Các nhà đầu tư vĩ đại

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi Passion_Investment, 17/11/2016.

6857 người đang online, trong đó có 1217 thành viên. 17:59 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1219 lượt đọc và 11 bài trả lời
  1. Passion_Investment

    Passion_Investment Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/08/2016
    Đã được thích:
    295
    Học từ những người thành công cũng là một cách rất tốt để giúp chúng ta thành công. Vì vậy học từ những nhà đầu tư vĩ đại cũng là một cách giúp các nhà đầu tư trở nên giỏi hơn, kiếm tiền tốt hơn.

    Passion Investment xin chia sẻ với các nhà đầu tư về một số nhà đầu tư thành công nhất trên thế giới (những bậc thầy trong lĩnh vực đầu tư) để tất cả chúng ta cùng học hỏi.

    I. Warren Buffet

    1.Tiểu sử

    Thời trẻ

    Ông Howard Warren Buffett sinh năm 1930 ở Omaha. Năm 1943 Warren kiếm được khoản tiền đầu tiên trong đời do bán xe đạp của mình cộng với mức thù lao 35 USD cho việc giao báo.Khi người cha được bầu vào quốc hội Hoa Kỳ thì ông chuyển đến học tại thủ đô Washington rồi tốt nghiệp trường trung học Woodrow Wilson năm 1947.Trong năm đầu học trường này ông cùng một người bạn mua một máy bắn bóng giá 25 USD đặt trong tiệm hớt tóc để kiếm tiền và trong vòng một tháng họ đã có ba máy như vậy đặt ở vài nơi.

    Từ năm 1947 đến 1949 ông học ở trường kinh doanh Wharton thuộc đại học Pennsylvania, năm 1950 chuyển sang đại học Nebraska rồi tốt nghiệp bằng kinh tế tại trường này.Sau đó ông đăng kí học trường kinh doanh Columbia thuộc đại học Columbia sau khi biết hai nhà đầu tư nổi tiếng thời ấy là Benjamin Graham, (tác giả quyển “Nhà đầu tư thông minh”) và David Dodd đang dạy tại đây. Năm 1951 ông nhận bằng thạc sĩ kinh tế của đại học Columbia.

    Sự nghiệp
    Muốn làm việc độc lập, Buffett trở về Omaha và bắt đầu thành lập quỹ Buffett Partnership ở tuổi 25 với số vốn bắt đầu từ 100.000 USD. Từ năm 1956 đến năm 1969, khi Buffett Partnership đã được giải thể, quỹ này đã mang lợi nhuận 30 lần số vốn ban đầu cho cổ đông.Trước khi có quyết định cuối cùng để giải thế, Buffett đã mua lại công ty dệt Berkshire Hathaway tại New Bedford, Massachusetts vào năm 1965. Sau khi mua Berkshire, Buffett thay đổi hoàn toàn công ty, trong đó tập trung vào việc thay đổi khuôn khổ tài chính của công ty. Berkshire giữ doanh nghiệp dệt may của mình, ngay cả khi đối mặt với áp lực chồng chất, và sử dụng nó như một công ty đầu tư đúng nghĩa.

    Nhờ vào sự sụp đổ thị trường 1973-1974 mà Berkshire đã có cơ hội để mua các công ty khác với giá hời. Phần còn lại là lịch sử và ngày nay Berkshire Hathaway là một công ty cổ phần lớn nắm giữ hàng loạt các doanh nghiệp có tài sản và doanh số bán hàng tổng cộng khoảng 240.000.000.000 $ và $ 100 tỷ đồng vào cuối năm 2006.

    2. Phong cách đầu tư

    Warren Buffett đầu tư giá trị với sự kiên nhẫn và kỷ luật. Thành tích đầu tư của ông luôn vượt trung bình của thị trường trong suốt hàng thập kỉ trước. John Train, tác giả của “The Money Masters” (1980), mô tả ngắn gọn phương pháp đầu tư của Buffett như sau: “Bản chất của Warren Buffett suy nghĩ thế giới kinh doanh chỉ có một số lượng nhỏ của các doanh nghiệp tuyệt vời và một số lượng lớn các doanh nghiệp xấu hay tầm thường – không hấp dẫn. Hầu hết thời gian, các doanh nghiệp tốt sẽ không có giá rẻ cho chúng ta mua vào, nhưng vào những dịp hiếm hoi lại xuất hiện các cơ hội tuyệt vời để mua nó. Khi điều đó xảy ra, Warren Buffett mạnh dạng mua mà không quan tâm đến các dự báo ảm đảm của nền kinh tế”.

    3. Những câu nói của Warren Buffet

    “Quy tắc thứ nhất là không bao giờ để mất tiền. Quy tắc thứ hai là không bao giờ quên quy tắc số một.”

    “Cổ phiếu không chỉ là mảnh giấy. Nó đại diện cho quyền sở hữu một phần của một doanh nghiệp. Vì vậy, khi suy ngẫm về một đầu tư, hãy suy nghĩ như một chủ sở hữu của doanh nghiệp “

    “Tất cả của công việc đầu tư chỉ đơn giản là chọn cổ phiếu tốt ở thời điểm tốt và tiếp tục giữ cho đến khi công ty vẫn còn tốt.”

    “Hãy xem sự biến động của thị trường như bạn bè của bạn chứ không phải là kẻ thù của bạn. Hãy kiếm lợi nhuận từ sự điên rồ đó chứ không phải là một phần của nó.”

    “Khi đầu tư chứng khoán, nếu bạn không nhắm mình giữ được 10 năm thì đừng mất hơn 10 phút để xem xét nó”

    Còn rất nhiều nhà đầu tư bậc thầy nữa, Passion Investment sẽ lần lượt chia sẻ thông tin với mọi người. Nếu nhà đầu tư nào muốn tham khảo sớm thì có thể xem thêm ở đây: http://pif.vn/tin-tuc/cam-nang-dau-tu/
    xebocaitienhunter113 thích bài này.
  2. Passion_Investment

    Passion_Investment Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/08/2016
    Đã được thích:
    295
    Philip Fisher – Cổ phiếu thường, lợi nhuận phi thường

    1.Tiểu sử:

    Sự nghiệp của Philip Fisher bắt đầu năm 1928 khi ông rời bỏ Trường kinh doanh Standford khi nó mới thành lập để làm nhà phân tích chứng khoán với Ngân hàng Anglo-London ở San Francisco. Ông chuyển sang một công ty giao dịch chứng khoán một thời gian ngắn trước khi bắt đầu khởi nghiệp bằng đồng tiền của mình khi thành lập công ty Fisher & Company năm 1931. Ông quản lý các công việc của công ty cho đến khi nghỉ hưu năm 1999 ở tuổi 91 và người ta nói rằng ông đã tạo ra những lợi nhuận đầu tư phi thường cho những khách hàng của mình.

    Ông chuyên vào những công ty sáng tạo có công tác nghiên cứu phát triển mạnh. Ông thực hiện đầu tư dài hạn, mua những công ty lớn với giá hời. Ông cũng là người rất riêng tư, ít chịu phỏng vấn và rất kén chọn khách hàng của mình. Ông không nổi tiếng đối với công chúng cho đến khi xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình năm 1958.

    2. Phương pháp đầu tư:

    Fisher đạt được kết quả đầu tư xuất sắc trong suốt hơn 70 năm quản lý tiền bạc bằng việc đầu tư vào những công ty được quản lý tốt, có tốc độ tăng trưởng cao sau đó giữ dài hạn. Ví dụ như ông mua cổ phiếu Motorola năm 1955 và không bán chúng cho đến khi ông qua đời năm 2004.

    Cuốn sách nổi tiếng của ông “15 điểm cần chú ý trong một cổ phiếu thường” được chia thành 2 mục: chất lượng quản lý và những đặc điểm của công việc kinh doanh. Chất lượng quan trọng đối với sự quản lý
    bao gồm tính chính trực, kế toán nghiêm ngặt, dễ tiếp cận và tầm nhìn dài hạn tốt, sự rộng mở đối với sự thay đổi, quản lý tài chính xuất sắc và những chính sách nhân sự tốt.Những đặc điểm quan trọng của công việc kinh doanh bao gồm sự định hướng tăng trưởng, biên lợi nhuận cao, lợi nhuận trên vốn cao, sự cam kết đối với công tác nghiên cứu và phát triển, tổ chức bán hàng ưu việt, vị trí dẫn đầu ngành và những sản phẩm hoặc dịch vụ độc quyền.

    Philip Fisher tìm kiếm thông tin nhiều và rộng về một công ty. Một công cụ dường như đơn giản mà ông gọi là “”Chuyện ngoài lề” hoặc “Tin vịt trong kinh doanh” và kỹ thuật lựa chọn của ông.
    Ông dành một số lượng đáng kể các lời bình luận cho cuốn “Cổ phiếu thường lợi nhuận phi thường” Ông rất xuất sắc trong các mối quan hệ và sử dụng tất cả các mối liên hệ mà ông có được để tập hợp thông tin và triển vọng về một công ty. Ông coi phương pháp nghiên cứu công ty kiểu này có giá trị tột đỉnh.

    3. Trích dẫn nổi tiếng:


    “Tôi chẳng muốn rất nhiều vụ đầu tư tốt, tôi muốn vài vụ đầu tư xuất sắc.”

    “Tôi nhớ cảm giác sốc của tôi khoảng cách đây 6 năm khi tôi đọc một lời khuyến nghị bán ra cổ phần của một công ty… Lời khuyên đó không dựa trên bất cứ yếu tố cơ bản dài hạn nào. Hơn nữa, chỉ hơn 6 tháng sau các quỹ có thể tìm kiếm thêm lợi nhuận.”

    “Tôi tìm ra Phil Fisher sau khi đọc cuốn “Cổ phiếu thường lợi nhuận phi thường” của ông. Khi tôi gặp ông ấy, tôi bị ấn tượng bởi con người và ý tưởng của ông. Một sự hiểu biết tổng thể về một vụ kinh doanh, bằng việc sử dụng những kỹ thuật của Phil, cho phép một người có thể tạo ra những vụ đầu tư thông minh.” (Warren Buffett)

    xebocaitien thích bài này.
  3. Passion_Investment

    Passion_Investment Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/08/2016
    Đã được thích:
    295
    John Templeton – Lợi nhuận bình quân 13.8% trong 50 năm

    1.Tiểu sử

    John Templeton sinh ra trong một gia đình nghèo ở Tennesee. Nhờ học bổng, ông đã theo học kinh tế học ở trường Yale và tốt nghiệp với vị trí đầu lớp năm 1934. Ông tiếp tục theo học Oxford bằng học bổng Rhodes Scholar và lấy được bằng thạc sĩ về ngành luật năm 1936. Trở về Mỹ, ông lên New York làm nhân viên tập sự cho Fenner & Beane, một trong các hãng tiền thân của Merrill Lynch.

    Templeton mở công ty quản lý đầu tư đầu tiên của chính mình Templeton, Dobbrow & Vance, trong vũng sâu của cuộc Đại suy thoái năm 1937. Công ty quản lý đầu tư này khá thành công, tài sản tăng lên 300 triệu USD với 8 quỹ tương hỗ dưới sự quản lý của nó. Tên công ty sau đó được đổi thành Templeton Damroth và được bán đi năm 1968, vào thời điểm ông bắt đầu lại từ đầu với quỹ Templeton Growth Fund của chính mình, đặt trụ sở tại Nassau, Bahamas.

    Trong vòng 25 năm sau đó, Templeton đã tạo ra một số trong những quỹ đầu tư quốc tế lớn nhất và thành công nhất. Ông bán lại các quỹ mang tên Templeton năm 1992 cho tập đoàn Franklin Group. Năm 1999, tạp chí Money bầu ông là “người lựa chọn cổ phiếu đầu tư vĩ đại nhất thế kỷ.” Templeton còn được Nữ hoàng ElizabethII phong tước hiệp sĩ vì những thành tựu của mình.

    Sau khi nghỉ hưu, Templeton trở thành một nhà hoạt động từ thiện rất tích cực trên khắp thế giới qua quỹ John Templeton Foundation, quỹ đã tài trợ rất nhiều cho các nghiên cứu về tinh thần và khoa học.

    2.Phong cách đầu tư:

    Là một trong những nhà đầu tư ngược xu thế hàng đầu của thế kỷ XX, John Templeton được giới đầu tư coi là người đã “mua cổ phiếu dưới đáy của cuộc Đại suy thoái, bán ở đỉnh của thời kỳ bùng nổ Internet và có vô số vụ đầu tư thành công khác giữa hai thời kỳ này.”

    Phong cách đầu tư của ông có thể được tóm tắt là tìm kiếm những cổ phiếu giá trị, mà ông gọi là “săn món hời,” bằng cách tìm kiếm trong số nhiều công ty ở nhiều nước khác nhau thay vì chỉ một nước. Châm ngôn đầu tư của Templeton là “tìm các công ty trên khắp thế giới có giá thấp và triển vọng dài hạn tuyệt vời.”

    Là một nhà đầu tư giá trị – đầu tư ngược xu thế, Templeton tin rằng những cổ phiếu được coi là “món hời” là những cổ phiếu hoàn toàn bị bỏ qua, những cổ phiếu mà các nhà đầu tư khác thậm chí không buồn nghiên cứu về nó. Liên quan đến mặt này, ông có một lợi thế mà không phải nhà đầu tư cá nhân nào cũng có, đó là ông sống ở Lyford Cay, Bahamas. Lyford Key Club là nơi những doanh nhân từ khắp nơi trên thế giới đến sinh sống. Tepleton có thể dễ dàng trao đổi ý kiến với các doanh nhân này trong một bầu không khí rất dễ chịu, mà ông cho là tốt hơn hẳn làm việc với mạng lưới các đầu mối ở phố Wall, những người có lượng thông tin hạn chế và luôn muốn bán cho ông một cái gì đó. Không giống nhà đầu tư huyền thoại bạn ông là Phillip Fisher, Templeton biết khai thác có hệ thống vô số mối quan hệ của ông để có được những dữ liệu đầu tư khách quan và giá trị, liên quan đến điều kiện thị trường và mục tiêu đầu tư trên khắp thế giới.

    3.Trích dẫn:

    “Để có thể thực sự thành công trên thị trường chứng khóan bạn phải là một nhà phân tích cơ bản.”

    “Hãy đầu tư ở điểm mà thị trường bi quan nhất.”

    “Nếu anh muốn có kết quả đầu tư tốt hơn số đông, anh phải hành động khác họ.”

    Khi được hỏi về việc sống và làm việc tại Bahamas trong suốt quá trình ông điều hành tập đoàn Templeton, ông trả lời, “Tôi nhận thấy, kết quả đầu tư cho các đối tác của tôi khi làm việc ở đây tốt hơn hẳn khi làm việc tại 30 Rockerfeller Plaza. Khi bạn ở Manhattan, rất khó để đi ngược lại số đông.”
  4. Passion_Investment

    Passion_Investment Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/08/2016
    Đã được thích:
    295
    John (Jack) Bogle – “Người khổng lồ đầu tư” của thế kỷ 20

    Tiểu sử:

    Jack Bogle tốt nghiệp xuất sắc với tấm bằng kinh tế học tại trường ĐH Princeton năm 1951. Ông nghiên cứu sâu quỹ tương hỗ trong thời gian học ĐH của mình, mà đỉnh cao là bài khóa luận kinh tế học trong những năm cuối ĐH của ông và là nền tảng ban đầu của quỹ tương hỗ đầu tư chỉ số.

    Ông học công việc quản lý đầu tư bằng việc làm việc cho nhà tư vấn tài chính Wellington Management từ năm 1951 tới 1974 và thành lập Vanguard trong những năm sau đó, trở thành CEO và chủ tịch trước khi nghỉ hưu năm 1999 sau khi đóng một vai trò tích cực trong công ty. Là chủ tịch của Trung tâm nghiên cứu thị trường tài chính Vanguard’s Bogle ông tiếp tục viết và đi giảng những chủ đề về đầu tư và được thừa nhận rộng rãi như là “lương tri” của ngành quỹ tương hỗ.
    Trong “Cuộc thực nghiệm Vanguard: Cuộc tìm hiểu của John Bogle để truyền bá ngành quỹ tương hỗ” (1996), nhà viết tiểu sử Robert Slater mô tả cuộc đời Bogle như sau “Những cam kết mang tính cách tân với những nguyên tắc nền tảng của ông về việc đặt lợi ích của nhà đầu tư trước hết và phê phán mang tính xây dựng ngành quỹ để mà từ đó có một sự thực hiện với chi phí thấp, coi khách hàng là trọng tâm trong đầu tư quỹ tương hỗ”.

    Phong cách đầu tư:

    Nói một cách đơn giản, triết lý đầu tư của Jack Bogle chủ trương nắm bắt lợi nhuận thị trường bằng việc đầu tư vào những quỹ tương hỗ chỉ số đa dạng mà có những đặc điểm không hoa hồng trung gian, chi phí thấp, vòng quay thấp và quản lý bị động. Ông kiên trì giới thiệu nhà đầu tư cá nhân nên tập trung vào những điểm sau:

    Đơn giản trong đầu tư là yếu tố đầu tiên
    Giảm thiểu những chi phí liên quan tới vụ đầu tư.
    Kinh tế học hiệu quả đối với giới hạn đầu tư dài hạn.
    Sự tin cậy trong phân tích tỷ lệ và tránh những cảm xúc trong quá trình ra quyết định.
    Sự đa dạng của đầu tư chỉ số có thể coi là một chiến lược đối với nhà đầu tư cá nhân.
    Nhà đầu cơ cổ phiếu nổi tiếng Jim Cramer đưa ra những lời ca tụng hết lời đối với phong cách đầu tư của Bogle là “Sau cả cuộc đời lựa chọn cổ phiếu, tôi phải thừa nhận rằng những tranh luận của Bogle khi nói về quỹ chỉ số khiến tôi phải nghĩ đến việc gia nhập với ông hơn là tìm cách đối chọi lại với ông.”
    Những câu nói nổi tiếng:

    “Thời gian (sự kiên nhẫn) là bạn, sự bốc đồng là kẻ thù.”

    “Nếu bạn cảm thấy khó khăn khi hình dung tới khoản lỗ 20% trên thị trường chứng khoán, bạn không nên đầu tư chứng khoán nữa.”

    “Khi phần thưởng đang ở đỉnh cao của nó thì đó là lúc rủi ro sắp đến tay của bạn rồi đó.”

    http://pif.vn/john-jack-bogle-nguoi-khong-lo-dau-tu-cua-the-ky-20/
  5. Passion_Investment

    Passion_Investment Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/08/2016
    Đã được thích:
    295
    Jesse Livermore – Kẻ đầu Cơ Vĩ đại Và Nhà Đầu Tư Đại Tài

    Vinh quang và cay đắng luôn gắn liền với số phận của các nhà đầu cơ. Ngay cả những nhà đầu cơ kiệt xuất nhất cũng không thể tránh khỏi điều đó. Jesse Livermore là một ví dụ.

    Trong số tất cả công dân của thế giới đầu cơ, không có ai thắng nhiều lần và thua cũng nhiều bận như Jesse Livermore, không có ai vừa đam mê lại vừa oán hận đầu cơ như Jesse Livermore, không có ai tìm ra được bí quyết đầu cơ thành công mà rồi lại thất bại bởi đã không làm theo chính bí quyết ấy như Jesse Livermore, không có ai biết mà bất chấp lời nguyền về nghề nghiệp và tình yêu để rồi phải tự tìm đến cái chết như Jesse Livermore.

    Huyền thoại sống trong thế giới đầu cơ

    Ngay từ thời còn bé, Jesse Livermore không thích người khác gọi mình như vậy mà chỉ muốn được gọi là J.L. Cuộc đời của J.L. cũng có thể được coi là một ví dụ điển hình của cái gọi là “Giấc mơ Mỹ” với hàm ý đi lên từ gia cảnh bần hàn.

    J.L.là cậu bé có năng khiếu về toán, nhưng ngay từ khi mới 13 tuổi J.L. đã thấm nhuần tư tưởng của cha mình là học hành hoàn toàn vô tác dụng và vô nghĩa đối với cuộc đời của người nông dân bình thường. Năm 14 tuổi J.L. coi việc người cha cho thôi học để về làm việc đồng áng là cơ hội của cuộc đời mình. Đi làm, nhưng không làm nông nghiệp. Vì thế, năm 14 tuổi, J.L. đã rời cha mẹ bước vào cuộc đời tự lập với vẻn vẹn 5 USD trong túi. J.L. đến Boston, làm cu li trong chi nhánh của công ty Paine Webber và đây cũng là nơi J.L. tiếp xúc lần đầu tiên với thế giới đầu cơ.

    Chỉ vài tháng sau, đó là năm 1892, khi J.L. tròn 15 tuổi, J.L. đã sử dụng cả một buổi nghỉ trưa để làm phi vụ đầu cơ đầu tiên là cá cược cổ phiếu. Khi bị chủ phát hiện, J.L. bị đẩy dến trước sự lựa chọn phải chấm dứt cá cược hay bị đuổi việc. J.L. chấp nhận bị đuổi việc vì không cưỡng lại được sự quyến rũ của đầu cơ. Trong vòng 1 năm, J.L. đã kiếm được 1.000 USD – một khoản tiền rất lớn đối với chàng trai ở tuổi của J.L.

    Chẳng bao lâu sau, J.L. đã nổi tiếng là người đầu cơ vào đâu đều thắng, đến mức J.L. bị cấm cửa ở gần như tất cả các cửa hiệu cá cược. Vì thế, J.L. dám bỏ ra 2.500 USD trong tổng số 10.000 USD có được để rời Boston đến Phố Wall ở New York. Những thất bại đầu tiên ở Phố Wall đã dạy cho J.L. bài học là trong đầu cơ bị mất tiền còn nhanh hơn kiếm được tiền. Sau khi bị buộc phải đầu cơ theo kiểu cò con như trước, đến năm 1899 J.L. mới có được lại 10.000 USD và tiến hành chinh phục Phố Wall lần thứ hai.

    J.L. coi thị trường chứng khoán như một cỗ máy, hoạt động theo những khuôn mẫu nhất định. J.L. để tâm nghiên cứu tâm lý của nhà đầu cơ trên thị trường chứng khoán và thấy rằng, một khi giá cổ phiếu tăng hay giảm qua một ranh giới tâm lý quan trọng như 10, 50 hay 100 USD thì có tác động cuốn hút các nhà đầu cơ mạnh mẽ. Khi đó, các nhà đầu cơ không còn quan tâm đến những chỉ số cơ bản của cổ phiếu. Từ đó, J.L. cho rằng có thể đầu cơ “một cách có hệ thống” trên thị trường chứng khoán.

    Nguyên tắc đầu cơ thứ hai của J.L. là, nếu thị trường diễn biến theo hướng như J.L. dự đoán thì phải mua thêm vào, nếu diễn biến ngược lại thì phải bán cổ phiếu đi một phần hoặc bán hết. Đề ra nguyên tắc như vậy nhưng J.L. lại không phải khi nào cũng thực hiện theo. Vì thế mà sau lần thắng đậm đưa lại 50.000 USD vào năm 1901 lại là một lần trắng tay. Hết tiền, lại không thuyết phục được vợ đồng ý bán trang sức để có tiền, J.L. lại một lần nữa trở về với các phi vụ cá cược cò con.

    Năm năm sau, khi đó J.L. 29 tuổi, đang giữa khi giá cổ phiếu tăng cao, J.L. đồ rằng giá sẽ giảm, dù theo suy tính bản năng nhiều hơn là phân tích khoa học, đối với cổ phiếu của tập đoàn Union Pacific, tập đoàn đường sắt lớn nhất nước Mỹ. Ngày 18-4-1906 xảy ra vụ động đất ở San Francisco – tai họa thiên nhiên lớn nhất ở nước Mỹ cho tới cơn bão Katrina năm 2005. Ba ngày sau, thị trường tài chính ở khu vực bờ biển phía Đông nước Mỹ đổ sụp, nhưng Livermore có thêm được 250.000 USD. Tương tự như vậy, phi vụ ngày 24-7-1907, khi thị trường chứng khoán New York bị khủng hoảng, chỉ trong một ngày J.L. kiếm được 1 triệu USD, giúp cho J.L. khi mới 30 tuổi đã có tài sản trị giá tới 3 triệu USD.

    Phi vụ đầu cơ lớn nhất của J.L. là đầu cơ vào “Ngày thứ Năm đen tối” năm 1929 ở Mỹ. Ngay từ trước đó nửa năm, J.L. đã đầu cơ cổ phiếu theo nguyên tắc giá giảm. Khi kinh tế Mỹ bước vào cuộc Đại suy thoái thì cũng là lúc J.L. có được hơn 100 triệu USD. Từ “cậu bé thần kỳ” ở Boston ngày nào, J.L. đã trở thành huyền thoại sống ở Phố Wall với biệt danh “Con gấu vĩ đại” và “Con sói cô đơn”.

    Bất chấp lời nguyền

    Chiều ngày 26-11-1940, một phóng viên ảnh xin được chụp hình J.L. ở Câu lạc bộ Stork New York. J.L. đồng ý và nói: “Ông chụp đi, nhưng đó sẽ là lần cuối cùng. Từ ngày mai, tôi sẽ biến mất trong thời gian dài”. Sáu giờ chiều ngày hôm sau, cảnh sát phát hiện thấy thi hài của J.L. trong nhà tắm của một gian phòng ở khách sạn Sherry Netherland New York. J.L. tự sát để lại cho vợ 5 triệu USD và bức thư: “Anh không thể chịu đựng được nữa. Anh kiệt sức hoàn toàn rồi. Anh là kẻ thất bại và đây là lối thoát duy nhất”.

    Cái kết cục bi thảm ấy của J.L. là kết quả của việc J.L. đã bất chấp ba lời nguyền do chính J.L. đặt ra hoặc biết từ trước. Lời nguyền thứ nhất là hành động theo nguyên tắc. Thực tế cho thấy J.L. đã rất nhiều lần hành động ngược lại mà không lý giải nổi vì sao. J.L. thất bại trong các phi vụ đầu cơ là vì thế.

    Lời nguyền thứ hai là không bao giờ hợp tác với bất kỳ nhà đầu cơ nào khác. Vậy mà năm 1914, J.L. lại hợp tác với Percy Thomas – người được mệnh danh là “Vua kinh doanh bông” – mà không biết rằng người này sắp phá sản để đến nỗi chính J.L. cũng bị phá sản và còn nợ gần 1 triệu USD.

    Lời nguyền thứ ba liên quan đến người vợ thứ ba của J.L. Sau khi bị người vợ thứ hai bỏ năm 1932, một năm sau J.L. lấy Harriet Metz Noble, người đã từng có 4 đời chồng. Thật ra chuyện lấy người phụ nữ từng trải như vậy không phải là chuyện đáng nói nếu không có một lời nguyền chẳng biết xuất xứ từ đâu là, tất cả những người chồng của Harriet Metz Noble đều sẽ chết thảm. Cả bốn người chồng đầu tiên của Harriet đều tự tử chết. Và khi J.L. kết hôn với người này thì dư luận cho rằng J.L. sẽ là người thứ 5. Và thực tế cũng đúng như vậy.

    Những nghi ngờ về chính khả năng của mình, áp lực của việc phải lao tâm khổ tứ để khôi phục lại danh dự và tài sản cũng như nỗi đau khổ vì bị người vợ thứ hai mà ông vô cùng yêu thương bỏ rơi đã khiến J.L bị hủy hoại nghiêm trọng cả về thể xác lẫn tinh thần. Tình cảnh tâm lý đó đã khiến cho việc đầu cơ vốn được J.L. tôn thờ như “cuộc chơi của mọi cuộc chơi” nhiều khi trở thành gánh nặng đè nén, khiến J.L. luôn bị giằng xé giữa đam mê và mong muốt dứt bỏ, để rồi cứ luẩn quẩn và bế tắc đến mức chỉ còn thấy cái chết mới đem lại sự giải thoát cho mình. Nhưng không ít người đương thời và hậu thế vẫn coi số phận của J.L. là sự trả giá cho việc bất chấp lời nguyền.

    http://pif.vn/jesse-livermore-ke-dau-co-vi-dai-va-nha-dau-tu-dai-tai/
    ngoi_sao_co_doc thích bài này.
  6. minhlongcntt

    minhlongcntt Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/04/2010
    Đã được thích:
    964
  7. Passion_Investment

    Passion_Investment Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/08/2016
    Đã được thích:
    295
    Thomas Rowe Price – Nhà đầu tư “cổ phiếu tăng trưởng”

    Tiểu sử:

    Thomas Rowe Price mất nhiều năm đầu sự nghiệp để vật lộn với cuộc Đại suy thoái và bài học mà ông rút ra là không nên đứng ngoài mà phải nhảy vào đầu tư cổ phiếu. Price coi thị trường tài chính như những chu kỳ. Là một người “đi ngược lại số đông,” ông chọn cách đầu tư dài hạn vào các công ty tốt mà hầu như chưa được nghe nói đến vào thời điểm đó. Triết lý đầu tư của ông là các nhà đầu tư cần phải chú trọng vào việc lựa chọn từng cổ phiếu cho đầu tư dài hạn. Kỷ luật, sự ổn định trong suốt quá trình và nghiên cứu cơ bản trở thành nền tảng cho sự nghiệp đầu tư thành công của ông.

    Price tốt nghiệp chuyên ngành Hóa trường Swarthmore năm 1919, sau đó ông mới phát hiện ra mình thích làm việc với những con số hơn là với các loại hóa chất. Ông chuyển sang lĩnh vực đầu tư khi ông bắt đầu làm việc cho công ty môi giới có trụ sở tại Baltimore, Mackubin Goodrich ngày nay có tên là Legg Mason. Sau một thời gian, Price cũng đã trở thành tổng giám đốc đầu tư của công ty này.

    Tuy nhiên, Price ngày càng chán nản vì công ty không “thấm nhuần” được khái niệm “cổ phiếu tăng trưởng” của ông và ông đã tách ra thành lập nên T. Rowe Price Associates năm 1937. Vào thời điểm này, ông đã thay đổi hoàn toàn quan điểm tính phí cho khách hàng dựa trên các khoản đầu tư của họ, với công ty ông, không có khái niệm hoa hồng, và luôn luôn “đặt quyền lợi khách hàng lên trên hết.” Price tin rằng khi các khách hàng của ông khấm khá lên thì bản thân công ty cũng vậy.

    Năm 1950, ông mở quỹ tương hỗ đầu tiên, quỹ T Rowe Price Growth Stock Fund. Ông là CEO của công ty cho đến khi về hưu cuối thập niên 1960. Cuối cùng, ông bán công ty này vào đầu những năm 1970, nhưng công ty vẫn giữ nguyên tên của ông, và hiện nay đây là một trong những hãng đầu tư hàng đầu của Mỹ.

    Phong cách đầu tư

    Triết lý quản lý đầu tư của Thomas Rowe Price dựa trên kỷ luật đầu tư, sự kiên định trong quá trình và phân tích cơ bản. Ông đi tiên phong trong phương pháp đầu tư vào cổ phiếu tăng trưởng bằng cách tập trung vào những công ty được quản lý tốt trong những lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao hơn lạm phát của toàn bộ nền kinh tế. John Train, tác giả cuốn “The Money Masters”, cho rằng Price tìm những công ty tăng trưởng có các đặc điểm sau:

    * Hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm và thị trường vượt trội.
    * Không bị cạnh tranh quá gay gắt.
    * Tương đối ít bị trói buộc bởi các quy định của Chính phủ.
    * Nhân viên được trả lương tốt nhưng tổng chi phí lao động không cao.
    * Tỉ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư đạt ít nhất 10%, tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu cao và bền vững, tăng trưởng lợi nhuận trên đầu cổ phiếu vượt trội.

    Price và công ty của ông đã rất thành công nhờ sử dụng chiến lược đầu tư vào cổ phiếu tăng trưởng. Cho đến năm 1965, ông đã trải qua gần 30 năm đi theo triết lý cổ phiếu tăng trưởng. Vào thời điểm đó, rất nhiều cổ phiếu được ông ưa chuộng đã được biết đến với biệt hiệu “cổ phiếu T.Rowe Price”. Tuy nhiên, cuối thập niên 1960, ông bắt đầu để ý đến sự phấn khích một cách vô cớ của thị trường với cổ phiếu tăng trưởng và ông cảm thấy đã đến lúc các nhà đầu tư nên thay đổi định hướng của mình. Ông nghĩ sự tăng giá đã đến mức vô lý và cho rằng thị trường giá lên kéo dài đã đến lúc kết thúc. Đây chính là thời điểm ông bắt đầu bán cổ phần của mình trong T. Rowe Price Associates.

    Năm 1973 – 1974, điều Price dự liệu đã thành hiện thực và cổ phiếu tăng trưởng nhất loạt rớt giá nhanh và mạnh. Công ty mang tên ông chỉ còn có thể hoạt động cầm chừng. Rõ ràng, thuật ngữ “irrational exuberance – sự dồi dào một cách bất hợp lý” chưa hề có khi đó, nhưng Thomas Rowe Price đã thấy rất rõ những ảnh hưởng mang tính tàn phá của nó.

    Trích dẫn:

    “Việc nhận ra một kỷ nguyên đã chấm dứt quá sớm cũng vẫn còn tốt hơn là quá muộn, sự phai nhạt của những khẩu vị đầu tư cũ và sự ra đời của một kỷ nguyên mới sẽ cho nhà đầu tư rất nhiều cơ hội mới.”

    “Nếu chúng ta làm việc vì khách hàng, chúng ta sẽ được khách hàng quan tâm.”

    “Thứ duy nhất không bao giờ thay đổi đối với nhà đầu tư là sự thay đổi.”

    “Không ai có thể thấy trước được tương lai trong 3 năm chứ đừng nói là 5 hay 10 năm. Cạnh tranh, những phát minh mới – tất cả mọi thứ – có thể thay đổi tình hình trong vòng 12 tháng.”

    http://pif.vn/tin-tuc/phuong-phap-dau-tu-gia-tri/
  8. trang12345678

    trang12345678 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    17/11/2016
    Đã được thích:
    0
  9. trang12345678

    trang12345678 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    17/11/2016
    Đã được thích:
    0
  10. trang12345678

    trang12345678 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    17/11/2016
    Đã được thích:
    0

Chia sẻ trang này