|
|
|

Thích
Không thích
|
|
|
|
| Chủ đề: Phân tích kỹ thuật: Nhóm ngành ngân hàng |
| Chủ đề này đã có 787 lượt đọc và 11 bài trả lời | 0 người thích | 0 người không thích |
|---|
|
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 15:01, 21/04/10
Được cảm ơn 811 lần
|
|
||||||||||||||
|
Hình minh họa Nhóm ngành Ngân Hàng · Điểm dừng hiện tại: Fibo50% · Dòng tiền sụt giảm trầm trọng. ![]() ![]()
ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT NHẬN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CKVN MỜI GHÉ THĂM: http://stockchart.com.vn/ http://phantichkythuat.com.vn/ |
|||||||||||||||
|
|||||||||||||||
|
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 15:01, 21/04/10
Được cảm ơn 811 lần
|
|
|||||||||
|
Xử lý nợ xấu, nhanh cũng phải 2 - 3 năm
TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, nguyên nhân phát sinh nợ xấu đến từ cả phía Nhà nước, DN và ngân hàng, nên cả ba bên đều phải có trách nhiệm xử lý. Nhưng về tổng thể, giải quyết nợ xấu cần phải gắn với tái cấu trúc nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô. Nhiều ý kiến cho rằng, nợ xấu của ngân hàng chính là nợ xấu của nền kinh tế. Ông bình luận gì về ý kiến này? Về bản chất, nợ xấu là khoản nợ không được thanh toán theo đúng hợp đồng cho vay. Về mặt kỹ thuật, việc phân chia các khoản nợ xấu căn cứ vào việc chậm trả nợ, lãi theo thời gian. Thời gian trễ hạn càng dài có nghĩa món nợ đó càng xấu. Tóm lại, về bản chất, nợ xấu là một hợp đồng vay nợ mà bên đi vay không trả được. Như vậy, nợ xấu của toàn nền kinh tế lớn hơn nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Theo ông, do đâu mà nợ xấu tăng khá nhanh trong thời gian qua? Nguyên nhân xuất phát từ cả phía Nhà nước, DN và ngân hàng. Trước tiên, phát sinh nợ không thanh toán được một phần do phía ngân hàng có thể có sai lầm, không thẩm định tốt dự án, quản trị rủi ro yếu, giám sát nội bộ yếu... Bản thân DN cũng kém, vì đánh giá sai tình hình, năng lực quản trị yếu, hoạt động kém hiệu quả... Nhà nước cũng có trách nhiệm trong vấn đề này. Thứ nhất, công tác giám sát ngân hàng chưa tốt. Thứ hai, Nhà nước cần xem lại chức năng cung cấp thông tin đối với DN để định hướng cũng như giảm thiểu rủi ro cho DN; hỗ trợ DN trong khâu đào tạo nguồn nhân lực. Đặc biệt, công tác điều hành chính sách vĩ mô đôi khi chưa tốt. Như vậy, việc xử lý nợ xấu cần đến cả ba bên? Đúng vậy. Nguyên nhân thuộc về ba bên, nên cả ba bên đều phải có trách nhiệm xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, về trách nhiệm của Nhà nước, cần phải lưu ý rằng, do Nhà nước là người điều hành nền kinh tế, hơn nữa tiền của Nhà nước là tiền của dân, vì vậy vấn đề xử lý ngân sách thế nào phải rất khéo. Vấn đề thứ nhất là chi phí ngắn hạn để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Ở đây, dù dưới góc độ ông chủ trực tiếp hay dưới góc độ tổng thể nền kinh tế, thì việc tái cơ cấu phải nhằm mục tiêu làm cả hệ thống mạnh lên. Vấn đề là trong quá trình này, Nhà nước có cần can thiệp hay không, can thiệp như thế nào, chi phí ra sao? Vấn đề thứ hai lớn hơn là có đảm bảo mất chi phí như thế thì trong dài hạn, lợi ích có lớn hơn được hay không. Thu hồi nợ không thanh toán được chỉ là một nhẽ, còn lớn hơn là phải tái cấu trúc hệ thống hiệu quả. Về tổng thể, cần phải gắn với tái cấu trúc nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô. Vậy theo ông, cần phải làm gì để xử lý hiệu quả vấn đề nợ xấu? Có nhiều hướng để xử lý, trong đó không loại trừ việc thành lập một định chế, chẳng hạn như Công ty Mua bán nợ quốc gia (AMC). Mục tiêu hoạt động của định chế này có thể không phải vì lợi nhuận, mà là làm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, để hệ thống ngân hàng đưa vốn vào nền kinh tế thực sao cho hiệu quả, vì lợi ích chung. Bởi vậy, định chế này gần như là một định chế công. Tuy nhiên, phải tối thiểu hóa nguồn vốn từ ngân sách, cần tìm nguồn lực khác trong chừng mực nhất định. Bên cạnh đó, mặc dù không vì mục tiêu lợi nhuận, nhưng phải làm sao để chi phí là thấp nhất, chi phí theo nghĩa là chiết khấu, bây giờ chi ra sau này sẽ lấy lại. Tuy nhiên, hiện có nhiều ý kiến băn khăn về vấn đề lợi ích nhóm khi thành lập AMC? Lo ngại như vậy không phải không có lý. Nếu có tư ***g trong công, tồn tại các mối quan hệ sở hữu chéo, có mối quan hệ lằng nhằng giữa DN, ngân hàng và Nhà nước, thì vấn đề trở nên phức tạp rất nhiều. Chính vì vậy, quá trình này cần phải được giám sát chặt chẽ, gắn với những hỗ trợ mang tính chuyên nghiệp, chuyên gia độc lập, không chịu trách nhiệm lợi ích nhóm. Phải tính hết rủi ro để hạn chế nó, chứ không phải thấy rủi ro là dừng. Nợ xấu là vấn đề nghiêm trọng, phải cố gắng xử lý triệt để, quyết liệt, khẩn trương, nhưng không có nghĩa là phải vội vã. Theo tôi, nhanh nhất cũng phải mất 2 - 3 năm để xử lý dứt điểm vấn đề nợ xấu, lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, hiện ngay cả con số nợ xấu là bao nhiêu cũng chưa thống nhất thì làm sao để xử lý, thưa ông? Tất nhiên, các con số cần minh bạch, rõ ràng hơn là vấn đề rất quan trọng, vì thông tin có đầy đủ mới có thể đưa ra được giải pháp xử lý đúng và bài bản. Thứ hai, dự tính nguồn lực để xử lý. Thứ ba, để tạo dựng lòng tin cho thị trường, rất cần sự minh bạch. Theo Hồng Dung ĐTCK ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT NHẬN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CKVN MỜI GHÉ THĂM: http://stockchart.com.vn/ http://phantichkythuat.com.vn/ |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 15:01, 21/04/10
Được cảm ơn 811 lần
|
|
|||||||||
|
Xử lý nợ xấu: Rủi ro nhiều, dự phòng ít
Trích dự phòng chưa tương xứng với mức độ rủi ro của từng khoản vay; cơ chế sử dụng mức dự phòng để xử lý nợ quá chặt chẽ vô tình giúp các ngân hàng (NH) có cớ ỷ lại xử lý nợ xấu. Trích ít, lãi nhiều Theo Quyết định (QĐ) 493/2005 của NHNN, các khoản tín dụng được phân theo 5 nhóm nợ, căn cứ từng nhóm, các NH phải trích lập dự phòng rủi ro (DPRR). Cụ thể, nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) trích 0%, nhóm 2 (nợ cần chú ý) 5%, nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) 20%, nhóm 4 (nợ nghi ngờ) 50% và nhóm 5 (nợ có nguy cơ mất vốn) 100%. Ngoài ra, NH còn phải trích DPRR chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ. Như vậy, DPRR là một nguồn quan trọng để các NH sử dụng để xử lý nợ. Số tiền trích hạch toán vào chi phí kinh doanh nên mức trích càng lớn, lợi nhuận càng giảm và ngược lại, trích ít thì lợi nhuận nhiều. Một chuyên gia có uy tín về lĩnh vực tài chính cho biết, mức trích hiện nay là quá ít trong khi ở nhiều quốc gia, bất cứ khoản cho vay nào NH cũng phải trích dự phòng 100% giá trị khoản vay đó. Ngoài ra, theo QĐ 493, khi tính số tiền dự phòng cụ thể phải trích, các NH được trừ đi tỷ lệ nhất định trên giá trị tài sản thế chấp nên số tiền thực tế bị giảm đi rất nhiều. Chuyên gia này ví dụ, một căn nhà giá trị 10 tỉ đồng, tỷ lệ tối đa để xác định giá trị tài sản bảo đảm là 50%. Số tiền dự phòng phải trích bằng giá trị của khoản nợ trừ đi giá trị của tài sản đảm bảo thì rõ ràng mức trích đã giảm đi một nửa. “Đó là lý do khi thị trường bất động sản đóng băng, giá sụt giảm, những khoản nợ nhóm 5 có nguy cơ mất vốn không được các NH phát mãi. Vì bán lỗ và DPRR cũng không đủ để bù vào. Nếu tiếp tục trích, chi phí tăng lên, lợi nhuận của NH sẽ bị giảm xuống. Vì vậy, họ không muốn làm điều đó”, chuyên gia này nói. “Né” trách nhiệm Theo QĐ 493, các NH chỉ được dùng DPRR để xử lý nợ nhóm 5, hoặc khi DN giải thể, phá sản; cá nhân bị chết hay mất tích. Cơ chế này, được tổng giám đốc một NH cổ phần ví như việc các NH đóng tiền để dự phòng nhưng lại không thể sử dụng linh hoạt để có quyền xử lý nợ. Thế nhưng, các chuyên gia cho rằng đó chỉ là cái cớ. Vì nếu có cho thì chưa chắc các NH đã ráo riết, quyết liệt “móc” tiền từ đó ra, vì khi dùng đồng nào, các NH phải trích thêm cho đầy đủ DPRR đồng đó. “Càng trích thì càng làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận. Rõ ràng các NH có lý do để chần chừ và muốn giải quyết bằng cách khác”, một chuyên gia tài chính NH lý giải. Theo đề xuất của vị chuyên gia này đã đến lúc NHNN cần phải thay đổi những cơ chế, chính sách đã quá bất cập tại QĐ 493, vì hiện tại quy mô hoạt động của các nhà băng đang ngày càng mở rộng trong khi những quy định hiện nay không đủ để đảm bảo sự an toàn. Ngoài ra, những quy định trên quá nặng về tài sản đảm bảo, trong khi thực tế tiêu chuẩn đầu tiên đảm bảo an toàn cho một món vay chính là tính khả thi và hiệu quả của dự án đó lại chưa được đề cao. Đó là chưa kể, QĐ này đã tạo cơ chế cho các NH mải chạy theo lợi nhuận, quảng bá ầm ĩ thông qua tăng vốn, tăng tài sản, nhưng kết quả cuối cùng là một cơ thể ốm yếu với đầy rẫy nợ xấu. “NH phải chấp nhận tăng mức trích, giảm lợi nhuận, chứ không thể để những khoản nợ quá nhiều mà không tự giải quyết, trong khi lợi nhuận vẫn đứng ở mức cao”, nguyên Phó trưởng Vụ Kế toán NHNN chia sẻ và bà cũng đề xuất thêm, hiện nay ngoài DPRR, theo Nghị định 146/2005/NĐ-CP các NH phải trích Quỹ dự phòng tài chính chung, mức trích là 10% lợi nhuận sau thuế, số dư tối đa của quỹ này không vượt quá 25% vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, mức trích 10% này chưa thấm vào đâu đối với đặc thù hoạt động nhiều rủi ro của ngành NH. Vì vậy, cần thiết phải nâng mức này lên ít nhất 15%. “Nợ xấu ngoài nguyên nhân DN quản trị kém, cũng do chính bản thân các NH cho vay quá nhiều, không theo quy trình tín dụng. Vì vậy, bản thân các cổ đông NH phải chấp nhận giảm cổ tức để tham gia xử lý nợ xấu, trước khi mong chờ các giải pháp khác”, chuyên gia này nói thêm. Theo Anh Vũ Thanh niên ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT NHẬN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CKVN MỜI GHÉ THĂM: http://stockchart.com.vn/ http://phantichkythuat.com.vn/ |
||||||||||
|
||||||||||
|
Ko có người thày nào tốt bằng những cái tát của thị trường.
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 17:19, 01/10/08
Được cảm ơn 1122 lần
|
|
||||||||||||
|
04/08/2012 13:40 | A A A Khai báo, giám sát nợ xấu có vấn đề Số nợ xấu bao nhiêu hiện nay không ai biết chính xác, rõ ràng là công tác khai báo và giám sát nợ xấu đang có vấn đề nghiêm trọng. Đó là quan điểm của Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành trước việc có quá nhiều con số về nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay. 6 tháng đầu năm một số NHTM vẫn lãi lớn. Phải chăng là các NHTM làm đẹp bản báo cáo tài chính, lấy lãi khủng che nợ xấu? Số nợ xấu bao nhiêu hiện nay không ai biết chính xác. Đầu năm, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình trả lời là 3%, rồi kỳ họp thứ 3, Quốc hội XIII lại nói là 10%. Rồi NHNN lại cho cơ quan thanh tra giám sát vào cuộc và công bố nợ xấu đến cuối tháng 3 là 8,6%. Rõ ràng là công tác khai báo và giám sát nợ xấu đang có vấn đề nghiêm trọng. Tại sao nợ xấu của các NHTM lại không minh bạch. Cái này chúng ta phải trở lại quy định việc trích dự phòng rủi ro cho các hạn nợ xấu. Như nợ thuộc nhóm 4 (nghi ngờ) thì phải trích dự phòng rủi ro lên 50%, còn nợ thuộc nhóm 5 (khả năng mất vốn) thì phải trích dự phòng rủi ro 100%. Do vậy nếu che được nợ xấu thì không phải trích dự phòng rủi ro. Tôi tin rằng nếu như làm đằng thẳng và khai báo, trích lập dự phòng rủi ro thì lợi nhuận khối NH không thể lên tới cả nghìn tỷ. Hiện nay tổng dư nợ tín dụng là 2,7 triệu tỷ đồng. Tổng số vốn điều lệ của hệ thống NH chỉ 220.000 tỷ đồng. Trong khí đó trần tình của NHNN nợ xấu của các TCTD là hơn 202.000 tỷ đồng. Thế thì nợ xấu đang ăn mòn vốn của NHTM rồi. Bản thân các NHTM đưa ra lý lẽ nợ xấu do nền kinh tế xấu đi, sản xuất đình trệ, bất động sản lay lắt, do vậy NHTM bị hệ lụy? Ông có đồng tình về cái lý đó không? Thực tế nói rằng, nếu như DN vay lãi suất 10% thì còn cố kinh doanh được, chứ vay lãi suất 15% thì hoạt động cầm chừng, còn lãi suất 18- 20% là NH "bóp cổ” DN. Chỉ 50% các khoản vay cũ được đưa về lãi suất 15%. Có nghĩa là hàng nghìn hợp đồng khác có lãi vay trên 15%. Do vậy hệ thống NHTM cho cộng đồng DN "uống thuốc độc bằng lãi suất cao”. Thấm vào chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm khiến giá không hạ được dù tồn kho ngày một nhiều. Cái lợi của NHTM thời gian trước đang tụ lại và chuyển thành khó khăn trong ngày hôm nay cho hệ thống NH. Lỗi của NH là thời gian qua chạy theo lợi nhuận trước mắt cho vay tiền lãi suất cao ngất ngưởng, xông vào DN mà cho vay trong khi không tính được tình cảnh của người cho vay nếu như gặp biến cố sẽ ra sao. Thậm chí nếu tính được thì NH cũng lấy lãi suất cao để bù vào phần rủi ro. Do vậy, lý của NH đưa ra không chuẩn. Thêm nữa cũng do NHNN "nuông chiều” các NHTM. Khi lãi suất các NHTM đưa ra cao quá thì NHNN phải can thiệp để lãi suất ổn định chứ. NHNN nhìn thấy cảnh một số NHTM tự thỏa thuận lãi suất với khách hàng song vẫn làm lơ. Chính sách lãi suất của NHNN thì luôn chạy theo NHTM, do vậy, luôn không ổn định, điều đó làm cho DN không đưa ra được kế hoạch sản xuất dài hạn của mình. Lãi suất là huyết mạch của nền kinh tế mà không bình ổn được gây khó cho cả nền kinh tế. Thưa ông, theo một thống kê mới nhất thì 42% nợ xấu của nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) (Vietcombank, Vietinbank, Sacombank, Eximbank, ACB, Quân đội, Nam Việt …) là những khoản có thể mất trắng. Trong khi đó, các "ông lớn” như Vietcombank, Vietinbank chiếm 70% nợ xấu của nhóm này. Ông bình luận gì? Đây là điều dễ giải thích. Thứ nhất, Vietcombank, Vietinbank… thuộc nhóm NHTM quốc doanh. Có Nhà nước nắm cổ phần, lắm khi họ nhận được chỉ đạo: cho DN này vay, cho DN kia vay. Những NH này là bình sữa lớn của DNNN. Đồng thời, DNNN đến vay là sẽ được gật đầu đồng ý ngay mà không cần thẩm định dự án, phương pháp kinh doanh. Thêm vào đó, DNNN vay được rồi nhưng lại không lên được phương án kinh doanh, trả nợ cũng chẳng ai "sờ gáy”. Nhưng quan trọng hơn hết là cách thức hoạt động của NHTM hiện nay là yếu tố hình thành nợ xấu. NHTM nhìn vào sổ xanh sổ đỏ, nhất thân nhì quen để cho DN vay. Do vậy xảy ra tình trạng cho vay vào lĩnh vực không đúng định hướng sản xuất. Sổ đỏ đáng giá 10 tỷ thì NHTM thẩm định cho 20 tỷ. Đáng cho vay 50% giá trị tài sản thế chấp nhưng thả tay lên tới 70 -80% giá trị. Chính các "ông lớn” đã coi thường khả năng quản trị rủi ro của mình. Không xem kế hoạch kinh doanh của DN trước khi cho vay. Hơn nữa vốn của NHTM không là nguồn vốn dài hạn, thường là vốn ngắn hạn. Những tài khoản không thời hạn, hôm nay gửi mai rút, kỳ hạn ngắn song các NHTM lại dùng tiền này để cho vay trung và dài hạn. Các quy tắc kinh doanh bị phá vỡ ắt hình thành rủi ro. NHTM huy động trong nhân dân bao nhiêu rồi lại cho vay lại bấy nhiêu là giết chết nền kinh tế. Theo Thúy Hằng - Đại Đoàn Kết http://ndhmoney.vn/web/guest/s26/-/journal_content/khai-bao-giam-sat-no-xau-co-van-de ![]() |
|||||||||||||
|
|||||||||||||
|
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 15:01, 21/04/10
Được cảm ơn 811 lần
|
|
|||||||||
|
“Bức tranh” ngân hàng Việt Nam đến tháng 6 có gì mới?
Ngân hàng Nhà nước vừa công bố dữ liệu về hoạt động của các tổ chức tín dụng tính đến cuối tháng tháng 6/2012. Dưới đây là những con số, chỉ tiêu tài chính về các tổ chức tín dụng Việt Nam mà Ngân hàng Nhà nước vừa công bố. Một số chỉ tiêu tài chính của các nhóm tổ chức tín dụng tính đến 30/6/2012 (đơn vị: tỷ đồng). Dư nợ tín dụng tính đến 30/4/2012. Riêng nợ xấu cập nhật hết quý 1/2012 Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Tính đến ngày 30/6, tổng tài sản của các tổ chức dụng ở Việt Nam tăng 37.266 tỷ đồng, tương đương mức tăng 0,76% so với cuối tháng 4/2012. Trong khi đó, vốn tự có tăng thêm 2.731 tỷ đồng, vốn điều lệ tăng trên 12.000 tỷ đồng. Tổng tài sản của các nhóm tổ chức tín dụng tính đến 30/6/2012 (đơn vị: tỷ đồng) - Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Tính đến 30/6, tổng tài sản của khối ngân hàng thương mại nhà nước đã tăng thêm 43.861 tỷ đồng, tương đương 22,66% so với 2 tháng trước. Tương tự, tài sản của khối ngân hàng thương mại cổ phần, quỹ tính dụng trung ương tăng nhẹ. Ngược lại, tài sản của ngân hàng liên doanh, nước ngoài giảm tới 6.733 tỷ đồng, tương đương 12,4% so với 2 tháng trước. Vốn điều lệ của các nhóm tổ chức tín dụng tính đến 30/6/2012 (Đơn vị: tỷ đồng) - Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Về vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng, tính đến 30/6, vốn của khối ngân hàng thương mại Nhà nước tăng thêm 8.745 tỷ đồng, tương đương mức tăng 8,5% so với cuối tháng 4/2012. Tương tự, vốn điều lệ của ngân hàng cổ phần tăng 2.787 tỷ đồng, công ty tài chính, cho thuê (+500 tỷ đồng),... Vốn tự có của các nhóm tổ chức tín dụng (không bao gồm Ngân hàng Chính sách xã hội) tính đến 30/6/2012 (đơn vị: tỷ đồng) - Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Tính đến 30/6, vốn tự có của các tổ chức tín dụng đạt 416.884 tỷ đồng, tăng 2.731 tỷ đồng so với cuối tháng 4/2012. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) quý 2 (Đơn vị:%) - Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) quý 2 (Đơn vị:%) - Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các nhóm tổ chức tín dụng (không bao gồm Ngân hàng Chính sách xã hội) Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, nhìn chung, so với cuối tháng 4, các nhóm tổ chức tín dụng đã không cải thiện được tình hình khi tỷ lệ này đến 30/6 là 14,19%, giảm nhẹ so với mức 14,55% cuối tháng 4/2012. Đáng chú ý, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của công ty tài chính, cho thuê đã giảm từ 11,71% hồi cuối tháng 4 xuống 8,65% tính đến cuối tháng 6/2012. Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn của các nhóm tổ chức tín dụng (không bao gồm Ngân hàng Chính sách xã hội) - Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (thị trường 1) của các nhóm tổ chức tín dụng – Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. * Khối ngân hàng thương mại Nhà nước bao gồm cả Vietinbank và Vietcombank. Theo Duy Cường Vneconomy ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT NHẬN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CKVN MỜI GHÉ THĂM: http://stockchart.com.vn/ http://phantichkythuat.com.vn/ |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 19:19, 25/02/10
Được cảm ơn 4536 lần
|
|
|||||||||
|
Riêng EIB chấp tất, bẻ tất cả các loại chart của các bác..............
Đừng biến bất cứ điều gì trở nên trầm trọng
![]() |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 16:40, 24/02/11
Được cảm ơn 3742 lần
|
|
|||||||||
|
||||||||||
|
Chỉ số chứng khoán thế giới
---------o0o--------
http://chisock.com
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 17:52, 11/09/05
Được cảm ơn 502 lần
|
|
|||||||||
|
Rất hay, cảm ơn bài phân tích
Web chỉ số: chứng khoán, tiền tệ, vàng, hàng hóa, lãi suất, lạm phát, giá nhà đất việt nam và các nước trên thế giới phục vụ nhà đầu tư chuyên nghiệp : http://chisock.com |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 15:01, 21/04/10
Được cảm ơn 811 lần
|
|
|||||||||
|
Sắp có làn sóng cắt margin với cổ phiếu ngân hàng?
Trước làn sóng hoảng loạn của nhà đầu tư, một số CTCK thông báo ngừng cung cấp Margin (giao dịch ký quỹ) với các cổ phiếu ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi ro. Điều này càng làm cho thị trường thêm bi quan về viễn cảnh những ngày sắp tới. Ảnh minh họa Ảnh minh họa Thông báo trên website sáng nay (22/08), Chứng khoán Vietcombank (VCBS) chính thức loại các cổ phiếu ACB, EIB, STB và PVX ra khỏi Danh mục chứng khoán được hỗ trợ cho vay mua ký quỹ tại VCBS từ ngày 22/08. Đối với những danh mục có cổ phiếu ACB, EIB, STB và PVX thì giá được áp là giá đóng cửa của phiên giao dịch ngày 21/08. Các chứng khoán khác trong Danh mục chứng khoán được hỗ trợ cho vay mua ký quỹ tại VCBS hiện đang áp dụng không thay đổi. Tương tự, trong một thông báo gửi đến nhà đầu tư trong buổi sáng, Chứng khoán Kim Eng (KEVS) nêu rõ: “Do tình hình hiện nay các cổ phiếu ngân hàng có lượng dư bán sàn lớn, biến động giá bất ổn nên tạm thời phòng Quản lý rủi ro sẽ đưa các mã STB, EIB, ACB, NVB, SHB vào danh sách cổ phiếu cấm Approve”. Như vậy, trong số các mã cổ phiếu ngân hàng đang niêm yết, còn VCB, CTG và MBB thoát nạn về việc cấm giao dịch ký quỹ bởi VCBS và KEVS. Đây đều là những ngân hàng có tỷ lệ sở hữu của Nhà nước nắm chi phối. Một vài thông tin bên lề cho biết, VNDirect (VND) cũng sắp sửa loại bỏ các cổ phiếu ngân hàng ra khỏi danh mục Margin, tuy nhiên, ông Nguyễn Hoàng Giang, Tổng giám đốc công ty cho biết, VND hiện vẫn cho vay bình thường đối với các cổ phiếu này. Tại CTCK ACB (ACBS), các giao dịch ký quỹ vẫn diễn ra bình thường, danh mục ngày 22/08 loại các cổ phiếu BBC, DHC, FMC, BTH, VHL, TBS. Một số mã khác có nguy cơ bị rút khỏi danh sách như HU1, TTF, DNC, DPC, LBE, MKV, TET, VBC… Trong khi đó, EIB, STB, PVX vẫn được tiếp tục ACBS tài trợ. Riêng ACB là cổ phiếu của ngân hàng mẹ nên ACBS không được phép đưa vào danh sách tài trợ. Được biết, từ 23/07, ACBS đã giảm lãi suất giao dịch ký quỹ xuống còn 18%/năm. Tương tự, tại VietinbankSc (CTS) nhà đầu tư vẫn được tài trợ mua các cổ phiếu ACB, VCB, MBB, CTG, EIB, STB, SHB với tỷ lệ 40%. Tại một số công ty chứng khoán khác như CK Sài Gòn (SSI), CK BIDV (BSI), Rồng Việt (VDS)… tỷ lệ cho vay mua cổ phiếu ngân hàng cũng đều ở mức 40%. Sự việc ông Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên) đã ảnh hưởng nặng nề đến thị trường chứng khoán, đặc biệt là các cổ phiếu ngân hàng. Kết thúc phiên 22/08, các mã ACB, EIB và STB, SHB giảm kịch sàn phiên thứ hai liên tiếp, với dư bán áp đảo. Trong khi đó, VCB thu hẹp biên độ giảm còn 2.22%, tức chỉ mất thêm 600 đồng/cp; MBB cũng giảm nhẹ 2.11%, tức giảm 300 đồng so với phiên trước; CTG chốt phiên ở mức tham chiếu và NVB tăng nhẹ 100 đồng lên 8,100 đồng/cp. Viết Vinh (Vietstock) ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT NHẬN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CKVN MỜI GHÉ THĂM: http://stockchart.com.vn/ http://phantichkythuat.com.vn/ |
||||||||||
|
||||||||||
|
Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
Thành viên từ 07:10, 09/12/11
Được cảm ơn 3016 lần
|
|
|||||||||
|
Trích:
|
||||||||||
|
||||||||||
|
||||