Ngành Xây dựng - Tiếp tục chu kỳ giảm tốc

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by big_hand, Jan 3, 2019.

1478 người đang online, trong đó có 591 thành viên. 18:49 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. big_hand

    big_hand Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Dec 2, 2014
    Likes Received:
    32,061
    1.Tăng trưởng xây dựng giảm tốc trong 2018 và 2019

    Chúng tôi dự phóng tăng trưởng thực xây dựng năm 2018 đạt 8,02%, thấp hơn mức tăng trưởng 9 tháng đầu năm (8,62%) do tăng trưởng mạnh trong Q4/2017. Với mức tăng trưởng này, ngành xây dựng bước vào năm thứ 03 trong chu kỳ giảm tốc.

    Năm 2019, chúng tôi đánh giá tăng trưởng xây dựng sẽ tiếp tục giảm tốc, chủ yếu do xây dựng nhà ở (chiếm 45% giá trị sản phẩm Xây dựng 2016), nhà không để ở (bệnh viện, văn phòng, thương mại,…) (chiếm 19% giá trị sản phẩm Xây dựng 2016), và cơ sở hạ tầng (chiếm 24% giá trị sản phẩm Xây dựng 2016) đều kém khả quan so với 2018, duy nhất xây dựng công nghiệp sẽ tăng tốc (tuy nhiên, lĩnh vực này chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong xây dựng, chỉ ở 12% trong 2016). Theo dự phóng của BMI, ngành xây dựng sẽ tăng trưởng 7,23% trong năm 2019.

    [​IMG]

    2.Biến động chi phí đầu vào: ổn định trong 2018 và 2019. Nhìn chung, diễn biến chi phí nguyên vật liệu và nhân công thuận lợi cho các doanh nghiệp xây dựng trong năm 2018 và sẽ tiếp tục xu hướng này trong năm 2019.

    2.1Chi phí nguyên liệu ( chiếm 45% chi phí đầu vào)

    · Thép: tăng nhẹ trong 2018, giảm trong 2019

    o Giá thép trong năm 2018 tăng mạnh trong đầu năm, sau đó ổn định quanh mức 13.250 VNĐ/kg

    o Dự kiến giá thép 2019 giảm do nguồn cung trong nước tăng ~20%, đến từ các dự án lớn hoàn thành.

    · Xi măng: giảm mạnh trong 2018, giảm trong 2019

    o Giá xi măng nội địa không tăng từ năm 2012 do ngành xi măng đang rất khó khăn, chủ yếu từ (1) công suất thiết kế vượt khoảng 50% so với nhu cầu nội địa và (2) chủ trương hạn chế xuất khẩu xi măng của Chính phủ Việt Nam.

    o Trong 2018, giá xi măng giảm 10-20% do nhu cầu xuất khẩu giảm.

    o Dự kiến trong năm 2019, giá xi măng sẽ tiếp tục giảm nếu Chính phủ Việt Nam thắt chặt xuất khẩu xi măng.

    2.2Chi phí nhân công ( chiếm 15% chi phí đầu vào)

    Chi phí nhân công trong ngành xây dựng chịu ảnh hưởng từ mức lương tối thiểu vùng. Mức tăng lương tối thiểu được công bố sớm làm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp xây dựng: chi phí tăng lên sẽ được tính toán trong hồ sơ dự thầu và chuyển đến khách hàng.

    3.Triển vọng các lĩnh vực xây dựng

    3.1Mảng xây dựng cơ sở hạ tầng: tăng trưởng chậm lại trong 2019 do thách thức từ cấu trúc và khó có thể giải quyết trong thời gian ngắn. Do đó, chúng tôi đánh giá tăng trưởng xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ chậm lại trong năm 2019.

    Cơ sở hạ tầng là một trọng tâm phát triển trong mô hình phát triển kinh tế Việt Nam 2016 – 2020. Hàng năm Việt Nam chi khoảng 5,8% GDP cho phát triển cơ sở hạ tầng, trong khu vực chỉ thấp hơn Trung Quốc.

    Nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt Nam rất lớn, chủ yếu do tăng trưởng kinh tế cao và xu hướng đô thị hóa tạo áp lực lên hệ thống hạ tầng hiện có. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) ước tính Việt Nam cần chi khoảng 11 - 12% GDP cho cơ sở hạ tầng để duy trì mức tăng trưởng hiện nay.

    Mức chi đầu tư cơ sở hạ tầng Việt Nam hiện nay mới chỉ đạt 50% nhu cầu. Đây là hệ quả của các vấn đề trong cấu trúc kinh tế Việt Nam:

    · Thâm hụt ngân sách: quá trình bội chi kéo dài khiến nợ công tăng cao, hạn chế khả năng đầu tư công của Chính phủ. Bộ Giao thông Vận tải ước tính nhu cầu đầu tư giao thông trong 2016 – 2020 khoảng 01 triệu tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách chỉ cân đối được 30%.

    · Nguốn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) khó khăn hơn: Việt Nam trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình, nguồn vốn viện trợ không hoàn lại và ODA chi phí thấp sẽ cạn dần, tăng thêm khó khăn cho Chính phủ Việt Nam trong thu xếp vốn đầu tư.

    · Chính phủ Việt Nam thiếu kinh nghiệm thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng hiện đại, quy mô lớn: các dự án đầu tư công chậm tiến độ và đội vốn không quá hiếm tại Việt Nam, điển hình là các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội. Chính phủ Việt Nam sẽ phải huy động nguồn vốn tư nhân để đáp ứng nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng, chủ yếu thông qua (1) Hình thức hợp tác công – tư (PPP), (2) Thoái vốn doanh nghiệp nhà nước và (3) Sử dụng nguồn đất công. Tuy các phương pháp này đã mang lại thành công nhất định, hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện và thiếu tính minh bạch trong thực hiện làm cho hiệu quả bị hạn chế.

    3.2Triển vọng xây dựng nhà ở/ nhà không để ở: tăng trưởng chậm lại trong 2019 do các động thái kiềm chế bong bóng bất động sản. Do đó, chúng tôi đánh giá lĩnh vực xây nhà ở và nhà không để ở sẽ tăng trưởng chậm lại trong năm tới.

    Trong 10 năm gần dây, thị trường bất động sản Việt Nam trải qua 02 lần bong bóng trong năm 2007 và 2010. Bong bóng bất động sản vỡ dẫn đến nhiều doanh nghiệp phá sản, nợ xấu ngân hàng tăng cao và thị trường đóng băng kéo dài 2 – 3 năm. Ngành Kinh doanh bất động sản có chu kỳ tăng tốc kéo dài từ 2013 tới nay, cùng với một số dấu hiệu bất ổn trong thị trường gây ra lo ngại bong bóng bất động sản trở lại trong 2018 và 2019, dẫn tới các động thái kiềm chế của cơ quan quản lý.

    · Thắt chặt tín dụng bất động sản: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành thông tư 06/2016/TT-NHNN trong tháng 05/2016 và thông tư 19/2017/TT-NHNN tháng 12/2017 để hạn chế tín dụng bất động sản. Cụ thể, hệ số rủi ro cho vay bất động sản tăng từ 150% lên 200% (cao nhất trong các nhóm tài sản)tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 60% xuống 45% trong năm 2018, tiếp tục giảm còn 40% từ đầu năm 2019.

    · Dừng chấp thuận chủ trương đầu tư với các dự án đầu tư xây dựng nhà ở mới tại khu trung tâm (quận 1 và 3) Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 11/2018: theo HoRea, thị trường căn hộ Hồ Chí Minh xuất hiện dấu hiệu dư cung ở phân khúc cao cấp (chiếm tới 31% toàn lượng cung 09 tháng đầu 2018)

    3.3 Triển vọng xây dựng công nghiệp: khả quan hơn trong 2019 do Việt Nam có tiềm năng trở thành trung tâm công nghiệp mới tại Đông Nam Á

    Sau sụt giảm năm 2010, ngành Công nghiệp Việt Nam có chu kỳ tăng trưởng cao và kéo dài gần 10 năm, kết quả tăng trưởng 09 tháng đầu 2018 rất khả quan.

    [​IMG]

    Chỉ số khảo sát Nhà quản trị mua hàng (PMI) và chỉ số Sản xuất công nghiệp (IIP) cũng chỉ ra bức tranh tăng trưởng khả quan của ngành công nghiệp Việt Nam

    [​IMG]

    Các lợi thế phát triển công nghiệp tại Việt Nam:

    · Nguồn lực lao động dồi dào, chi phí nhân công cạnh tranh: đây là yếu tố đặc biệt quan trọng để Việt Nam có thể đón nhận xu hướng chuyển dịch đầu tư từ Trung Quốc; chủ yếu do nước này không còn là công xưởng giá rẻ của thế giới và căng thẳng thương mại quốc tế trong năm 2018 ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Trung Quốc.

    · Chủ trương cải cách hành chính, mở cửa thu hút đầu tư, tham gia các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với đối tác lớn như Nhật Bản, Trung Quốc, Châu Âu…

    · Vị trí địa lý thuận lợi: gần các tuyến đường vận chuyển hàng hải trọng yếu từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương (chiếm khoảng 40% lượng hàng hóa thế giới)

    Do Việt Nam đang trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn hơn trong năm 2019, chúng tôi đánh giá tăng trưởng xây dựng công nghiệp sẽ tăng tốc trong năm 2019, và đây cũng là lĩnh vực xây dựng duy nhất có triển vọng khả quan trong năm tới.

Share This Page