Nguyên nhân và tác động NHNN giảm lãi suất điều hành

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi he_ro, 18/09/2019.

12305 người đang online, trong đó có 2098 thành viên. 12:02 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 403 lượt đọc và 2 bài trả lời
  1. he_ro

    he_ro Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    10/09/2015
    Đã được thích:
    7.474
    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) thông báo giảm đồng loạt 25bps các lãi suất điều hành. Vậy ý nghĩa của động thái này là gì và sẽ tác động đến nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng như thế nào?

    ðNguyên nhân: Diễn biến quốc tế và trong nước ủng hộ cho quyết định hạ lãi suất

    -Cuộc chiến thương mại với Trung Quốc ngày càng căng thẳng đã làm đảo ngược chính sách điều hành của cục dự trữ liên bang Mỹ (FED)

    -Giảm triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Xu hướng giảm lãi suất giảm lãi suất của các NHTW trên thế giới ngày càng gia tăng, hiện tại đã là 93 đợt điều chỉnh giảm trong khi chỉ có 9 đợt điều chỉnh tăng lãi suất.

    -Trong khi các đồng tiền chủ chốt đều biến động mạnh, có những đồng tiền mất giá tới 9% (như KWR, SEK) nhưng cũng có những đồng tiền lên giá 5-6% (như RUB, THB) so với USD, VND trở thành một trong những đồng tiền hiếm hoi có tỷ giá ổn định so với USD.

    -Hiện tại, ngoài những kinh nghiệm điều hành đã được tích lũy, nhiều yếu tố thuận lợi sẽ góp phần ổn định tỷ giá trong thời gian tới như sau:

    + Thứ nhất, sau 2 đợt mua vào ngoại tệ rất lớn là 4 tháng đầu năm và từ tháng 7 đến nay, dự trữ ngoại hối hiện đã ở mức cao nhất từ trước đến nay, chúng tôi ước tính khoảng 70 tỷ USD.

    + Thứ hai, cán cân thương mại và dòng vốn đầu tư nước ngoài đang diễn biến thuận lợi. Cán cân thương mại tháng 8 thặng dư 3.43 tỷ USD, là mức thặng dư kỷ lục tính theo tháng trong nhiều năm trở lại đây, lũy kế 8 tháng 2019, cán cân thương mại thặng dư 5.1 tỷ USD. Dòng vốn FDI đăng ký và giải ngân vẫn tăng đều, đến hết tháng 8 có 11.96 tỷ USD

    + Thứ ba, một số dòng vốn lớn có thể nhìn thấy sẽ về trong thời gian tới như khoản bán vốn của BIDV và mùa kiều hối cuối năm.

    -Bên cạnh đó, chỉ số CPI đến tháng 8 tăng 1.87% Ytd và +2.57% YoY – khá thấp so với mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4% trong năm 2019 do Quốc hội đề ra. Bởi vậy, SBV có cơ sở để hướng các chính sách điều hành sang mục tiêu giảm lãi suất.

    ðTác động:

    -SBV đã có một đợt nới hạn mức tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng đủ tiêu chuẩn nhưng hầu hết thấp hơn đề xuất của các NHTM.

    -Mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm vẫn là 14% cho thấy, SBV vẫn đang điều hành cung tiền thận trọng.

    -Trong ngắn hạn, mặt bằng lãi suất giao dịch trên liên ngân hàng và lợi tức trái phiếu chính phủ các kỳ hạn ngắn trên thứ cấp là 2 đối tượng chịu tác động mạnh nhất từ việc điều chỉnh lãi suất OMO. Trong ngày nhận được thông tin giảm lãi suất điều hành, lãi suất qua đêm trên liên ngân hàng đã giảm mạnh xuống 2.78%/năm (giảm 20bps), lợi tức TPCP kỳ hạn 1-3 năm giảm từ 6-12bps xuống quanh mức 2.6%/năm.

    -Xét dài hơn, các lãi suất trên thị trường liên ngân hàng sẽ dao động trong khoảng từ lãi suất tín phiếu đến lãi suất OMO (từ 2.75%/năm đến 4.5%/năm). Trong điều kiện lý tưởng, giá vốn rẻ hơn trên thị trường liên ngân hàng (và môi trường thanh khoản được kỳ vọng sẽ được giữ dồi dào) sẽ tạo cơ sở để các NHTM điều chỉnh giảm mặt bằng lãi suất trên thị trường 1 (tức là thị trường giữa các NHTM với các tổ chức kinh tế và cá nhân). Tuy vậy, vốn liên ngân hàng chỉ đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn, không dùng để cấp tín dụng và bị hạn chế bởi tỷ lệ 20% so với vốn huy động TCKT & Dân cư nên tính liên thông từ thị trường 2 (thị trường liên ngân hàng) xuống thị trường 1 cần một thời gian dài.

    -Dù tác động đến thị trường 1 là hạn chế nhưng đây là động thái tiếp theo sau một loạt các hành động trước đó như các NHTMNN tiên phong giảm lãi suất cho vay với các nhóm ngành ưu tiên tới 2 lần kể từ đầu năm đến nay; SBV tuyên bố sẽ xử lý nghiêm các NHTM chạy đua tăng lãi suất huy động trong đó gồm cả việc cắt giảm tăng trưởng tín dụng; kiểm soát chặt chẽ các hoạt động cho vay bất động sản và đầu tư trái phiếu bất động sản của các NHTM… Qua đó thể hiện sự tăng cường kiểm soát dòng chảy tín dụng và chủ trương giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ cho các doanh nghiệp.

    -Thời gian gần đây, các NHTM yếu thanh khoản đã đẩy lãi suất huy động lên khá cao, nới rộng khoảng cách với lãi suất huy động của nhóm các NHTMNN và NHTMCP lớn. Tuy nhiên, với tỷ trọng trên 70% thị phần huy động và cho vay, nhóm NHTMNN và các NHTMCP lớn mới đóng vai trò quyết định trong xu hướng lãi suất chung của thị trường 1.

    -Trong bối cảnh có nhiều yếu tố thuận lợi như đã phân tích phía trên, các biện pháp kỹ thuật của SBV nếu có được sự đồng lòng của các NHTM lớn thì mục tiêu giảm lãi suất vẫn có thể đạt được mà chưa cần phải dùng đến biện pháp nới lỏng, bơm tiền vào nền kinh tế.
  2. he_ro

    he_ro Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    10/09/2015
    Đã được thích:
    7.474
    bank đã quay trở lại, chú ý ACB, VPB, CTG
  3. he_ro

    he_ro Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    10/09/2015
    Đã được thích:
    7.474
    NHNN hạ trần lãi suất huy động và cho vay ngắn hạn, thực thiđịnh hướng hạ lãi suất cho vay trong 2020 của Chính Phủ
    Trong vài tháng gần đây, NHNN đã có nhiều động thái với nỗ lực kiểm soát lãi suất nhằm giữ tính ổn định và phát triển lành mạnh của hệ thống ngân hàng, cũng như định hướng giảm lãi suất hỗ trợ cho nền kinh tế. Cụ thể:
    - Tháng 8/2019, NHNN có công văn cảnh báo các ngân hàng có lãi suất huy động cao làm tiềm ẩn rủi ro cho sự ổn định và phát triển lành mạnh của hệ thống và yêu cầu các ngân hàng nghiêm túc thực hiện Chỉ thị 01/CT-NHNN (ngày 8/1/2019) nhằm duy trì mặt bằng lãi suất huy động ổn định hợp lý.
    - 13/9/2019, NHNN hạ lãi suất điều hành gồm lãi suất tái cấp vốn từ 6,25% xuống còn 6%; lãi suất tái chiết khấu từ 4,25% về còn 4%. Tuy nhiên, lãi suất trên thị trường khách hàng (thị trường 1) vẫn chưa thực sự hạ nhiệt khi nhiều ngân hàng vẫn treo lãi suất các kỳ hạn dài ở mức khá cao (VD: mức lãi suất huy động cao nhất tại SCB, Nam Á, TPB, EIB, SHB, NCB … từ 8-8,9%).
    - Đầu tháng 11, một số ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất huy động, tuy nhiên mức giảm khá khiêm tốn từ 0,1%-0,2% (VD: ABBank, SHB, Vietcapital, Bảo Việt Bank); Trong khi đó, NCB và PVCombank mở rộng cuộc đua lãi suất sang kỳ ngắn hạn từ 7-12 tháng.
    - 8/11/2019, Thủ tướng báo cáo trước Quốc hội và đưa ra mục tiêu phấn đấu giảm lãi suất cho vay ít nhất 0,5% trong 2020, đặc biệt đối với các lĩnh vực ưu tiên.
    - Sáng 18/11/2019, nhiều ngân hàng đồng loại công bố biểu lãi suất mới, chủ yếu vẫn giảm lãi suất huy động các kỳ hạn dài từ 0,1% - 1% (VD: CTG, TPB, VPB, Vietcapital bank). Tuy nhiên qua các đợt giảm lãi suất, mặt bằng lãi suất huy động của nhóm ngân hàng top dưới vẫn cao hơn mặt bằng chung của nhóm ngân hàng quốc doanh và nhóm tư nhân top đầu khoảng 0,4% - 1,3%.
    Cùng sáng 18/11/2019, VCB công bố giảm 0,5% lãi suất cho vay đối với tất cả các doanh nghiệp hồi tố áp dụng từ 1/11/2019, hưởng ứng mục tiêu của Thủ tướng về hạ lãi suất cho vay.
    - Chiều muộn 18/11, NHNN công bố quyết định hạ trần lãi suất huy động (tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng từ 1% về còn 0,8%; kỳ hạn 1-dưới 6 tháng từ 5,5% xuống 5%) và cho vay ngắn hạn cho lĩnh vực ưu tiên (từ 6,5% xuống 6%).
    Có thể thấy đây là bước đi khá quyết liệt của NHNN khi áp dụng công cụ hành hính nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP 2020 6,8% vừa mới được giao, ổn định kinh tế vĩ mô đặc biệt khi tình hình thanh khoản chung của toàn hệ thống ngân hàng hiện rất tốt nhưng mặt bằng lãi suất thị trường 1 không hạ xuống như kỳ vọng. Chúng tôi tin rằng các ngân hàng top đầu sẽ hưởng lợi khi chi phí huy động đầu vào giảm nhưng nguồn vốn huy động sẽ không ảnh hưởng tiêu cực nhờ cơ sở khách hàng mạnh.
    Trong khi đó với sự phân hóa ngày càng sâu sắc giữa các ngân hàng nội, nhóm ngân hàng top dưới với tiềm lực vốn mỏng sẽ khá nhạy cảm với quyết định này bởi lợi thế duy nhất của nhóm này là cạnh tranh về giá. Ngoài ra, những ngân hàng này sẽ càng khó khăn hơn khi tỷ lệ huy động vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn có thể tiếp tục hạ xuống và hạn chót áp dụng Basel II lên toàn hệ thống đang đến gần.

Chia sẻ trang này