồng ý với quan điểm của tôi.

    Nhìn lại, thực rõ ràng đối với tôi rằng việc đến với Solomon Brothers đã đánh dấu điểm bắt đầu về kết cục của thể chế thần thánh này. Dù tôi đi đến đâu, tôi cũng không thể thấy gì khác hơn ngoài sự vỡ vụn của nó. Tôi không phải là một bánh răng đủ lớn trong cổ máy để trực tiếp gậy ra sự suy vi của công ty. Nhưng họ để cho tôi và những người đánh lưới như tôi bước qua cánh cửa là một dấu hiệu báo trước. Hồi chuông đã điểm. Họ đang mất đi cá tính của mình. Họ từng là những tay buôn ngựa sắc sảo. Hiện nay họ đang sai lầm khi thu nhận rất nhiều loại người. Ngay cả những người có đầu óc kinh doanh hơn tôi, chẳng hạn như cái cô gái bán quần áo đó đều không có ý định cống hiến cuộc đời mình cho Solomon Brothers. Và cả tôi cũng vậy.

    Chẳng có gì trói buộc chúng tôi vào công ty cả ngoài những gì đã lôi cuốn nhiều người trong chúng tôi xin vào làm: vì tiền và niềm tin kì lạ là chẳng có công việc nào khác trên thế gian này đáng làm hơn. Chính xác không phải vì lòng trung thành sâu sắc. Trong tầm 3 năm, 75% trong số chúng tôi ra đi ( so với những năm trước đây sau 3 năm, trung bình 85% trong lớp đó vẫn còn làm việc với công ty). Sau đợt pha trôn những người lạ này với ý định giữ họ thì công ty lại đi vào chỗ lung lay, giống như bị rối loạn tiêu hóa vì ăn quá nhiều thứ lạ.

    Chúng tôi là một nghịch lí. Chúng tôi được thuê để giao dịch trên thị trường, để tinh ranh hơn kẻ đứng kế bên, nói đơn giản là để thành trader. Hãy hỏi bất cứ trader khôn ngoan nào thì anh ta sẽ nói cách tốt nhất là phải làm ngược với những hiểu biết thông thường. Những trader giỏi có thiên hướng làm những việc không mong đợi. Chúng tôi là một nhóm người khó ai có thể đoán trước được. Đến với Solomon, chúng tôi chỉ đang làm những gì mà một người mê tiền phải làm. Nếu chúng tôi hưng phấn với những điều bình thường trong cuộc sống, thì làm sao có thể hưng phấn với những điều bình thường trên thị trường ? Rút cuộc, thị trường lao động vẫn là một thị trường.

    Còn tiếp...
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Chúng tôi tỏ ra lễ độ trước một người đàn ông cao lớn giống như tỏ ra trước bất kì ai, là không nói năng gì cả. Ông ta giảng bài cho cả buổi chiều. Có nghĩa là ông ta đã bị kẹt 3 tiếng đồng hồ trong một cái rãnh rộng 10 feet trên cái sàn ở phía trước căn phòng với một cái bàn dài, một cái bục diễn thuyết và một cái bảng đen. Người đàn ông bước đi bước lại trong cái rãnh đó như một huấn luyện viên đứng ngoài mép biên, thỉnh thoảng liếc xuống sàn nhà, đôi lúc lại tỏ vẻ đe dọa chúng tôi. Chúng tôi ngồi trong dãy ghế được kết với nhau – 22 dãy bàn với học viên nam mặc sơ mi trắng, lác đác mấy học viên nữ sinh mặc áo dài màu xanh nước biển, 2 da đen, và một nhóm người Nhật Bản. Màu kem u buồn của món súp nghêu vùng New England của bốn bức tường và sàn nhà nói lên tâm tình của lớp học. Một bức tường có những kẻ những cửa sổ dài và hẹp, có tầm nhìn quét hết cả khu cảng New York và tượng Nữ Thần Tự Do nhưng bạn phải ngồi ngay bên cạnh nó thì mới nhìn thấy hết và ngay cả khi đó bạn cũng không được phép đắm đuối ngắm phong cảnh ấy.

    Đúng ra nó giống một nhà tù hơn là một phòng học. Căn phòng nóng bức và thiếu không khí. Những chiếc đệm ghế màu xanh khó nhìn mỗi khi đứng dậy sau một ngày mài đũng quần vào đó. Sau khi ngấu nghiến một cái cheese hamburger to đùng đầy mỡ và chỉ có một thoáng quan tâm mang tính xã hội vào người giảng viên, cơn buồn ngủ bao trùm lên tôi. Chúng tôi chỉ mới bước vào tuần đầu tiên của 5 tháng huấn luyện, vậy mà tôi đã kiệt sức. Tôi lặng chìm trên ghế của mình.

    Người giảng viên hôm đó là một bond trader hàng đầu của Solomon. Trên chiếc bàn phía trước căn phòng có một cái điện thoại, sẽ reo lên mỗi khi thị trường trái phiếu biến động. Khi bước đi, ông phải khép chặt hai tay vào sườn để che đi vết hằn mồ hôi hình bán nguyệt đang to lên dưới nách ông. Nỗ lực hay kiên cường? Có lẽ là kiên cường. Bạn không thể quở trách ông ta được. Ông ta cố bày tỏ niềm tin từ tận đáy lòng mình và chính vì vậy mà trông ông ta dữ dằn hơn bất kì giảng viên nào từ trước tới giờ. Tôi lại thuộc thiểu số những người thấy ông ta có một chút gì buồn ngủ, tẻ nhạt. Ông ta vẫn hoàn hảo trước đám học viên. Đám học viên ngồi ở hàng cuối vẫn lắng nghe chăm chú. Khắp phòng, tất cả học viên đều bỏ chơi trò ô chữ trên tờ báo New York Times xuống. Ông ta đang kể cho chúng tôi cách để tồn tại. “ các anh phải biết rằng Solomon Brother giống như một khu rừng”. Ông ta nói. Thật ra không phải như vậy, nó như thế này: “kéc anh phãi bét ràng Solomon Bờ rada giống như một khu ràng”.( nói ngọng kiểu miền tây)

    “Sàn giao dịch là một khu rừng nhiệt đới” ông ta tiếp tục “ và người mà anh sau này sẽ làm việc cho chính là người kiểm lâm. Thành công hay thất bại hoàn toàn tùy thuộc vào cách tồn tại trong rừng. Bạn nên học hỏi ở sếp của bạn, ông ấy là chìa khóa. Hãy tưởng tượng xem tôi lấy 2 người và đặt họ vào giữa khu rừng và tôi cho một người cuốn cẩm nang đi rừng còn người kia thì chẳng có gì. Bên trong khu rừng có nhiều bãi lầy, thú dữ và nhiều thứ rùng rợn. Bên ngoài khu rừng có một cái tivi đang phát trận chung kết giải vô địch bóng đá quốc gia và một cái tủ lạnh khổng lồ đầy…Bud ( bia Budweiser)”

    Ông giảng viên này đã tìm thấy bí mật cho việc điều khiển khóa 1985 của Solomon Brothers: Hãy chiến thắng những trái tim và khối óc của hàng ghế sau cuối. Hàng ghế sau, từ khoảng ngày thứ ba của khóa học, mấp mé bên bờ vực của sự hỗn độn. Thậm chí khi cảm thấy vừa yêu vừa ghét giảng viên thì những người ngồi dãy ghế sau vẫn ngủ gục hay ném những nắm giấy vo tròn vào đám nhu nhược ngồi hàng trước. Nhưng nếu những người ở dãy ghế sau vì lí do nào đó không quan tâm đến người giảng viên thì thật chết tiệt, tất cả sẽ xổ ***g hết. Không phải lúc này. Sự tiết lộ sơ khởi đã quét tới phía cuối lớp học như âm điệu của tiếng mõ rừng. Giống như toán thổ dân Cro-manon đang rập rình đi săn thì thình lình phát hiện và ngần ngại trước một dụng cụ mới. Lần đầu tiên trong suốt cả ngày, đám học viên dãy bàn cuối ngả người về phía trước và thở hhhhì hhhhà.

    Với dãy bàn cuối bị vô hiệu hóa, thì người giảng viên đã điều khiển hoàn toàn khán giả, đối với đám ngồi dãy đầu thì lúc nào cũng trong trạng thái bay tự động. Những người ngồi dãy bàn đầu thì đều giống nhau trên khắp thế giới. Phần lớn dân tốt nghiệp Harvard đều ngồi ghế trước. Mỗi người trong số họ đều chào đón người giảng viên mới bằng cách vẽ một sơ đồ tổ chức. Sơ đồ giống như cây thông giáng sinh với John Gutfreund ở phía trên cùng và chúng tôi ở phía dưới cùng. Ở đoạn giữa là những khung vuông, anh ta cố kiểm soát tình huống bằng cách xác định rõ chức vị của người giảng viên, nhìn nhận vị trí của ông ấy trong hệ thống cấp bậc và để ông ấy trong khung hợp lí.

    Thật là lạ, những sơ đồ này giống như ảo thuật hơn là kinh doanh. Thứ hạng không quan trọng lắm trên sàn giao dịch. Cơ cấu tổ chức ở công ty Solomon Brothers là một cái gì đó như trò cười. Việc kiếm tiền mới thực sự quan trọng nhất. Nhưng dãy ghế phía trước thì kém tự tin hơn dãy ghế phía sau trong việc công ty là lãnh địa của những kẻ giỏi kiếm tiền. Họ đang bảo về tiền cọc (nv hedge their bet) – như lỡ công ty Solomon vẫn có vài liên hệ nào đó với những thứ họ đã được học ở trong trường.

    “ Một cái tủ lạnh đầy Bud..” người giảng nhắc lại lần thứ hai “sác xuất rất cao cho người có cẩm nang đi rừng là người đầu tiên đi xuyên rừng tới chỗ có tivi và bia. Không phủ nhận rằng người còn lại, có thể cuối cùng cũng sẽ tới được nơi đó. Nhưng đến đây người thuyết trình dừng lại nhìn chúng tôi với vẻ hơi ranh mãnh, “ Người tới sau sẽ rấâât ( nhấn giọng) khát nước và sẽ chẳng còn chút bia nào”

    Đây là là cú đấm hiệu quả. Bia. Đám bàn cuối rất thích thú. Họ chồm qua nhau, vỗ lòng bàn tay, và trông có vẻ ngờ nghệch của những anh chàng da trắng mặc vest bắt chước phong cách của dân da đen. Họ càng thích thú thì càng bớt căng thẳng. Nhưng khi không còn được nghe những câu chuyện kiểu này nữa, chúng tôi lại thấy mình đang đối diện với một người đàn ông nhỏ bé, với một hàng bút bi cài trên túi áo, đang giảng về phép toán để chuyển lãi suất nữa năm của trái phiếu( semiannual bond yield) thành lãi suất nguyên năm (annual bond yield). Đám bàn cuối hoàn toàn chán nản. “ Dẹp mẹ mấy cái phép toán chó đẻ này đi ông nội ơi” họ nói “ kể chuyện về khu rừng nữa đi”

    Còn tiếp...
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Việc dãy bàn cuối trông giống đám cổ động viên tưng bừng quậy phá sau trận đá banh hơn là loại người được kí thác sẽ trở thành lãnh đạo tương lai của ngân hàng đầu tư có lãi nhất của Wall Street đã gây rắc rối và làm khó xử cho rất nhiều ủy viên ban quản trị công ty trước lớp đào tạo. Với lượng thời gian và nỗ lực đã đầu tư vào việc tuyển mộ được những người ở dãy bàn cuối, lẫn bàn đầu, và cả lớp học, về lý thuyết , lẽ ra phải rất qui củ như một đôi quân. Nét kì lạ của sự phá vỡ kỉ luật này là ở chỗ nó ngẫu nhiên, không liên quan tới bất kì thứ gì bên ngoài chính nó và vì thế, không cách nào kiểm soát được. Mặc dù hầu hết những người tốt nghiệp từ Harvard đều ngồi dãy bàn đầu, nhưng cũng có một số ngồi ở dãy cuối. Ngay kế bên họ cũng là những người tốt ngiệp từ Stanford, Yale, Penn. Dãy bàn cuối cũng toàn là những người có học vấn đắt giá, được dạy dỗ công phu. Ít nhất nó cũng có những bộ não tương đương với dãy bàn đầu. Vậy tại sao những người này lại cứ cư xử như vậy?

    Và vì sao Solomon để điều đó xảy ra thì tôi cũng không biết. Ban quan lí công tý đã tạo ra chương trình đào tạo này, đổ vào nó đầy ắp và quay mình bỏ đi. Kết quả là một tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ với cái ác áp đảo cái thiện, cái lớn áp đảo cái bé và bắp thịt áp đảo trí tuệ. Có một nét riêng chung của dân ngồi bàn cuối, mặc dù tôi không nghĩ là nó xảy ra cho bất kì ai: Họ cảm thấy cần phải giấu đi những cá tính tốt đẹp, vẻ trí thức mà họ đã mang theo mình đến Solomon Brothers. Đây là hành động phản xạ hơn là có ý thức. Họ là nạn nhân của câu chuyện hoang đường đặc biệt phổ biến ở Solomon Brothers rằng trader là một kẻ tàn ác và trader càng giỏi thì càng tan ác. Điều này không đúng một cách tuyệt đối. Sàn giao dịch có nhiều bằng chứng cho nó, nhưng cũng có nhiều bằng chứng cho điều ngược lại. Mọi người có quyền tin vào điều họ muốn. Có một nguyên nhân cho chủ nghĩa du côn này. Cuộc đời như là một thực tập viên bị đánh đập hàng ngày bởi những người hàng xóm hung dữ. Dần dần bạn cũng trở nên mất dạy và hèn hạ. Tỉ lệ chọi để có thể được tham gia vào chương trình đào tạo này, ngoại trừ tôi là người may mắn ra là 60:1. Bạn chiến đấu gian khổ để vượt qua được tỉ lệ đó và cảm thấy xứng đáng được hưởng một chút khoây khỏa. Không hề! Công ty sẽ không kéo bạn qua một bên, xoa lưng bạn và an ủi rằng rồi thì mọi thứ sẽ tốt đẹp thôi. Mà là ngược lại., công ty xây dựng một hệ thông xoay quanh một niềm tin rằng thực tập viên phải biết mềm dẻo và khéo léo luồn lách. Những kẻ chiến thắng sau quá trình phỏng vấn bây giờ sẽ chiến đấu tiếp trong lớp học. Một cách ngắn gọn, kẻ xấu tính nhất trong những kẻ xấu tính sẽ nhận được công việc.

    Việc làm sẽ được thông báo nhỏ giọt trên cái bảng đen bên hông sàn giao dịch. Trái với những gì chúng tôi kì vọng, chúng tôi không được bảo đảm về công ăn việc làm. Có nhiều hơn một ông giảng viên đã từng nói rằng “ Hãy nhìn sang bên trái, rồi sang bên phải các anh xem. Trong vòng một năm thôi, một trong số những người này sẽ bị đá ra ngoài đường". Hàng ngang phía trên cùng của cái bảng là danh sách các phòng của sàn giao dịch như Municipal Bond ( trái phiếu đô thị), Coporate Bond ( trái phiếu công ty), Government Bond ( trái phiếu chính phủ) v.v. Còn dọc theo tấm bảng là những chi nhánh của công ty: Atlanta, Dallas, New York v.v. Cái ý nghĩa là anh ta sẽ hạ cánh tại một chổ đáng sợ nào đó trong cái ma trận ( matrix) này, hoặc chẳng nơi nào hết, càng dồn người thực tập viên vào tuyệt vọng. Anh ta dần mất hết tất cả các khái niệm về triển vọng của công việc. Anh ta không cho rằng mình may mắn vì đã có mặt ở Solomon Brothers, mà bất kì ai nghĩa theo cách ấy, đều chẳng bao giờ nhận được việc làm đầu tiên cả. Người thực tập viên ở Solomon chỉ có thể thấy được 2 thái cực của thành công và thất bại. Bán trái phiếu đô thị ở Atlanta là quá sức thê thảm. Bán trái phiếu bất đông sản (Mortgage) ở New York là vinh quang tột đỉnh.

    Trong vòng mấy tuần lễ sau khi chúng tôi đến, giám đốc mỗi phòng ban bắt đầu tranh cãi về những phẩm chất và triển vọng của chúng tôi. Nhưng mấy sếp vẫn là trader từ trong tận trái tim. Họ không thể nào thảo luận về một con người, một nơi hay một vật gì đó mà không trade nó. Dó đó, họ bắt đầu trade đám thực tập sinh, như là buôn nô lệ. Một ngày, bạn có thể thấy ba người bọn họ chúi mũi vào quyển sổ màu xanh trong đó có những tấm ảnh và hồ sơ lí lịch chúng tôi. Ngày hôm sau bạn nhận được tin bạn đã bị đổi ( swap) để lấy một người ngồi ở dãy đầu cộng với một suất lựa chọn trước tiên ( draft choice) cho một thực tập viên ở khóa kế tiếp. Áp lực tăng dần. Ai là người nghe được chuyện của người khác? Ở đâu có công việc còn lại? Như bất kì quá trình tuyển chọn nào, bao giờ cũng có kẻ thắng người thua. Nhưng quá trình tuyển chọn này thì cực kì mang tính chủ quan. Vì không có một tiêu chí năng lực nào, nên việc được bố trí một công việc tốt có thể nói một phần là do may mắn, môt phần là do “ phong cách nổi bật” và một phần là biết đặt cái môi một cách chắc chắn vào phần sau cuối (ct tg kiss ass/hôn đít) một vài người quan trọng vào lúc nào và ở nơi đâu. Bạn chẳng thể làm được gì nhiều với 2 điều đầu, do vậy bạn phải xoay sở để tập trung vào điều thứ 3. Làm quen với 112 vị giám đốc điều hành ( Managing Director) thì không đủ, phải kết bạn thật thân với một vị trong số họ. Có một vấn đề nho nhỏ ở đây. Các vị giám đốc thì không phải lúc nào nhiệt tình đánh bạn với thực tập viên. Rút cuộc thì họ được lợi gì trong chuyện này?

    Còn tiếp...
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Một giám đốc điều hành trở nên quan tâm chỉ khi bạn là người được mọi người yêu thích. Lúc đó bạn mới có nhiều điều ích lợi cho ông ta. Vị giám đốc điều hành này sẽ thắng điểm khi ông ta cuỗm được một thực tập viên từ các tay giám đốc điều hành khác. Do vậy phương pháp của nhiều thực tập viên là phải tạo nên ảo tưởng rằng mình được người khác mong muốn. Rồi các ông chủ sẽ muốn người thực tập viên đó không vì một lí do xác đác nào ngoài lí do đơn giản là các ông chủ khác cũng muốn anh ta. Kết quả cuối cùng là một loại Ponzi scheme mang tính đại chúng như thường thấy trên thị trường. Để xây dựng được nó đòi hỏi rất nhiều lòng tự tin và tin vào tính cả tin của những người khác. Đây là giải pháp mà tôi đã chọn cho vấn đề việc làm. Một vài tuần trước khi bắt đầu chương trình đào tạo, tôi làm quen với một người bạn trên sàn giao dịch mặc dù người đó không làm trong phòng mà tôi muốn. Người đó cứ ép tôi vào làm phòng của anh ta, tôi đã cho mấy thực tập viên khác biết rằng tôi đang bị theo đuổi. Họ đã kể với bạn bè của họ trên sàn giao dịch, những người này hóa ra tò mò. Cuối cùng chính cái ông giám đốc mà tôi muốn làm việc cho ông ta lại nghe trộm được câu chuyện mà mọi người nói về tôi và đã mời tôi đi ăn sáng. Nếu thấy như vậy có vẻ tính toán và thủ đoạn, hãy xem xét vài sự lựa chọn khác. Hoặc tôi để mặc số phận của mình trong tay ban quản lí, tôi nghĩ là cách này không đủ chắc ăn nên không ai dám tin là làm được, hoặc trực tiếp đề nghị lên giám đốc điều hành về mong muốn của mình. Tôi có những người bạn đã thử chiến thuật này. Họ đã tự quì xuống dưới chân ông chủ của họ để cầu cạnh như một nô tì trước một lãnh chúa với giọng ngọt xớt “ tôi là kẻ hầu tận tâm và hèn mọn của ngài đây” Hãy mướn tôi đi , ôi Đại nhân,và tôi sẽ làm bất cứ thứ gì mà ngài sai bảo”. Rồi họ hi vọng rằng ông giám đốc điều hành sẽ có phản ứng một cách thân thiện. Có lẽ nói câu gì đó, chẳng hạn: “ hãy đứng dậy đi, chàng trai, cậu không việc gì phải sợ sệt. Nếu cậu thực lòng với tôi, tôi sẽ bảo vệ cậu khỏi sức mạnh của ác quỉ và thất nghiệp”. Đôi khi điều này xảy ra. Nhưng nếu nó không xảy ra thì có nghĩa bạn đã tự bắn vào chân mình. Trong lớp thực tập đã xảy ra một cuộc tranh cãi liệu việc quỵ lụy có thể chấp nhận được trong hoàn cảnh này không. Dường như toàn bộ quan điểm của hệ thống Solomon, chỉ đơn giản là để đánh giá xem ai là người thoái chí trước áp lực và ai là người đứng vững.

    Mỗi thực tập viên phải tự quyết định cho mình. Vì vậy đã sinh ra cuộc Đại Phân Chia. Những kẻ chọn phương pháp hoàn toàn quỵ lụy thì ngồi hàng ghế phía trước của lớp học, nơi họ ngồi, đôi môi mím chặt suốt cả chương trình 5 tháng học. Những người quí trọng niềm tự hào của mình – hoặc có lẽ họ cho rằng tốt nhất nên tránh xa – giả đò không có sự khác nhau lắm bằng cách ngồi ở hàng ghế sau và vẫy vẫy những tờ giấy trắng với mấy ông giám đốc điều hành.

    Tất nhiên , có những trường hợp đặc biệt ngoài những hình thức cư xử này. Một đám người rơi vào giữa dòng của cuộc Đại Phân Chia. Hai hoặc ba người làm những thương vụ ám muội với các ông giám đốc điều hành ngay khi bắt đầu chương trình để đảm bảo cho họ có những công việc theo lựa chọn của họ. Họ đã trôi nổi một cách không tiên đoán trước được, như những kẻ tự do trong đám nô lệ và thường bị coi là những tên gián điệp của ban quản trị. Một số thực tập viên có trái tim của những người ngồi dãy ghế sau nhưng họ cũng có cả vợ lẫn con cần phải nuôi nấng. Bởi vậy họ không thể tỏ ra chân thật. Họ tách biệt khỏi dãy ghế trước một cách khinh thị và khỏi hàng ghế sau do cảm thấy phải có trách nhiệm. Tất nhiên tôi tự coi mình là trường hợp ngoại lệ. Tôi bị ai đó kết tội là một người ngồi dãy ghế trước bởi vì tôi thích ngồi cạnh anh chàng tốt nghiệp Havard và theo dõi anh ta vẽ những sơ đồ tổ chức. Tôi phân vân liệu anh ta có thành công hay không (kết quả là không!). Một điều nữa là tôi hay hỏi quá nhiều câu hỏi. Người ta cho rằng tôi cố ý làm điều này để cho mấy ông giảng viên mến mình như một người ngồi ở dãy trước. Điều này không đúng. Nhưng hãy thử nói điều ấy cho người ở dãy ghế sau xem. Tôi đã đền bù một cách thỏa đáng bởi vì cũng đã vẫy vẫy tờ giấy với những trader quan trọng. Và uy tín của tôi bỗng tăng vọt một cách kì lạ với nhóm người ở hàng ghế sau khi tôi bị đuổi khỏi lớp học vì đọc báo trong lúc giảng viên giảng bài. Nhưng dù sao đi nữa thì tôi không bao giờ được liệt vào hàng ngũ những người ở hàng ghế sau cả.

    Tuy nhiên trong tất cả các trường hợp ngoại lệ, bọn Nhật Bản vẫn là những người vĩ đại nhất. Người Nhật đã phá bỏ hết gì có thể đánh giá về nền văn hóa của lớp học chúng tôi. Tất cả 6 đứa bọn họ đều ngồi ở hàng đầu tiên và…ngủ gật. Những cái đầu đen gật tới gật lui và lâu lâu thì nghẻo sang một bên khiến đôi má chạy song song với sàn nhà. Vì vậy thực là khó tranh luận rằng họ đang lắng nghe với đôi mắt nhắm lại, vì thương gia Nhật Bản rất hay làm vậy. Lời giải thích độ lượng nhất về tính lãnh đạm của họ là họ không thể hiểu được tiếng Anh. Họ cứ khư khư như thế, tuy nhiên bạn không bao giờ có thể biết rõ là do trình độ ngoại ngữ hay động cơ. Người dẫn đầu bọn họ là người mang tên Yoshi. Cứ mỗi đầu giờ sáng và chiều mấy anh chàng ở dãy ghế sau bắt đầu đánh cược xem ông giảng viên sẽ mất bao nhiêu phút để làm Yoshi ngủ gật. Họ thích cho rằng Yoshi là một kẻ gây rắc rối có tính toán. Yoshi là người anh hùng của bọn họ. Một cuộc ăn mừng khoái trá nho nhỏ rộ lên ở dãy bàn cuối khi Yoshi đổ sụp xuống ngủ, một phần vì người nào đó mới thắng một đống tiền, nhưng cũng là để tán thưởng bất kì ai cả gan ngủ gật ở dãy bàn đầu.

    Còn tiếp...
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Người Nhật Bản là loại người được bảo hộ và tôi nghĩ họ biết điều ấy. Tổ quốc của họ, do kết quả của thặng dư thương mại đang tích lũy một khối lượng lớn đô la. Phải tốn rất nhiều tiền để có thể dẫn dụ những đổng đô la này từ Tokyo biến thành trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ và công cụ đầu tư khác bằng đô la. Công ty Solomon đang cố gắng mở thêm chi nhánh ở Tokyo bằng cách thuê những người địạ phương có kinh nghiệm vào làm cho mình. Đây là vấn đề. Người Nhật có thiên hướng sống với một công ty Nhật, và những người có năng lực sẽ không mơ ước làm việc cho một công ty Mỹ. Khi làm việc cho Solomon, họ trade sushi và việc làm ổn định để đổi lấy cheeseburger và bệnh hoài bão của tuổi trẻ, điều mà ít người định làm.

    Những người Nhật hiếm hoi mà Solomon tìm được, đắt giá gấp nhiều lần trọng lượng của họ quy ra vàng và được đối xử trân trọng như món đồ sứ cổ. Những trader nói chuyện với chúng tôi không bao giờ hé lộ ra một lời chống lại họ. Thêm vào đó, trong khi Solomon không hề nhạy cảm chút nào với văn hóa nước ngoài, thì nó lại rất quan tâm đến sự khác biệt của người Nhật. Vấn đề không phải ở chỗ có một quan điểm chung về việc người Nhật khác biệt như thế nào. Người Nhật có thễ có mũi tẹt và thực hiện cái bắt tay kiểu Kiwanis vào mỗi buổi sáng và tôi xin cá rằng không ai lại nghĩ nó không có tính cách riêng.

    Cuối cùng người Nhật vẫn bị dồn đến chỗ chẳng hơn gì một trò tiêu khiển kì dị. Dãy ghế sau đã tạo nên phong độ của lớp bởi vì nó hành động như một khối gây ầm ĩ, và họ thường và không thể chia rẽ được. Số người ghế sau di chuyển thành từng nhóm vì an toàn, vì sự thoải mái, tới lớp mỗi buối sáng và đầu giờ chiều, tới sàn giao dịch vào cuối ngày, ra câu lạc bộ lướt sóng vào ban đêm, và rồi quay trở lại chương trình huấn luyện vào buổi sáng hôm sau. Họ đoàn kết lại với nhau từ những thứ mà họ thích lẫn không thích. Họ tán thưởng người giảng viên mà họ chấp nhận bằng cách đứng lên và chơi trò làn sóng trong lớp (giống như tạo làn sóng của cổ động viên trên khán đài bóng đá hay sân khấu ca nhạc). Người giảng viên dừng lại y như thể mất luồng suy nghĩ. Chắc là không rồi. “ Các anh thấy đấy “, cuối cùng ông nói, “các anh nghĩ rằng các anh là cục *** nóng sốt (hot ****), nhưng khi bắt đầu xuất hiện trên sàn giao dịch, các anh sẽ bắt đầu ở dưới đáy mà thôi”

    Điều này có thực cần thiết không? Ông ta quả là điệu nghệ, khi nói cho những tay du côn những điều mà họ thích nghe: Là một kẻ chiến thắng ở Solomon có nghĩa là một lực sĩ trong khu rừng rậm nhiệt đới. Bây giờ ông ta liền trả đũa bằng cách nói cho bọn du côn những điều mà họ không thích nghe: Ở trong rừng, tài nghệ bẩm sinh không có nghĩa là ngồi xổm. Tôi nhìn quanh và chờ đợi những viên đạn giấy. Chẳng có gì. Người giảng viên đã lấy đủ đà để cứu vãn lỗi của mình. Mấy cái đầu ở dãy ghế sau gật gù ngay. Họ cho rằng có thể nhận xét đó của người giảng viên ám chỉ bọn ngồi dãy ghế đầu.

    Trong bất cứ trường hợp nào, về điểm này người thuyết trình chắc chắn sai lầm. Một thực tập viên không phải ở đáy sau hơn đôi ba tháng. Tuổi nghề của bond trader giống như tuổi chó. Một năm trên sàn giao dịch bằng bảy năm ở công ty khác. Sau năm đầu tiên, trader hay salesman đều sẽ lột xác. Có ai quan tâm đến thâm niên chứ? Cái đẹp chung của sàn giao dịch là sự hoàn toàn không đễ ý đến thâm niên.

    Một nhân viên mới, khi bắt đầu làm ở sàn giao dịch sẽ được giao 2 cái điện thoại. Anh ta bắt đầu gọi ngay lập tức và liên tục nói. Nếu anh ta có thể kiếm được hàng triệu đôla qua những cú phôn đó, anh ta sẽ trở thành loại người được kính trọng nhất trong tất cả mọi loại người: “Big Swinging Dick” (con Q. bự lắc lư). Sau vụ bán một lô trái phiếu và đặt vài trăm nghìn đôla vào két sắt của Solomon, một ông giám đốc điều hành sẽ đeo lon cho anh ta bằng cách gọi anh ta và nói bâng quơ“ Ê nè, Big Swing Dick, vì mục đích cao cả!”. Cho tới ngày hôm nay, cách nói đó gây cho đầu óc tưởng tượng của tôi về một cái vòi của con voi đang lúc lắc hết phía này sang phía nọ, gây tiếng sột soạt sột soạt. Chẳng có gì trong rừng rậm có thể cản lối Big Swinging Dick cả.

    Đó là giải thưởng mà tất cả chúng tôi thèm muốn. Có lẽ cách nói đó không in vào tâm trí của mọi người như cách mà nó đã in trong tâm trí tôi. Cái tên không quan trọng bằng tham vọng, mà tham vọng thì tất cả chúng tôi đều tràn đầy. Và dĩ nhiên không ai công khai nói “ khi tôi bước lên sàn giao dịch, tôi sẽ là một Big Swinging Dick”. Điều này mang tính chất riêng tư nhiều hơn. Nhưng mọi người đều muốn trở thành Big Swinging Dick, thậm chí cả phụ nữ. Một Big Swinging Dick đàn bà ( nv Big Swinging Dickettes), ôi lạy Chúa! Thậm chí bọn học viên ngồi dãy bàn đầu cũng hi vọng trở thành Big Swinging Dick một khi biết được nó có ý nghĩa gì. Vấn đề là họ không biết cách thực hiện phần việc của mình như thế nào. Những Big Swinging Dick vẫn phong nhã trong tình trạng chịu sức ép công việc nặng nề hơn nhiều so với bọn học viên ở dãy bàn đầu này

    Còn tiếp....
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Môt cánh tay giơ lên (thông thường thì) từ dãy ghế trước. Nó từ một cô gái. Cô ta ngồi cao trong chiếc ghế thường lệ của mình ngay đằng trước mặt người giảng viên. Người giảng viên trong đà của câu chuyện thú vị. Những người ở dãy ghế sau đang đứng dậy để tôn vinh ông ta bằng những “Làn sóng”. Lúc này người giảng viên không muốn dừng lại. Ông ta trông có vẻ bị cụt hứng, nhưng khó có thể quên đi một bàn tay giơ ngay trước mặt mình. Ông ta gọi tên cô ấy: Sally Finley.

    “Tôi vẫn đang tự hỏi” Finley nói “liệu ông có thể nói cho chúng tôi biết điều gì mà ông cho rằng là chìa khóa dẫn đến thành công của ông được không?”

    Thế này thì quá cỡ thợ mộc. Nếu cô ấy đặt một câu hỏi thuần túy kỹ thuật thì cô ấy có lẽ đã níu nó lại rồi. Nhưng đến ông giảng viên cũng bắt đầu mỉm cười. Ông ta biết rằng có thể lạm dụng dãy ghế trước theo ý mình. Ông rông miệng cười nói một cách hung hồn với dãy ghế phía sau “ Tôi nhớ mấy câu hỏi kiểu lộn ngược này giống với lúc tôi còn theo học chương trình đào tạo, và tôi nhớ tôi cũng khinh miệt mấy ông giảng viên mà cứ để cho người nghe nịnh bợ, vì thế tôi sẽ để cho cô gái này chưng hửng và dịu đi một lát. Hè hè hè…”

    Dãy người phía sau cười phá cả lên. Có ai đó đã bắt chước điệu bộ của Finley một cách ác ý theo giọng lãnh lót “ Ờ thì nói cho chúng tôi là vì sao ông lại thành công đến thếeeeee (nhấn giọng)”. Có ai đó quát to: “Thằng nhãi, ngồi xuống!” cứ như là mắng một con chó xù điên dại. Người thứ ba thì khum 2 bàn tay mình lại vòng quanh miệng và hô một câu “Chứng khoán ở Dallas!”.

    Than ôi, Finley tôi nghiệp! Có nhiều chỗ tồi tệ mà tên của bạn có thể bị ghi trên bảng bố trí công việc sau khóa học vào năm 1985, nhưng tuyệt đối tồi tệ là bị đánh một dấu ở “Phòng chứng khoán Dallas”. (ct tg: giống như “ về Cà Mau chăn vịt”). Không thể hình dung còn gì thất bại trong cái thế giới bé nhỏ của chúng tôi hơn là làm một nhân viên bán cổ phiếu ở Dallas nữa. Phòng phụ trách chứng khoán không hề có quyền lực gì trong công ty, còn Dallas thì…cách New York khá xa. Vì thế “phòng chứng khoán ở Dallas” là định nghĩa ngắn gọn của chương trình huấn luyện cho “cứ việc chôn vùi những thứ cặn bã thấp hèn nhất ở nơi mà nó chẳng bao giờ được ngó tới nữa”. “Hãy chôn Sally đi”. Từ phía sau căn phòng hô lên.

    Người giảng viên không thèm quan tâm đến câu trả lời. Ông ta bước về phía đám hỗn loạn đã bị ông kích động đến mức không thể kiểm soát được:“Các anh đã mất nhiều thời gian tự hỏi chính mình: Liệu trái phiếu đô thị có hợp với mình không? Hay là trái phiếu chính phủ, hay trái phiếu công ty thì hợp với mình? Các anh mất nhiều thời gian nghĩ về điều đó. Nhưng hãy nghĩ về điều này: Có thể điều quan trọng hơn là chọn một cuốn cẩm nang đi rừng, chứ không phải chọn cái sản phẩm mình sẽ kinh doanh... Xin cảm ơn!”

    Căn phòng bỗng trống rỗng, tạm nghỉ 15 phút cho tới người giảng viên kế tiếp bắt đầu. Hai đám đông tách biệt như thường lệ ùa ra hai cửa lớp học. Những người ngồi dãy trước ra cửa trước và ngồi phía sau ra cửa sau thi nhau đi bộ tới chỗ có 4 máy điện thoại miễn phí.

    Những người lãnh đạo của công ty Solomon Brothers dựa vào chương trình đào tạo để làm chúng tôi giống như họ. Giống như họ có nghĩa là thế nào? Trong suốt phần lớn lịch sự, Solomon Brothers là chỉ là một công ty vụn vặt, tồn tại bởi khả năng và lòng sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao. Solomon bắt buộc phải chấp nhận rủi ro để kiếm tiền bởi vì nó không có một danh sách dài các khách hàng là các công ty để có thể thu phí như Morgan Stanley. Solomon, đối với công chúng mang hình ảnh là một công ty của những người Do Thái trung thành bè đảng, những con người vô giá trị xã hôi, khôn ngoan nhưng trung thực, nhúng mũi sâu vào các thị trường trái phiếu hơn bất cứ công ty nào khác. Đây là bức tranh biếm họa, tuy nhiên bức tranh này chỉ khái quát được một cách thô sơ phong vị cuả một thời đã qua.

    Hiện nay, Solomon muốn thay đổi. Dấu hiệu chính báo hiệu về sự biến đổi cá tính của công ty là cách sinh hoạt xã hội của ngài chủ tịch kiêm tổng quản lí của chúng tôi John Gutfreund. Ông đã kết hôn với một phụ nữ có hoài bão xã hội cháy bỏng, trẻ hơn ông 20 tuổi. Bà ta mở tiệc tùng linh đình và mời về nhiều nhà báo. Những giấy mời của bà ta, có giá trị tăng giảm theo giá cổ phiếu của công ty chúng tôi, được bọc với cái nơ và được giao tận tay. Bà ta thuê hẳn một cố vấn để đảm bảo rằng bà và chồng bà luôn “hợp thời, hợp cách”. Và mặc dù chưa hề đi quá xa để đòi hỏi rằng những người làm thuê của công ty Solomon Brothers cũng phải bảnh bao như chồng bà (người mà bà đã khoác cả một tủ quần áo mới lên người), cái kiểu cách sống buông thả và giả tạo này không thể nào không lây lan ra trong công ty của chúng tôi.

    Cho dù có sự thay đổi bất thường trong bộ mặt công ty chúng tôi, chương trình đào tạo vẫn chắc chắn là sự khởi đầu tốt đẹp nhất cho một nghề nghiệp có trên Wall Street. Khi tốt nghiệp, một thực tập viên với kinh nghiệm và hiểu biết thu được có thể kiếm chác gấp 2 lần lương trên bất cứ sàn giao dịch nào khác trên Wall Street. Theo tiêu chuẩn của Wall Street, người ấy đã hoàn thành việc nắm được kỹ thuật của nghiệp vụ. Nó là giáo dục tự thân để xem một người có thể trở thành “chuyên viên” trên Wall Street nhanh đến mức nào. Drexel Burnham mà tôi thừa nhận là một ví dụ điển hình, thậm chí đã bảo một người xin vào làm phải kiếm cớ làm quen với một ai đó ở Solomom chỉ để kiếm được những tài liệu trong chương trình đào tạo của Solomon. Khi nắm được những tài liệu ấy trong tay, người ấy sẽ có thể làm việc cho Drexel.

    Nhưng những tài liệu đó là thứ mang ít ý nghĩa nhất trong trong việc đào tạo của chúng tôi. Những thứ thích đáng, những thứ mà 2 năm sau tôi nhớ lại, là giai thoại về những cuộc chiến đấu, được truyền miệng ở Solomon Brothers. Hơn 3 tháng ròng những salesman và trader và các nhà tài chính đã chia sẻ những kinh nghiệm của họ cho lớp: Họ đã buôn bán bằng sự thông thái nguyên sơ của đường phố: Tiền đã di chuyển quanh thế giới như thế nào (bằng cách mà nó muốn), một trader cảm nhận và hành động như thế nào (theo lối anh ta muốn) và làm thế nào để tóm được một khách hàng. Sau 3 tháng trên lớp các thực tập viên lại mệt mỏi trên sàn giao dịch thêm 2 tháng nữa. Rồi họ bắt tay vào làm. Trong suốt thời gian đó, có một chương trình nghị sự được ẩn giấu: công cuộc Solomon hóa người thực tập viên. Thứ nhất phải làm cho thực tập viên phải hiểu được rằng bên trong công ty Solomon Brothers, theo một trader có lần so sánh, anh ta thấp hơn cả cục phân con cá voi nằm ở đáy đại dương. Và thứ hai, phải hiểu cho dù có bị cục phân cá voi đè lên thì cũng đã là rất vẻ vang so với không hề được ở trong Solomon.

    Trong ngắn hạn, việc tẩy nảo gần như có kết quả (Về dài hạn thì không. Đối với những người chấp nhận cái ách gông xiềng ấy, họ phải tin rằng họ không còn lựa chọn nào khác. Sau này độc giả sẽ thấy, những người mới đến như chúng tôi vừa biết cách tâng bốc giá trị bản thân lại vừa không có lòng trung thành). Một số ngân hàng đầu tư đã có chương trình đào tạo, trừ ngân hàng Goldman Sachs, chẳng có ai ở đâu thấm nhuần đầy đủ lời tuyên truyền về công ty cả. Một nữ phóng viên tờ thời báo New York phỏng vấn chúng tôi ba tháng trước về chương trình đào tạo đã có ấn tượng bởi sự đồng nhất trong thái độ của chúng tôi đối với công ty đến mức cô ta đã đặt tên cho bài báo của mình như sau “ Trại huấn luyện cho những người có bằng MBA cao cấp”. Như tất cả các bài báo đăng về công ty salomon Brothers, nó nhanh chóng bị làm cho xẹp xuống. Những người dãy ghế sau nói “ con đĩ chó đó còn không biết nó đang nói cái gì” Những hướng đạo sinh của lớp bị săn đuổi một cách tàn tệ vì nói những điều đã in trên báo như “ Họ - Solomon – không thèm cho chúng tôi một lời động viên. Chúng tôi bị nhồi nhét”. Điều này, bạn cũng phải công nhận là hơi thái quá.

    Bài báo được tiết lộ vì một lẽ khác. Đây là lần duy nhất mà một người từ bên ngoài được phép lọt vào và lại hỏi một câu rất hiển nhiên:" Tại sao chúng tôi được trả lương hậu đến thế?" Một người ở dãy ghế sau, vừa tốt nghiệp MBA ở đại học Chicago đã giải thích cho đọc giả tờ báo. Anh ta nói “Đó chỉ là cung vào cầu thôi, em gái tôi dạy những đứa trẻ thiểu năng trí tuệ. Cô ấy yêu công việc của mình như tôi, nhưng thu nhập kém hơn nhiều. Nếu không có ai khác muốn dạy, thì cô ấy sẽ kiếm nhiều tiền hơn”. Bạn hãy thử phân tích câu nói đó xem. Nhưng độc giả tờ thời báo chắc chắn đã làm như vậy. Bởi chính bài báo đã nêu lên việc hơn 6000 người đã nộp đơn cho 127 vị trí này. Lương ở Solomon Brothers được trả rất cao mặc dù có những người khác sẵn sàng làm công việc ấy mà ăn lương ít hơn. Thoang thoảng đâu đây mùi cá tanh trong cách mà cung và cầu gặp nhau ở một ngân hàng đầu tư.

    Nhưng cũng khá là dễ chịu trong việc giải thích số tiền mà chúng tôi sắp được trả. Tôi nghĩ là vì đồng nghiệp của tôi đã thử cái cách mà các trường business cũ hay dùng. Không ai phải làm gì cả, Tiền nó đã nằm ở đó sẵn. Tại sao ngân hàng đầu tư đã trả cho biết bao nhiêu người, mà không có mấy kinh nghiệm nhiều tiền đến vậy? Câu trả lời: là khi nắm một máy điện thoại trong tay, họ có thể sản sinh ra thậm chí còn nhiều tiền hơn. Bằng cách nào họ có thể sản sinh ra nhiều tiền hơn mà không có kính nghiệm? Câu trả lời: trong một nghân hàng đầu tư, kỹ năng ít quan trọng hơn những thứ vô hình như nhạy bén, kiên gan và may mắn. Có phải những tài năng được thấy ở một người sản sinh ra tiền hiếm hoi đến mức mà chúng chỉ có thể mua được với giá rất đắt không? Câu trả lời là có và không. Đây là câu hỏi của những câu hỏi. Sự bằng lòng ngu xuẩn của chúng tôi bị bộc lộ tối đa do đã không hỏi ngay từ đầu tại sao tiền lại cứ tuôn một cách tự do và nó sẽ kéo dài bao lâu. Câu trả lời có thể được thấy trên sàn giao dịch Solomon Brothers. Có lẽ dễ thấy hơn bất cứ đâu trên Wall Street, nhưng nhiều người không bao giờ bận tâm tới việc làm sáng tỏ nó.

    Mỗi ngày sau giờ học, vào khoảng 3,4 hoặc 5 giờ (ct nd là mấy giờ?) chúng tôi bị buộc phải đi từ lớp đào tạo từ tầng 23 lên sàn giao dịch ở tầng 41. Bạn có thể cúp cua một vài ngày, nhưng nếu nhiều lần không thấy có mặt trên sàn, đơn giản bạn sẽ bị bỏ quên. Bị bỏ quên ở Solomon có nghĩa là bị thất nghiệp. Cố gắng để được thuê là một hành động tích cực. Người quản lý phải yêu cầu bạn về đơn vị của anh ta thì mới được nhận. Đến cuối chương trình đào tạo 3 người đã bị sa thải. Một người đã bị đẩy đi Dallas và đã từ chối không đi. Người thứ hai đã bí ẩn biến mất, người ta đồn rằng anh ta rủ một nữ ủy viên ban điều hành Solomon vào toilet.(Solomon chỉ cấm quấy rối ******** chứ không cấm dụ dỗ ********). Và người thứ ba, chuyện này quả thật thú vị, anh ta không chịu đựng được việc bước ra khỏi thang máy để vào sàn giao dịch. Chiều chiều anh ta cứ chồm chồm lên chồm xuống phía sau bên trong thang máy. Anh ta muốn bước ra ,tôi nghĩ, nhưng lại bị hóa đá. Chuyện về cố tật của anh chàng này lan ra. Đích thân người phụ nữ chịụ trách nhiệm chương trình đào tạo đã đi xem sự thể ra sao. Bà đứng trước cửa thang máy trên tầng 41 suốt một tiếng đồng hồ nhìn cái cửa đóng và mở đến để tận mắt chứng kiến cái anh chàng ma quỷ đó. Và một hôm anh ta biến mất.
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Vào những hôm can đảm hơn, bạn dạo quanh sàn giao dịch để tìm một người quản lí có thể bảo trợ bạn, một cố vấn dày kinh nghiệm mà chúng ôi ở đây gọi là Rabbi (giáo sĩ Do Thái). Bạn đến sàn giao dịch là để học hỏi. Hành động đầu tiên là nhảy vào bãi chiến trường, chọn lấy một ông thầy thích hợp và xin được giao phó công việc. Thực không may điều đó chẵng dễ dàng gì. Thứ nhất, theo định nghĩa, một thực tập viên không xứng đáng để được phép mở miệng. Và thứ hai, khu tầng giao dịch là một bãi mìn của toàn những người sẵn sàng cho nổ nếu lọt vào đúng phạm vi của nó. Bạn không thể cứ đi lại và chào hỏi. Thực ra, nói vậy thì không công bằng. Bởi vì cũng có rất nhiều trader lịch sự theo bản năng và nếu bạn chào thì họ cũng chỉ sẽ phớt lờ bạn đi thôi. Nhưng nếu như ******** cờ dẫm phải bãi mìn thì cuộc đối thoại sẽ diễn ra giống như kiểu thế này:

    Tôi: Chào anh

    Trader: Mày ở đâu chui ra vậy hả? Ê Joe, Ê Bob, nhìn cái dây quần của thằng này nè.

    Tôi ( đỏ mặt) Tôi chỉ muốn hỏi anh mấy câu thôi

    Joe: Nó tưởng nó là thằng con Q. nào chứ?

    Trader: Joe, để thử thằng nhóc này một chút xem sao! Khi lãi suất tăng thì giá trái phiếu biến động theo hướng nào?

    Tôi: Xuống.

    Trader: Xuất sắc! cho mày 10 điểm. Còn giờ thì tao phải làm việc

    Tôi: Vậy khi nào anh rảnh?

    Trader: Mày nghĩ đây là cái con Q. gì? Quỹ từ thiện hả? Tao đang bận.

    Tôi: Vậy tôi có thể giúp anh được gì chứ?

    Trader: Chạy đi mua cho tao một cái hamburger. Àh, nhiều nhiều ketchup ( sốt cà chua) nghen.

    Vì vậy tôi phải luôn đi đứng cẩn thận. Có một triệu qui tắc nhỏ phải tuân theo mà tôi thì chẳng biết lấy một cái. Mấy salesman, trader, và quản lí đi lại thành từng nhóm khắp sàn, và lúc đầu tôi không thể phân biệt được. Ừ thì tôi biết sự khác biệt căn bản. Hầu hết ai cũng đều cầm hai điện thoại trên tay cùng một lúc và ai cũng liếc nhìn màn hình màu xanh nhỏ đầy những con số. Họ hét vào cái điện thoại này rồi lại hét vào điện thoại kia, rồi lại quát ai đó tận phía bên kia dãy bàn rồi quay lại hai cái điện thoại, rồi chỉ vào màn hình và hét “ Đ. mẹ nó!”. 30 giây được xem là một khoảng thời gian tập trung dài. Là thực tập viên, như một học sinh năm nhất trường lục quân, một thanh niên đang bị đè dưới đống phân cá voi, tôi đã làm cách mà mọi thực tập viên đều làm. Tôi rón rén mò tới bên một nhân vật đang bận rộn nào đó, không nói một lời và biến thành một con Người Vô Hình.

    Tất nhiên, đó là bởi vì tôi sợ bị làm nhục như ví dụ ở trên. Đôi khi tôi phải đợi một tiếng đồng hồ, trước khi sự có mặt của tôi được biết đến; nhiều lúc chỉ cần một vài phút thôi. Thậm chí như vậy cũng đã như là vô tận. Tôi tự hỏi có ai phát hiện ra tôi không? Chừng nào thì tôi sẽ thoát khoải tình trạng bị hoàn toàn lãng quên như thế này? Ai đó xin hãy làm ơn nhận ra rằng cái thằng Người Vô Hình đã đến. Sự tương phản giữa sự bất động của tôi và sự chuyển đông cuồng loạn của các trader càng làm cho cái cảnh tượng này không thể chịu được. Nó đã nhấn mạnh vào tính vô dụng của tôi. Và khi đã rón rén như thế này rồi thì thực là khó bỏ đi mà không được người ta chính thức nhận ra sự hiện diện của mình. Bỏ đi là chấp nhận thất bại.

    Dù sao thì cũng chẳng còn chỗ nào khác để mà đi nữa. Phòng giao dịch dài khoảng 1/3 chiều dài của một sân bóng đá và những từng dãy bàn được đặt song song với nó. Các trader ngồi cùi chõ chạm cùi chỏ với nhau thành một chuỗi người. Giữa các dãy bàn không có đủ chỗ trống để cho hai người bước qua nhau mà không phải xoay ngang. Một khi mà một thực tập viên rảo quanh thì đó cũng là lúc anh ta liều mạng cho sự quấy nhiễu các đấng thần linh đang vui đùa. Tất cả các vị cao cấp từ ông chủ tịch Gutfreund trở xuống, đều lang thang ở đây. Nó không phải là một công ty bình thường, mà ở đó các thực tập viên được mấy ủy viên quan trị trung niên mỉm cười một cách nhân từ bởi vì họ đại diện cho tương lai của công ty. Những thực tập viên ở Solomon là những kẻ lao công, bị kết tôi cho đến khi chứng minh được là vô tội. Với cái tội đè lên đầu, bạn càng đặc biệt không nên gặp mấy vị cao cấp đó. Nhưng thực đáng buồn là bạn không có chọn lựa nào khác. Ông chủ ở khắp mọi nơi. Ông ta nhận thấy bạn đeo dây đai quần màu đỏ có đính đồng đô la bằng vàng và biết ngay bạn là ai. Một trung tâm của sự trả giá.

    Ngay cho dù bạn có tháo cái dây treo quần màu đỏ của bạn ra và nhuộm màu khác, thì bạn vẫn dễ dàng bị nhận ra là một thực tập viên. Các thực tập viên lạc nhịp một cách không thể cứu vãn trước giai điệu vốn có của sàn giao dịch. Những chuyển động của khu giao dịch hòa nhập với những biến động của các thị trường y như thể chúng bị trói chặt với nhau rồi. Chẵng hạn thị trường trái phiếu Hoa Kì dao động bất cứ khi nào Bộ Thương Mại Hoa Kỳ phát ra những chỉ số kinh tế quan trọng, sàn giao dịch trái phiếu cũng dao động theo. Các thị trường quyết định số liệu nào là quan trọng và cái nào là không. Tháng này là thâm hụt cán cân thương mại Hoa Kì ( trade deficit), tháng khác thì là chỉ số giá tiêu dùng ( CPI). Vấn đề là ở chổ các trader biết con số kinh tế nào là quan trọng trong tháng đó còn các thực tập sinh thì không biết. Toàn khu giao dịch Solomon Brothers có lẽ như muốn nổ tung lên bởi một con số sắp được phát ra lúc 8h30 sáng, tình trạng chờ đợi hồi hộp xâm chiếm toàn khu vực, người ta hi vọng, sẳn sang nhảy lên, hô to, mua hay bán hàng tỉ đôla giá trị trái phiếu, kiếm hoặc mất hàng triệu đôla cho công ty. Một thực tập viên đến bên họ, hoàn toàn chả hiểu chuyện gì đang xảy ra xung quanh, nói“ xin lỗi, tôi định ra quán ăn tự phục vụ đây, có ai muốn mua gì không? Thực tập viên, nói ngắn gọn, là mấy thằng đần độn.

    Có một thực tập viên đã may mắn được miễn mọi phiền phức. Tên anh ta là Myron Samuels, anh ta đã thỏa thuận với một vị giám đốc phụ trách phòng trái phiếu đô thị. Lúc tôi đến với Solomon Brothers, thì anh ta đã quá giang cùng với 2 giám đốc điều hành và một trader cao cấp hằng ngày tới sở. Người ta đồn rằng anh ta có mối quan hệ gia đình với những người tầm cỡ cao hơn ở công ty, một lời giải thích khác lại cho anh ta là một thiên tài. Dù thế nào, anh ta đã không thất bại khi tận dụng được cái lí lịch được tán dương của mình. Anh ta đi bộ vòng quanh tầng giao dịch với tác phong chỉ thấy được ở những người thực sự đang làm việc. Còn anh ta thì không phải làm việc, anh ta có thể nhởn nhơ vui chơi như một đứa trẻ con ở trong văn phòng của bố mình. Anh ta đi tới một chiếc bàn ở dãy bàn trade trái phiếu đô thị, kéo một chiếc ghế, gọi đến một người đánh giầy, điện thoại cho một tay bạn ở xa, châm điếu xì gà hút và đặt chiếc giầy chưa được đánh lên trên bàn. Anh ta chào mấy ông giám đốc điều hành đi qua như những người bạn cũ. Không ai, mà chẳng có ai dám mơ được như thế – trừ Samuels.

    Nói chung, nhân vật càng cao cấp hơn, thì thấy Samuels càng buồn cười hơn, tôi nghĩ đây chính vì những người càng cao cấp càng biết rõ hơn về những mối quan hệ của Samuels. Tuy thế, có một số người thì giận dữ. Nhưng trong dãy bàn trade trái phiếu đô thị Samuels không thể bị đụng chạm tới. Đúng một lần tôi đi dạo và nghe lỏm thấy hai vị phó chủ tịch đang thì thầm về anh ta. Một người nói với người kia. Me kiếp! tôi không thể chịu được ********* đẻ đó. Người kia lại nói:” Ê hê, nhưng anh làm gì được nó chứ?”


    Đã tránh bị vặn vẹo mỗi lần lên sàn, tôi cố giữ yên lặng, né vào một góc. Loại trừ Gutfreund mà tôi biết qua mấy bức ảnh trên tạp chí và nghĩ là một người danh tiếng nhiều hơn là một thương gia, còn những khuôn mặt khác thực lạ với tôi. Điều này khiến cho người ta thật khó mà biết được nên tránh ai. Rất nhiều người trong bọn họ giống nhau như đúc, hầu hết là da trắng, nam giới và tất cả đều mặc chiếc áo sơ mi cùng đính loại cúc trắng sợi bông (một trong số người Nhật của chúng tôi đã bảo với tôi rằng: cho đến hết đời, anh ta cũng không thể nào phân biệt được). Tầng 41 của công ty Solomon ở New York là trung tâm quyền lực. Ở đây không chỉ có các vị quản lí điều hành cao cấp trong hiện tại mà cả trong tương lai nữa. Bạn nhìn vào dáng khệnh khạng của họ để phân biệt giữa người nào nên lại gần và người nào nên tránh.

    Vậy khi thời gian trôi đi, tôi có quen dần với sàn giao dịch hay không? Thì cũng phải quen thôi!. Nhưng ngay cả khi tôi đã ổn định vị trí của mình trong công ty, tôi vẫn còn cảm thấy sởn gai óc mỗi lần tôi đi lên tầng 41, tuy nhiên tôi có thể thấy rõ những tiến bộ trong chính mình. Một hôm tôi đang đóng vai Người Vô Hình, cảm nhận cái hơi ấm của đóng phân cá voi và nghĩ rằng chẳng có ai trên đời này lại thấp hèn hơn tôi nữa, thì đột ngột xuất hiện một nhân viên trong Ban Tài Chính Doanh Nghiệp khoác cái khoác như biểu hiện của sự lăng nhục. Không ai mặc áo khoác trên sàn giao dịch cả. Chắc chắn là lần đầu tiên ông ta đi xuống đây từ một văn phòng hộp kính, và ông ta dớn dát nhìn xung quanh giữa cảnh hỗn loạn ồn ào. Một người nào đó đã đâm xầm vào ông ta rồi gắt gỏng nói ông ta đi đứng phải cẩn thận. Nhưng ông ta vẫn đứng yên ở đó thôi. Bạn có thể thấy ông ta đang nghĩ rằng cái thế giới đang nhìn chằm chằm ông ta. Và ông ta bắt đầu hoang mang sợ hãi, tựa như một diễn viên trên sân khấu chợt quên hết lời thoại thứ nhất. Có thể ông ta đã quên mất tại sao ngay từ lúc đâu ông ta lại bước vào. Và ông ta đã bỏ đi. Rồi một ý nghĩ xấu xa nảy ra trong đầu tôi. Một ý nghĩa ghê rợn. Một ý nghĩa không thể tha thứ được. Nhưng nó chứng tỏ tôi đã trưởng thành. Tôi đã nghĩ: “Đ.m, thằng nhu nhược, mày (đ)éo biết con Q gì hết”.

    Hết Chương III
    [/FONT]
  4. vuadauco

    vuadauco Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 24, 2011
    Likes Received:
    19
    tr51..thế đã
    Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4 /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-priority:99; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:"Calibri","sans-serif"; mso-ascii-font-family:Calibri; mso-ascii-theme-font:minor-latin; mso-fareast-font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-theme-font:minor-fareast; mso-hansi-font-family:Calibri; mso-hansi-theme-font:minor-latin; mso-bidi-font-family:"Times New Roman"; mso-bidi-theme-font:minor-bidi;} [FONT=&quot]NỀN GIÁO DỤC DÀNH CHO NGƯỜI LỚN

    Bốn tuần đã trôi qua. Lớp học đó đã có được một cảm nhận về những quyền của nó. Quyền thứ nhất không thể chuyển nhượng được của một thực thập viên là phải thoải mái tự lấy làm vui trước khi ngồi vào ghế mỗi buổi sáng. Khắp cả căn phòng, kẻ ăn bánh ngọt, người uống cà phê lung tung cả. Mấy người đọc tờ New York Post và đã đặt tiền cược cho bất kì trận đá banh nào chơi hôm đó. Trò chơi ô chữ trên tờ New York Times đã được photo thành 126 bản và được phân phát. Một ai đó đã gọi điện tới một trong hãng thu đĩa băng khiêu dâm và nối ống nghe vào một cái loa đặt trên bàn phía trước lớp học phát oang oang. Bầu không khí toàn chuyện ********. Như thói quen sẵn có của tôi vào giờ này: gặm 1 cái knish ( bánh của người Do Thái)

    Bụp! Max Johnson, cựu phi công lái máy bay chiến đấu thuộc Hải Quân Hoa Kỳ, chọi trúng ngay mặt anh chàng bốn mắt Loanard Bublick, tốt nghiệp MBA đại học Indiana một viên đạn giấy. Anh chàng 4 mắt Bublick có thể không bị ngạc nhiên vì loại trò chơi này thường xảy ra, tuy thế anh có vẻ đau đớn và muốn tìm ra thủ phạm. Một nhân vật hàng ghế sau gác cả 2 chân lên chiếc ghế sát Johnson quát lên: “Bublick tóc cắt đẹp nhỉ”

    Bublick từ chỗ của mình ở phía trước nói: “ Ô ô đàng hoàng một chút coi nào!”

    Susan James bước vào làm gián đoạn cuộc Trả Thù Của Nerd Đệ Nhị… James đóng một vai trò kì lạ. Cô ta là cái kiểu gì đó nửa là người giữ trẻ nửa là người tổ chức chương trình. Phần thưởng được trả cho công việc hoàn thành tốt của cô là được nhận vào chương trìn đào tạo trong tương lai. Như mọi người khác, cô muốn làm việc trên khu giao dịch, cô ta chỉ hơn chúng tôi mấy bước là nhận thấy hoài bão đó thôi. Khoảng cách của cô với bộ máy kiếm tiền đã làm giảm uy tín của cô với tư cách người giữ trật tự tới con số 0. Cô ta chỉ có quyền nói chuyện tầm phào với chúng tôi, và thực ra thậm chí không được đến thế. Bởi vì chúng tôi là những ông chủ tương lai của cô ấy. Cô ta muốn là bạn của chúng tôi. Khi chúng tôi đã chuyển tới khu giao dịch và cô ta tới chương trình đào tạo, cô sẽ nài xin chúng tôi một công việc. Các thực tập viên đều biết rằng cô ấy có quyền lực chẳng hơn gì một giáo viên thay thế, và vì thế khi không lạm dụng cô ấy, người ta lờ cô ấy đi, tuy nhiên lúc này cô ấy mang đến một bức thông điệp quan trọng.

    “Mấy cậu, thôi đừng làm những chuyện ngớ ngẩn nữa” cô van nỉ “ Jim Massey sẽ ở đây trong ít phút nữa. Cái lớp này đã mang đầy tiếng xấu rồi”. Dăm ba ngày trước đây có một người ngồi dãy ghế sau đã vo giấy ném vào một giám đốc điều hành phụ trách nghiên cứu thị trường trái phiếu, làm ông ta giận sôi máu và kêu thét lên độ 5 phút. Ông ta không thể nhận ra thủ phạm là ai và trước lúc bỏ đi đã hứa sẽ trả thù tất cả bọn tôi.

    Susan Jamse đã nhắc lại đến lần thứ 10, rằng cái ấn tượng về chúng tôi có thể đập vào mắt ông ta trong cuộc gặp gỡ nữa tiếng đồng hồ này sẽ tác động đến sự nghiệp chúng tôi ( tiền lương!) cho tới khi về hưu hoặc chết. Tất cả chúng tôi nghĩ Massey là một đao phủ của John Gutfreund. Nó không đòi hỏi một trí tưởng tượng cao siêu để vẽ hình hài ông đang xử trảm những thực tập sinh láo xược với một cái mũ quả dưa có cạnh lưỡi dao cạo. Ông ta có những nét mà người ta có lẽ phải cho là một hình ảnh đặc biệt. Ông ta không bao giờ mỉm cười. Chức vụ chính của ông là thành viên trong ban quản trị của Solomon đặc trách về bán hàng. Ông ta cũng đặc trách cả tương lai của chúng tôi nữa. Ông chủ trì cái bảng phân việc làm treo bên cạnh sàn giao dịch. Với một cái búng nhẹ cổ tay của ông ta, tên bạn có thể bay vèo từ New York về Atlanta. Những cậu thực tập sinh rất sợ Massey. Ông ta trông ra cũng thích như thế.

    Bề ngoài thì có vẻ Jim Massey đến để trả lời những thắc mắc của chúng tôi về công ty. Chúng tôi chỉ mới học được bốn tuần thôi. Chắc chắn chúng tôi có nhiều câu hỏi. Thật ra thì chúng tôi cũng không có nhiều lựa chọn. Chúng tôi còn tò mò hơn câu mà Susan nói với chúng tôi “Các bạn nên hỏi những câu hỏi hay. Nhớ đấy, nhiều ý kiến ( xấu) đang hình thành!”.Vì thế tiếng kèn báo hiệu xung trận đã vang lên trước khi người gìn giữ lề thói tập thể của ông chủ tịch đến để trả lời các câu hỏi của chúng tôi. Ông để kiểu tóc ngắn, có hàm răng rộng và sắc có thể cắt đứt một cái bánh ngọt. Không giống mấy ông ủy viên ban quản trị khác, ông mặc bộ vest màu xám mà không có khăn mùi xoa trong túi. Ông trông tiết kiệm về kiểu cách như vận động viên có tài tiết kiệm sự đi lại. Y như thể ông đang bảo tồn năng lượng cho mình lúc cần thiết.

    Ông tổ chức một buổi nói chuyện ngắn, điểm tập trung của buổi nói chuyện là nhấn mạnh các tập tục của công ty Solomon Brothers là đáng khen ngợi và độc đáo thế nào. Đúng, chúng tôi biết nó là công ty thương mại tốt nhất trên thế giới. Đúng, chúng tôi cũng biết rằng Solomon Brothers tự hào về cách làm việc đồng đội (có ai mà không đồng đội?). Đúng, chúng tôi đã nhận thấy rằng cách nhanh nhất để bị sa thải là cứ tỏ ra khoe khoang trên báo chí về việc chúng tôi đã kíếm được bao nhiêu tiền ( công ty Solomon Brothers là khiêm tốn và dè dặt). Chúng tôi đã nghe kể về số phận của một nhân vật đã làm ở Solomon tại Los Angeles, người xuất hiện trên tạp chí Newsweek cười hã hê bên bể bơi và khoác loác về sự may mắn của mình ra sao. Đúng, hắn đã bị sa thải. Đúng, chúng tôi biết rằng 3 tỉ đô vốn của Solomon đã làm cho công ty có thế lực mạnh mẽ nhất trong thị trường tài chính. Đúng, chúng tôi biết rằng, chúng tôi đã chẳng làm được gì trong cuộc sống nhỏ bé của mình, chúng tôi không xứng đáng mua một tách cà phê cho mấy ông ở trên sàn giao dịch. Đúng, chúng tôi biết không nên tự quan tâm quá nhiều mà cứ để cho công ty (cụ thể là Massey) quyết định chúng tôi sẽ được bố trí làm việc ở đâu trên sàn giao dịch khi kết thúc khóa đào tạo.

    Như các ủy viên ban quản trị khác ở Solomon Brothers, Massey năm 1985 đã bay cao sau hàng loạt quý đạt lợi nhuận kỷ lục. Không chỉ là kỷ lục của công ty Solomon Brothers mà là kỷ lục của tất cả các công ty trên Wall Street. Ông ta thể nào phạm sai lầm.

    Theo cách nói của ông ta thì công ty không thể nào phạm sai lầm. Ấy thế mà khi ông ta hỏi thì chỉ có sự yên lặng. Chúng tôi quá sợ sệt đến mức không nói nên lời.

    Chắc chắn tôi cũng không định nói gì. Chắc chắn ông ấy cũng biết nhiều điều mà đáng lẽ ra tôi cũng muốn biết, nhưng tôi cảm thấy rằng việc trả lời các câu hỏi của ông ta không chính đáng. Về điều này tôi không chỉ có một mình. Chẳng ai dám, chẳng hạn hỏi tại sao mọi người ở Solomon được dặn không được nói chuyện với báo chí thì Gutfreund với khuôn mặt tròn trĩnh được in lên trên bìa của mọi tạp chí thương mại trong nước. Không người nào dám hỏi điều mà tất cả chúng tôi đều muốn biết: Chúng tôi có thể kiếm bao nhiêu tiền trong mấy năm tới. Và câu hỏi hiển nhiên nhất không ai hỏi là tại sao Jim Massey, con người đặc trách thuê các thực tập sinh, con người trực tiếp chịu trách nhiệm về sự phát triển bùng nổ của công ty, không lo lắng rằng công ty đang bành trướng một cách thiếu thận trọng. ( đúng vậy, thậm chí rất rõ đối với cả thực tập sinh). Không, chúng tôi run lập cập với chính những câu hỏi để mà hỏi. Tôi đã học được vào lúc ấy, đây chính là những gì khác biệt giữa việc làm và học tập tại trường.

    Những ý tò mò không phải là những gì Massey theo đuổi. Massey đang tìm kiếm sự sùng bái. Nhưng ông đã từ chối những người ngồi những dãy ghế ủy mị nhất. Thậm chí họ miễn cưỡng phải a dua theo một đòi hỏi hiển nhiên như vậy.

    Bên cạnh tôi ở dãy bàn trước là Susan James, trông như một cô trông trẻ bị vỡ mộng. “Ồ các cậu hỏi đi, đặt câu hỏi đi chứ”. Cuối cùng, bên phía tay phải tôi, một tay của người ngồi dãy trước giơ lên. Tôi nhìn xem người đó là ai rồi nhắm mặt lại, bối rối thay cho anh ta. Anh ta đã không gây thất vọng.

    Chàng thanh niên mưu cầu may mắn nói: “ Ông có thể nói cho chúng tôi liệu công ty đã xem xét việc mở văn phòng tại một thành phố Đông Âu hay không? Ông biết đấy, Praha chẳng hạn”?

    Như Praha! Nếu người thuyết trình là ai đó dưới quyền ủy viên ban quản trị thì căn phòng có lẽ đã biến thành cuộc chiến bằng các quả đạn giấy và tiếng gầm rú rồi. Những âm thanh không bình thường phát ra từ phía dãy ghế sau, đúng là hơn chục thanh niên đang khúc khích. Ý kiến để Solomon Brothers mở văn phòng tại Praha có thể không bao giờ nảy ra trong bất kì ai trong lịch sử 75 năm của công ty. Như vậy là cái ý tưởng sáng tạo được phát sinh do sự có mặt của một ủy viên ban quản trị đòi hỏi ai đó phải đặt ra câu hỏi.

    Ấy thế mà Massey đón nhận câu hỏi ấy như một phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kì. Chắc hẳn ông ta chỉ muốn được hỏi rằng: Ông đã góp được gì cho thành công của Solomon?” Nhưng hôm nay, chắc chắn ông ấy phải tự nhủ rằng, đúng không phải là ngày của mình rồi.

    Sau khi Massey rời đi, đúng một tháng trước khi có ai đó cùng đẳng cấp chức vị với ông ta thử vận may trong việc đến thuyết trình ở khóa đào tạo. Có lẽ ông ta đã kể cho người ta biết rằng chúng tôi không giỏi lắm về trò chơi này. Nhưng rồi đột ngột liên tiếp và nhanh chóng chúng tôi cảm thấy khoái những đợt đi thăm của một ủy viên khác trong ban quản trị. Đó là Dale Horowitz và một người nữa là chính ông chủ tịch.

    Horowirzt là một giám đốc ngân hàng đầu tư thuộc lớp trước trạc 55 tuổi, một người khôn ngoan kiểu đường phố, một ứng cử viên dĩ nhiên để khai trương và điều hành văn phòng ở Praha khi thời cơ đến. Cái đầu của ông ngật nghẹo trên cái thân hình to lớn của mình và khuôn mặt ông cứ gợi cho tôi nhớ lại Yogi Bear. Tất cả những gì tôi biết về ông ta , giống như Gutfreund, đã nêu tên mình trên các trái phiếu đô thị và một số bạn bè người Do Thái của tôi tôn kính ông.Ông ta giống như mộy giáo sĩ: tử tế và khôn ngoan, có một sở thích hút các loại xì gà to. Mọi người gọi ông là Bác Dale. Ông đứng nghiêng mình dựa vào dãy ghế vòng và ngồi xuống cái bàn phía trước căn phòng và giang rộng tay ra. Ông nói chuyện về việc có một gia đình thì quan trọng hơn là có một nghề nghiệp như thế nào và nhận xét đó tôi nghĩ đã gây cho hầu hết mọi người có ấn tượng kì lạ nhất mà họ đã từng nghe thấy trong chương trình đạo tạo. Rồi ông nói với giọng ấm trầm ngâm là ông có thể trả lời bất kì câu hỏi nào mà chúng tôi quan tâm hỏi. Thực vậy, cứ tiếp tục hỏi. Bất kỳ điều gì.

    Mấy cánh tay giơ lên. Tôi chắc chắn đây là buổi họp Những Vấn Đề Mà Bạn Muốn Biết Về Solomon Nhưng Lại Không Dám Hỏi được mong mỏi từ lâu Một thực tập sinh đã hỏi“ Tại sao?, Có phải Solomon bị khối Ả Rập liệt tên vào sổ đen không?”.

    Nét mặt của Bác Dale nhăn lại, ông gắt gỏng: “Cậu muốn biết về cái đó để làm gì?” Trông phiền muộn y như Yogi Bear trong lúc giận dữ. Sổ đen của Ả rập là thứ không thể đề cấp đến, mặc dù tôi không thể tưởng tượng là tại sao. Bạn không phải là Dick Tracy để khám phá rằng tưởng tượng là tại sao (công ty) chúng tôi nằm trong đó. Mặc dù bạn không cần phải là James Blond ( Ct nd James Tóc vàng chứ hok phải Điện vên 007) để khám phá ra cách thoát khỏi sổ đen đó. Rõ ràng cần phải có một đoàn ngoại giao sang Damas. Khối Ả Rập đã cắt đứt mối quan hệ với công ty Solomon khi công ty liên kết (nv merge) với công ty buôn hàng hóa (commodity traders) Philips Brothers. Philips Brothers, tôi được hay là có mối quan hệ với Israel. Tôi nghĩ rằng cuốn sổ đen đó đang mất đi chiếc vòi của nó với sự sụt giảm giá dầu. Khối Ả Rập hiện nay đang chi ra nhiều hơn kiếm vào. Với giá 12 đô la một thùng dầu của họ đã làm họ trở thành khách hàng kém phần quan trọng hơn nhiều so với trước kia. Ở đây không có điều bí mật nào về công ty cả. Bạn vẫn có thể gần như thấy điểm đen được đánh dấu vào tên của học viên đã đặt câu hỏi ấy.

    Những đứa trẻ đã ngừng thích thú với ông Bác. Chúng tôi bị ru vào một cảm giác sai lầm về sự yên ổn. Chúng tôi đã cảm nhận sai lầm ngay lập tức. Trong căn phòng những cánh tay giơ lên, cố thoát khỏi những cái răng của một cái bẫy đã sập. Nhưng một cánh tay khốn khổ chậm chạp đã bị phát hiện thấy. Horowizt gọi anh ta.

    Người thực tập sinh đó hỏi: “Tại sao chúng ta lại chịu đựng được việc cho phép một công ty Nam Phi là cổ đông lớn nhất của Solomon? Có ai trong công ty suy xét đạo đức của ông chủ của chúng ta không?”

    Horowizt đã trừng mắt ác ý như muốn nói: “ Bọn mày, những thực tập sinh chết tiệt, nói những lời lẽ láo xược rồi đấy” Lúc đó ông ta đang lăn một điếu xì gà to mập quanh miệng và lúc ấy đôi mắt ông ta díu ti hí như kẻ hở của hộp thuốc. Một công ty mỏ Nam Phi gọi là Minorco có 12% cổ phần trong tổ hợp Solomon. Câu trả lời của Bác Dale là đúng, nguyên tắc đạo đức là một sự suy xét (Các bạn có thể tưởng tượng một ông giám đốc ngân hàng đầu tư nào mà nói nguyên tắc đạo đức không phải là suy xét không?) Nhưng nếu vượt qua điều đó thì ông ta sẽ không thảo luận về vấn đề đó nữa. Quá nhiều đối với sự công khai.

    Một vài buổi sáng sau đó , John Gutfreund đều đến. Vào lúc ấy chúng tôi đã dần chán ngắt với các cuộc chuyện gẫu để tìm hiểu với ban quản lí cao cấp rồi. Một số thực tập sinh dự định sẽ ngủ nướng vào cái buổi nói chuyện với John Gutfreund buổi sáng đó. Susan James lo ngại là cô sẽ không triệu tập đủ người cho nhân vật vĩ đại đó. Cô đã cho mấy thư kí gọi điện thoại đến nhà chúng tôi mấy tiếng trước khi có sự kiện nói chuyện ấy để đe dọa trừng phạt chúng tôi nếu chúng tôi không trình diện. Nỗ lực của cô ta đã uổng phí đối với tôi. Tôi không có ý định bỏ lỡ buổi ấy, như thể là Joan Collin đến duyễn thuyết vậy. Tôi không bỏ qua được. Tôi biết rằng khó lòng mong đợi được nghe thấy điều gì mới mẻ. Xong tôi nghĩ có lẽ tôi học được điều gì đó một cách gián tiếp. Vì đây là một nhân vật mà người ta nói rằng đã đóng dấu cá tính của mình vào một tổ chức; những lỗi lầm và thành công của Solomon Brothers. Gutfrend thường bị tố cáo là có ảnh hưởng nói giọng kiểu Anh, nhưng về điểm này trong nghề của ông, ông đã tự hạn chế mình không gọi những người khác là “Đồng Chí”. “Jim Massey là một đồng chí hết sức có tài năng”. Đúng như thế mãi sau tôi mới có thể xác định được, đó không phải là một ảnh hưởng của Anh mà là ảnh hưởng kiểu miền đông bắc Mỹ. Không, cái ảnh hưởng có thể nhận thấy ở ông là một sự bình tĩnh như một nhà chính trị sắc sảo và thiết thực. Ông ta thực hết sức bình tĩnh và khoan thai đến mức ông ta đã làm cho các bạn tôi cảm thấy hồi hộp và ngờ vực. Ông ta dừng lại lâu sau mỗi câu hỏi mà chúng tôi đặt ra. Ông ta thực ra muốn biết chúng tôi đang nghĩ gì. Khi một thực tập sinh hỏi ông về chính sách của Solomon Brothers đối với công việc từ thiện, ông ta nhướng mày, sau một hồi bất động một cách không thoải mái, ông ta trả lời đây là vấn đề rất khó, và ông sẽ đánh giá cao khả năng đóng góp ý kiến của chúng tôi.

    Bề ngoài chính khách lại là cái xuất phát điểm thuận lợi của một trader thô lỗ, cộc cằn. Và mọi người đều cho rằng cái nhà buôn thô lỗ ấy mới thực sự là Gutfreund. Và ông ta không những nói năng phù hợp với vai trò đó, mà còn có bề ngoài tương xứng với nó. Ông ta béo na ná như Churchill, có bộc tóc bạch kim của Harry Truman, và có điệu bộ oai vệ, nếu không kể chiều cao bằng De Gaulle. Nhưng cái gì đã kiến tạo nên cái con người tự cho rằng mình mỗi sáng luôn sẵn sàng “cắn nát mông một con gấu”?. Ở đâu ra con người mà khắp Wall Street ai cũng biết có đầy quyền lực? Có phải là con người với cái tên có thể gây nỗi kinh hãi trong những trái tim của các giám đốc điều hành không? Chúng tôi không biết. Và tôi cũng không chắc chắn mình muốn tìm hiểu chuyện đó. Vấn đề là điệu bộ cao thượng và những lúc tạm ngắt giọng đầy hàm súc của ông ta hoàn toàn bị che lấp bởi uy tín của ông. Bởi vì với những gì chúng tôi đã nghe được, không thể nào có thể tưởng tượng về cuộc đàm luận một cách hòa đồng bên tách trà trong phòng làm việc của ông ta. Ai mà biết được ông ta nhặt được kiểu phong cách chính khách khôn ngoan này từ đâu? Nhưng không ai nghĩ rằng đó là có thực. Thực là nguy hiểm – như một cái nhìn thôi miên của một con rắn hổ mang.

    Sau khi chẳng nói gì nhiều cho chúng tôi lắm, ngoại trừ cho chúng tôi thấy dáng vẻ một tay có hạng và danh tiếng của thế giới tài chính là như thế nào, ông ta đi. Và đó là kết thúc cuộc lộ diện của ban quản lý của công ty Solomon Brothers với chúng tôi.

    Còn tiếp…….
    [/FONT]


    [FONT=&quot]Tôi cứ cho rằng cách cư xử kỳ lạ của các ông quản lí đơn giản chỉ là một phản ứng khi đã có một đống tiền rơi vào những túi của họ thôi. Họ vẫn đang thưởng thức cái con gà tây được vỗ béo bởi Paul Volcker và sự miệt mài vay mượn của nước Mỹ. Đó, họ là thế, những con người khiêm tốn, đang sống bằng những đầu thừa đuôi thẹo của người khác, rồi đột nhiên con gà được vỗ béo được đưa lại và trao cho họ. Họ chẳng làm gì quá những việc họ đã thường làm, ấy thế mà vinh quang vẫn ùa đến với họ. Thu thập của họ đã thay đổi, và nó làm thay đổi cuộc sống của họ. Chúng ta hãy hình dung xem.

    Nếu bạn là một người bình tĩnh, có một cảm giác mạnh khi rút tài khoản ngân hàng của bạn ra và phát hiện ra ai đó đã viết cho bạn một tờ séc trị giá hàng chục triệu đô la, bạn có thể cư xử như bạn đã chiến thắng, vung chân đá vào không khí và tự bật cười rồi đi ngủ với sự kì diệu về cái may mắn tốt lành của bạn. Nhưng nếu cảm giác tự mãn bao trùm thành công tài chính của bạn, bạn có lẽ sẽ tin rằng mình xứng đáng với mọi cái mình có thôi. Bạn đón nhận nó như một sự phản ánh cái gì đó vĩ đại của bạn. Bạn nắm được tổng thể ván đề và diễn đạt nó một cách trôi chảy ở bất kì chỗ nào mà bạn thảo luận về nền văn minh đáng tán tụng của Solomon Brothers.

    Hầu hết mọi người trên Wall Street đã nhận món tiền của mình một cách nghiêm túc bất kể nguồn gốc của nó, và những ông chủ chúng tôi cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Nhưng một số trong giới Solomon Brothers cũ đã có một phản ứng phức tạp hơn đối với đồng tiền của họ. Không phải họ nghi ngờ họ có xứng đáng từng đồng xu họ kiếm ra không. Nhưng họ không dễ dàng với sự bùng nổ về vay nợ tại Mỹ. ( Nói chung, họ càng nghĩ đến Great Depression ( cuộc Đại Khủng Hoảng 1929), họ càng nghi ngờ về đòn bẫy hóa ( leveraging) ở Mỹ. Nhà nghiên cứu trái phiếu ở Solomon, Henry Kaufman, là trường hợp của sự bất hòa nhận thức sắc bén nhất khi tôi đến công ty này. Ông là người có thế lực của thị trường trái phiếu và cũng là lương tâm của công ty chúng tôi. Ông nói với các nhà đầu tư liệu các trái phiếu biến động nhanh của họ đang lên hay xuống. Ông hầu như luôn luôn đúng về thị trường, đã làm cho ông nổi tiếng nếu không muốn nói là trong các nước nói tiếng Anh nói chung thì cũng ít nhất trong số những người đọc nhật báo Wall Street Journal. Ấy thế mà Kaufman được mọi người biết đến như là Tiến Sỹ U Sầu. Bữa tiệc đã tôn vinh danh tiếng ông ta nhưng ông ta lại có vẻ như muốn nó dừng lại. Như ông đã viết trên tạp chí Institustional Investor gây tiếng vang trong số tháng 7, 1987:

    “Một trong những điều đáng chú ý nhất đã xảy ra vào những năm 1980 là sự bùng nổ về nợ, vượt quá bất kỳ mốc lịch sử nào. Vượt quá bất kì điều gì mà bạn mong đợi tương ứng với tổng sản lượng quốc gia, liên quan tới sự bành trướng tiền tệ đang diễn ra. Nhưng tôi cho rằng, nó là hậu quả của việc tự do hóa hệ thống tài chính, đưa tổ chức kinh doanh tài chính vào hoạt động, mà không đưa vào các biện pháp phòng ngừa và nguyên tắc phù hợp. Đó chính là tình trạng chúng ta gặp phải”.

    Đó chính là tình trạng của chúng ta: lộn xộn, thiếu cẩn trọng và nợ như Chúa Chổm. Với vị trí tại Solomon, chúng tôi chính là những người nằm trong số các nhà kinh doanh tài chính hàng đầu. Tình trạng tồi tệ mà Kaufman đề cập đến chính là những gì chúng tôi góp phần tạo nên.

    Trong khi phần lớn nước Mỹ tưởng tượng rằng Wall Street có nghĩa là thị trường chứng khoán, thì chính thị trường trái phiếu của chúng tôi tạo nên nhịp điệu của cho Wall Street vào những năm 1980. Công ty Solomon Brothers đứng ở ngã tư của sự thay đổi, có được của trời cho nhờ đứng ở đúng chỗ và đúng lúc, tự hào về khả năng kinh doanh trái phiếu siêu hạng của mình. Nhưng lúc nào cũng bị bịt mắt. Nó thiếu một sự nhìn nhận chính xác về sự bùng nổ trên thị trường trái phiếu này rồi sẽ dẫn tới đâu. Nhưng lại không thiếu những ý kiến về việc phải làm gì với của trời cho thu được đó. Mỗi trader có mỗi cách nhìn. Nhưng những ý kiến thì vừa chuyên quyền vừa tư vị. Từ năm 1980 trở đi, công ty Solomon tiến hành cái gọi là một trong những phi vụ thương mại kì cục và đắt tiền hất trong lịch sử của các công ty Hoa Kỳ. Và hầu như trong suốt chặng đường ấy, Solomon luôn tự khen mình.

    Với tầm gần 8 tuần học tập, nét mặt của những vị giảng viên đang bắt đầu hòa màu với nhau. Ấy thế, một trader khác có giọng Brooklin và chứng ho khan đã đến trước lớp và thuyết trình. Ở ông ta vẫn có cái gì đó phân biệt được với người giản viên khác. Thoạt đầu, tôi không thể nhận ra đó là cái gì. Xong tôi đã nhận thấy, đó là những vết nhăn. Ông đã già. Thái độ của ông đối với công việc, theo tiêu chuẩn của chúng tôi là đa cảm. Ông thốt ra những lời dí dỏm như những con chim câu cưng: “ Khi tôi trade, các bạn biết đấy, tôi không dừng lại để vỗ ngực. Bởi vì khi tôi tự khen ngợi mình, thì cảm giác sau đó thường là một cú đá mạnh phía bên dưới Và thực chẳng vui thú gì.” Khi được hỏi mấu chốt cho sự thành công ông nói : “ Thằng chột làm vua xứ mù”. Trên hết, ông đã cho chúng tôi một nguyên tắc chỉ đạo về thông tin trên các thị trường mà về sau tôi thấy rất có lợi: “ Những người nói thì không biết và những người biết thì không nói”. Ông ta đang nói về thị trường chứng khoán. Ông thuộc ban chứng khoán không có lãi, là cái ao tù, là nơi trú chân của những người bị coi là được dùng để lấp chỗ trống, giống như những cổ phiếu ở Dallas. Cách tốt nhất để tránh bị đầy tới Dallas bán cổ phiếu là không bao giờ gặp mặt bất cứ ai trong ban cổ chứng khoán cả. Đầu tiên nó phải chọn bạn ra khỏi hàng ngũ trước khi nghĩ đến giao cho bạn một công việc. Chúng tôi ngồi co lại trên ghế của mình, ngồi suốt cả tuần khi những người từ ban cổ phiếu nói chuyện. Chúng tôi cho rằng chúng tôi có lẽ không bao giờ gặp lại họ một khi xong chương trình đào tạo. Thực không thể nói rằng họ lạc lõng – Công ty Solomon Borthers cũng là người bao tiêu chính phát hàng các cổ phiếu mới trên Wall Strett và là một trong hai hoặc ba công ty buôn cổ phiếu hàng đầu, nhưng bên trong công ty Solomon Brothers, những con người của ban chứng khoán là những công dân hạng hai. Ban chứng khoán, nó một cách so sánh, không kiếm được đồng nào.

    Ban chứng khoán không phải ở trên tầng 41, tầng giao dịch chính mà ở tầng bên dưới. Tầng 40 có trần nhà thấp, không có cửa sổ và trông như phòng máy nước. Ngoài những trader cổ phiếu ra, nó còn một số lớn salesman trái phiếu của Solomon. (Chỉ những salesman trái phiếu cỡ Big Swinging Dick mới được phép ở tầng 41). Âm thanh của tầng 40 kêu như tiếng các chú dế kêu trong rừng ban đêm, là tiếng nói kì lạ về những cổ phiếu và trái phiếu đang được bán: Âm thanh với hàng trăm giọng nói đang van nài và tiếng sột soạt của việc đóng gói sự thật lại, để chúng trông đẹp đẽ hơn mới đến. Qua một chiếc loa, nghe thấy tiếng huýt dài và hú của một người trên tầng 41 cho một saleman ở tầng 40 để bán thêm trái phiếu. Có lần tôi đi bộ ngang qua khi công ty đang cố gắng bán những trái phiếu của chuỗi cửa hàng thuốc Revco (mà về sau bị phá sản và vỡ nợ chính những trái phiếu đó). Giọng nói xé ra khỏi cái phòng hình hộp đó: “Mọi người, mau lên, chúng ta đâu có bán sự thật”. Cuộc sống trên tầng 40 là tàn nhẫn.

    Tầng 40 cách xa với tầng 41 đầy quyền lực không phải ở mặt vị trí. Có một cầu thang máy phục vụ riêng tầng 40. Mọi người trò chuyện cả ngày giữa tầng 40 và 41 ấy thế mà không bao giờ nhìn thấy nhau. Hệ thống thông tin được trang bị một cách đầy đủ và tiên tiến làm cho mối quan hệ giữa mọi người rất đơn giản, một nhân viên bán hàng ở Dallas cũng cảm thấy gần gũi với tầng 41 như một nhân viên ở tầng 40 vậy. Nhân viên ở Dallas theo cách đó còn gần hơn với trung tâm quyền lực ít nhất là lúc nhân viên ấy tới thăm tầng 41, bởi vì từ xa đến nên các giám đốc mới mở lời chào anh ta.

    Ban cổ phiếu là một bài học cụ thể về những đảo lộn của cuộc sống. Thị trường chứng khoán đã có lần là nguồn lợi tức lớn nhất Wall Street. Những khoản tiền hoa hồng béo bở, ổn định và không thể chuyển cho người khác được. Mỗi lần một cổ phần đổi sở hữu, thì người môi giới ở đâu đó đã lấy ra cho mình một khoảng tiền hoa hồng hậu hĩnh mà không cần phải làm nhiều việc cho lắm. Người môi giới được trả tiền hoa hồng cho việc thực hiện một đơn hàng 200 cổ phiếu gấp đôi một đơn hàng 100 cổ phiếu mặc dù khối lượng công việc trong 2 trường hợp như nhau. Sự kết thúc của những khoản hoa hồng môi giới chứng khoán cố định là vào ngày 1/5/1975 – được những người môi giới chứng khoán gọi là ngày Mayday (Quốc tế lao động?) mà sau ngày ấy có thể đoán trước sự sụp đổ của phí môi giới. Các nhà đầu tư chuyển sang bất kì người môi giới chứng khoán nào lấy phí môi giới ít nhất. Kết quả là vào năm 1976, nguồn lợi nhuận của cả Wall Street đã giảm 600 triệu đôla. Cái máy kiếm tiền đã bị hỏng.

    Và rồi, cảnh cơ hàn bị lăng nhục thêm, thị trường trái phiếu bùng nổ. Với sự tăng lên của các thị trường trái phiếu, các slasman và trader chứng khoán bị thu nhỏ lại. Họ cũng kiếm được ít tiền và vẫn cười đôi lần, nhưng gần như không nhiều bằng trader trái phiếu. Chẳng hạn, không một tay trader cổ phiếu nào lại dám mơ chơi Bài Nói Dối với 1 triệu đôla. Tiền đâu ra mà chơi?


    Chúng tôi, những thực tập sinh không định rơi vào cảnh túng bấn. Điều này khiến cho những người thuộc ban chứng khoán nảy sinh vấn đề làm cách nào để thuyết phục chúng tôi cùng tham gia với họ. Khi họ đi lướt qua chương trình đào tạo, khác xa cách kể những chuyện hậu trường để gây sự chú ý của chúng tôi như cách nhiều trader trái phiếu làm, mấy ông phát ngôn viên của ban chứng khoán liền đọc một tràng dài kiểu quảng cáo bán hàng. Những bài thuyết trình của họ có chất van nài đáng thương, làm cho vấn đề càng trầm trọng them. Theo nhiều cách, chúng tôi những thực tập sinh có thể chậm chạp. Nhưng chúng tôi cũng đánh hơi thấy mốt mới chứ. Và chúng tôi biết rằng nói chung mức độ quan tâm chăm sóc mà chúng tôi nhận được trong lớp đào tạo tỷ lệ nghịch với tính chất hứa hẹn của công việc mà mỗi người thuyết giáo phụ trách. Về điều này lại có một bài học. Để có công việc tốt nhất, bạn phải vượt qua được việc bị người ta đối xử tồi tệ.

    Và vấn đề đó, là một thực tập sinh thì không khác với một khách hàng là bao. Đúng như những người của ban chứng khoán phải xu nịnh và chiều theo chúng tôi, họ đã xu nịnh và chiều theo khách hàng của họ để được việc, bởi vì thị trường cổ phiếu đang cạnh tranh quyết liệt. Một nhà đầu tư có thể mua các cổ phần trong công ty IBM từ Solomon, nhưng cũng có thể mua chúng bằng giá từ 40 công ty môi giới chứng khoán khác. Mặc khác, những người bán trái phiếu có thể đánh, đá chúng tôi như những thực tập sinh mà không bị trừng phạt, như họ cũng có thể đấm đá những khách hàng của họ nếu họ muốn, bởi vì công ty Solomon gần như là một công ty độc quyền trong thị trường trái phiếu. Từ cách mà chúng tôi bị đối xử chúng tôi có thể luận ra cả những tiêu chuẩn đối xử trong mọi thị trường lẫn mức độ ưu thế mà Solomon có trong mỗi thị trưởng đó. Mặc dầu có thể không rõ ràng đối với mỗi thực tập sinh nhưng thông điệp cuối cùng thì ai cũng hiểu: Tham gia chứng khoán và hôn mông (kiss ass) như Willi Loman , tham gia trái phiếu và đá đít (kick ass) như Rambo.

    Những người trong ban chứng khoán vẫn dường như có vẻ hạnh phúc, mặc dù không phải cho tới lúc dành chút thời gian bên họ tôi mới bắt đầu tìm hiểu tại sao. Họ ít chịu áp lực hơn những trader và salesman trái phiếu. Họ chấp nhận số phận của mình như những bác nông dân trong cánh đồng quê miền Breghel và sẵn sàng tán tụng những hoan lạc đơn giản của cuộc đời. Một ngôi nhà trên bờ biển Jersey còn hơn trên Hamptons. Trượt tuyết tại Vermont còn hơn tại Zermatt. Và đối với tôi để đánh giá thực khó làm sao, những người trong ban chứng khoán cũng có sự nghiệp. Họ đã từng thấy những lần thị trường đi lên (bull), những lần thị trường đi xuống (bear) và những thị trường ế ẩm (dull). Miễn là vẫn còn đó thị trường chứng khoán yêu mến, họ dường như chẳng còn phiền muộn gì về cảnh bần hàn của mình cả. Họ muốn truyền đạt cho chúng tôi đầy đủ tinh thần làm việc một cách tuyệt vọng. Họ đưa ra một quyển sách gồm những bài thơ, những bài tiểu luận và những đoạn trích dẫn khi khởi đầu chương trình đào tạo. Nó thực không may khi bắt đầu bằng đoạn trích sau do một người cổ phiếu viết, được mang tên “Hồi kí của một trader”.

    “Thị trường, như anh ta đã học được, là biển cả, được kính trọng và sợ hãi. Bạn dương buồm lướt trên mặt nước phẳng lặng và một ngày giữa mùa hè dịu dàng. Bạn khoan khoái hít thở một làn gió nhẹ, vui tắm mình trong biển cả và phơi mình trong những tia nắng rực rỡ. Hoặc bạn ngả mình trong dòng nước lặng và lơ mơ ngủ. Một luồng gió lạnh thổi xiết, những đám mây đen ùn ùn kéo đến và mặt trời biến mất, những tia chớp và những tràn sấm sét; đại dương nổi sóng dữ dội con thuyền mong manh của bạn bị biển cả hung dữ tung lên hạ xuống rồi con thuyền bị vỡ từng mảnh. Nửa số người bị quăng xuống biển….bạn bị đánh giạt vào bờ…trần truồng và kiệt sức nằm sóng soài trên bờ biển, xin cảm ơn vẫn còn sống sót…”

    Ban chứng khoán đã vượt qua không những biển cả giận dữ mà còn cả sự chối từ nữa. Thật đau lòng khi phải nhìn thấy điều đó. Mỗi ngày người điều khiển con tàu chứng khoán, Laslzlo Biriyi, đã phải vật lộn hết sức tài giỏi và dũng cảm để gây ảnh hưởng cho chúng tôi. Ấy thế mà mỗi ngày ông ta đều thất bại. Thực chất sự vật lộn của Laszlo cho ban chứng khoán là câu hỏi này: Khi bạn mở tivi lên xem lúc 6h30 và Dan Rather nói cho bạn biết là hôm nay thị trường tăng tới 24 điểm, bạn cho rằng ông ta muốn nói thị trường nào? “Cái nào nhỉ?” Laszlo sẽ nói “ Bạn cho rằng ông ta đang nói về những trái phiếu công nghiệp hạng A không? Ha! Ông ta đang nói về thị trường chứng khoán”. Nói cách khác, nếu bạn tham gia vào ban chứng khoán, thì mẹ bạn sẽ biết bạn đang làm gì để sinh sống.

    Laszlo cũng nhấn mạnh về nền văn hóa và lịch sử lâu đời của thị trường chứng khoán. Mọi người từ Will Roger đến John Kenneth Galbraith đều đã từng nói về thị trường chứng khoán. Tham gia vào các ban chứng khoán, chúng tôi có thể phần nào lớn hơn nhiều so với bản thân mình. Tôi không chắc rằng chúng tôi đã có thể nhận thức được về bất kì điều gì lớn hơn mình. Và cho dù chúng tôi đã nhận thức được, thì nó có lẽ đã không phải là thị trường chứng khoán. Kết quả là yêu cầu này của Laszo không bao giờ thực hiện được. Chúng tôi không bị lay chuyển bởi cái lịch sử và văn hóa đó và dù thế nào đi nữa những con người thông thạo đó đã làm cho thị trường chứng khoán dường như là một nơi không thể làm việc được. Những bài viết xoàng của họ thì xum xoe như “Truyện Kí của một trader”. Như trong trường hợp của đoạn trích dẫn này từ một người nào đó, mang tên Walter Gutman: “Chẳng có gì giống bảng giá giao dịch của thị trường cổ phiếu cả, ngoài một người phụ nữ - chẳng có gì hứa hẹn, hết giờ này qua giờ khác, ngày lại ngày chỉ là những biến động bất thường, chẳng có gì lại hay thất vọng và đôi khi lại đầy vẻ hấp dẫn đến mức khó tin như thế”. làm cho những nam thực tập sinh nhớ lại những cuộc chinh phục ********. Ai biết được các thực tập sinh nữ nghĩ gì?

    Tuy nhiên , trong tận sâu thẳm, những con người của thị trường cổ phiếu không quan tâm nhiều đến kiến thức nhà trường hay sách vở, hay bất cứ điều gì đó trừ kinh nghiệm thực tế. Họ dùng một trích dẫn của nhà đầu tư huyền thoại Benjamain Graham để bảo vệ địa vị của họ “ Trên thị trường cổ phiếu những bài toán càng phức tạp và khó hiểu thì kết luận mà chúng tôi đưa ra từ đó càng có tính chất suy đoán và không chắc chắn…bất cứ lúc nào toán tính phân hoặc đại số cao cấp được đưa vào, bạn có thể xem đó như là dấu hiệu báo trước rằng người buôn bán chứng khoán đang cố gắng thay lý thuyết bằng kinh nghiệm”.

    Điều này có vẻ buồn cười đối với 80 người có bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh và 14 người có bằng tiến sỹ trong lớp đào tạo. Cần gì đến một khẩu Bazooka trong khi luật pháp chỉ cho bạn săn bắn bằng cung và tên. Ban chứng khoán dường như tụt hậu một cách tuyệt vọng. Những giọng điệu bán hàng không đủ sức nặng. Do vậy một ngày kia, nó ngừng tiếng hát và nhường chỗ cho những Thanh Niên Thông Minh của ban nói chuyện với chúng tôi. Anh ta là đồ chơi mới sáng bóng. Công việc của anh là làm cho chúng tôi lóa mắt vì sự thông minh của anh ta và bịt
    [/FONT]
  5. Stockcity

    Stockcity Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 22, 2010
    Likes Received:
    24
    Khiếp
  6. albee

    albee Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Dec 7, 2010
    Likes Received:
    0
    ^:)^^:)^^:)^^:)^
  7. xanhchin8668

    xanhchin8668 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa Not Official

    Joined:
    Jul 15, 2011
    Likes Received:
    41,539
    Mợ...Bố khỉ...Éo ai mà đọc được...Dài như cái mo nang...>:)>:)>:)
  8. hoctro_DTCK

    hoctro_DTCK Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 4, 2010
    Likes Received:
    0
    Tiểu thuyết chương hồi hả :-o. Toàn chữ
  9. SIF

    SIF Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 12, 2010
    Likes Received:
    45
    Chủ topic có công sưu tầm. thanks
  10. vuadauco

    vuadauco Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 24, 2011
    Likes Received:
    19
    cháu đã cố tình pót bên giao lưu rồi mà...tối cháu đọc =))

Share This Page