Oil vs. shale oil 2.0

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi huyen141292, 15/05/2018.

1239 người đang online, trong đó có 80 thành viên. 05:27 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 44739 lượt đọc và 367 bài trả lời
  1. huyen141292

    huyen141292 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    20/03/2015
    Đã được thích:
    6.177

    Trong phần đầu của topic cùng tên, chúng em đã có nói về tương quan giữa oil và shale oil. Thực tế suốt 2 năm qua cho thấy, mỗi khi giá oil tăng là media lại vác sản lượng của shale oil để hù dọa đạp giá. Thế nhưng đến nay câu chuyện đã thay đổi, nhiều lúc tin sản lượng dầu, số giàn khoan hay dự trữ dầu nước mĩ tăng cũng ko khiến giá oil giảm nữa.


    Đó là vì cái nhìn của thị trường đối với khối shale oil đã thay đổi, bản thân khối shale oil cũng thay đổi. Hơn nữa, nhiều vấn đề của shale oil cũng ko còn thần bí nữa, những nhược điểm của chúng dần lộ ra ngoài. Đó là :


    1. Trước kia chỉ cần có được sản lượng tăng là giá cổ phiếu khối shale oil tăng, giám đốc được trả lương theo sản lượng khai thác dầu lên. Giờ thì ngược lại, cty nào tăng sản lượng, tăng số giàn khoan, M&A để mở thêm diện tích khai thác thì giá cổ phiếu đều giảm. Nhẹ 10%, còn nặng thì mất tới gần 30%. Nói cách khác, sau 7 năm ko có cổ tức cho dù giá oil 120 hay 26 thì cổ đông bây giờ chỉ đòi hỏi 1 điều : nếu anh tuyên bố giá hòa vốn thấp hơn giá thị trường, vậy phải có lãi, phải chia cổ tức. Ko có cổ tức là giá cổ phiếu giảm, giám đốc khỏi nghĩ tới lương thưởng.

    Tình thế đó buộc các cty shale oil phải nhìn giá dầu mà lên kế hoạch sản xuất.

    2. Giá thành hòa vốn của shale oil đang tăng lên, đó là vì:

    a. Chi phí dịch vụ tăng : trong thời kì giá oil về 26, các cty dịch vụ OFS buộc lòng phải cắt giảm giá thành tới 70% từ tiền khoan, cát fracking, hơn 20 loại hóa chất lẫn tiền công vận chuyển …. Nhưng bây giờ giá oil tăng, bọn họ cũng cần cổ tức để báo cáo với cổ đông. Điều đó khiến chí phí dịch vụ tăng. Hơn nữa, số giàn khoan tăng còn nảy sinh vấn đề thiếu nhân công, nhất là ở công đoạn hoàn thành giếng khoan, bắt đầu khoan ngang. Tức tiền lương phải tăng.

    b. Ra khỏi vùng lõi : lúc giá oil giảm, người ta tập trung vào khoan ở vùng lõi của bể dầu để có năng suất sản lượng cao nhất, từ đó hạ giá thành trên 1 mũi khoan. Nhưng càng mở rộng khai thác sẽ càng phải chấp nhận sản lượng thấp hơn. Ngoài ra, mũi khoan đầu tiên luôn cho sản lượng cao nhất, nhưng mũi khoan cạnh nó đã bị ảnh hưởng bởi cấu tạo địa chất thay đổi sau mũi khoan đầu tiên. Nếu khoan 2 mũi cách xa nhau để tránh bị ảnh hưởng, sẽ mặc định có 1 vùng ko được khai thác, lãng phí tài nguyên, kết quả là giảm tổng sản lượng, tổng thu nhập cuối cùng của bể dầu.

    Túm váy lại : kiểu gì thì những mũi khoan sau cũng ko cho sản lượng cao như ban đầu, từ đó điểm hòa vốn tăng dần.

    c. Nút cổ chai vận chuyển : bình thường, nếu bơm oil theo đường ống thì chi phí vận chuyển là 1 trump/ thùng. Nhưng việc triển khai đường ống chậm bởi 2 nguyên nhân : Ủy ban Điều phối Năng lượng Liên bang chậm hoàn tất guồng máy để phê duyệt việc lắp đặt đường ống, bản thân các cty shale oil ko dám đảm bảo đủ sản lượng để kí hợp đồng thuê ống, cho đến khi thấy rõ sản lượng mới dám kí thì phải chờ đặt ống mới.

    Kết quả là sản lượng hiện nay ở Permian đã vượt công suất của đường ống, khiến chi phí thuê ống tăng lên 16 trump/ thùng. Nếu dùng tàu hỏa, chi phí vận chuyển là 8 trump/ thùng. Nếu dùng ô tô , chi phí vận chuyển là 18 trump/ thùng. Như vậy các cty đường ống đang thừa nước đục thả câu, vắt sạch lợi nhuận của khối shale oil. Chỉ riêng nút cổ chai đường ống này đã tăng điểm hòa vốn của khổi shale lên hàng chục trump/ thùng.

    Tất nhiên shale oil có thể thuê đường sắt để hạ giá thành, vấn đề là đường sắt cũng đã oằn mình chở cát phục vụ cracking oil rồi. Nếu gặp quá tải, ngành đường sắt cũng sẽ tăng giá thuê lên 14 trump/ thùng. Giá thì rẻ hơn chút ít, nhưng nguy cơ ô nhiễm môi trường khi có vấn đề thì cao hơn nhiều so với dùng đường ống. Cuối cùng shale oil đành bấm bụng thuê đường ống với giá trên trời.

    Tình trạng nghẽn đường ống kéo dài ít nhất tới cuối 2019, tức giá thành hòa vốn của shale oil cũng bị nâng lên tới thời điểm đó, khiến giá oil còn tăng dài dài.

    d. Chất lượng oil : nhìn vào Bình Sơn BSR chúng ta thấy, lợi nhuận chính ko đến từ việc lọc hóa dầu thành xăng, mà là từ các sản phẩm phụ khác như chất dẻo, chất thơm, ethylene …. Thành phần shale oil có tỉ trọng chính là loại dầu ngọt nhẹ có độ nhớt thấp, chủ yếu để lọc thành xăng. Muốn lọc hóa ra sản phẩm khác có biên lợi nhuận cao hơn, người ta phải dùng dầu chua nặng, đa phần nhập từ Canada, Venezuela hay Trung đông. Nói cách khác : các cơ sở lọc hóa dầu của mĩ ko muốn lọc dầu thô từ shale oil, nên nước mĩ phải xuất khẩu bớt dầu này đi, đồng thời nhập từ Trung đông về.

    Nếu tăng sản lượng shale oil lên nữa, giãn cách giữa giá WTI và Brent sẽ càng lớn. Và cổ đông shale oil sẽ càng làm mình làm mẩy khi thấy miếng bánh cổ tức của mình nhỏ hơn. Điều đó càng khiến lãnh đạo các cty shale oil phải chăm lo tới giá WTI và Brent, điều này khác hẳn thái độ của bọn họ vào cùng kì năm trước.


    Chém ró đã dài, muốn xem kĩ các bác có thể về topic “ oil vs. shale oil”. Topic này chúng em lập ra chủ yếu để cập nhật tình hình xung quanh giá oil. Lúc trước chúng em lên kịch bản Cá Rồng Đỏ mang lại 25 tỏi trump lợi nhuận, bể dầu xung quanh đó có 11 tỏi thùng sẽ mang thêm 800 tỏi trump nữa. Từ đó lên kịch bản dòng P sẽ dẫn sóng suốt 2 năm 2018-2019 thậm chí tới 2022. Nhưng nay Cá Rồng Đỏ dẹp rồi, nên topic của chúng em chỉ còn mang tính chất thông tin. Oài
    rongcon8x đã loan bài này
  2. SorryHey

    SorryHey Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/04/2018
    Đã được thích:
    183
    OIL OIL vs. shale oil
  3. huyen141292

    huyen141292 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    20/03/2015
    Đã được thích:
    6.177
    Bàn tiếp về cung cầu oil.

    Vừa qua khi tổng thỗng mĩ kí sắc lệnh rút khỏi hiệp định với Iran, giá oil lập tức tăng vù vù. Nhưng chúng em chưa dám có kết luận gì về vụ này, bởi ảnh hưởng của nó phải tháng 11 mới thấy, hoặc sớm nhất là tháng 9, khi chỉ số baltic của hạm đội tanker sụt giảm. Thế nhưng thị trường ko thiếu yếu tố khác có tác động nâng đỡ giá oil :
    - Sản lượng của tàu giảm , từ 5 triệu thùng/ ngày xuống còn 3.5 triệu thùng/ ngày. Điều đó góp phần đẩy nhu cầu nhập khẩu oil của tàu tăng lên, từ 7.7 triệu thùng/ ngày lên 9.5 triệu thùng/ ngày.

    - Sản lượng lọc dầu của tàu tăng lên , đã đạt 12.1 triệu thùng/ ngày

    - Nhu cầu nhập khẩu oil của India tăng lên, nhưng nền kinh tế nước này khó chấp nhận giá oil cao. Đây là khâu yếu nhất trong lệnh cấm vận của mĩ với Iran. Chỉ cần giá chiết khấu đủ cao, India sẽ cân tất số oil của Iran ko xuất khẩu đi nơi khác được. Mà nước mĩ cũng ko có đủ biện pháp để làm căng với India về vấn đề này.

    - Sản lượng giảm tự nhiên do ko tăng cường thăm dò khai thác, PVN hay PEMEX Mehico là điển hình

    Hiện bên cạnh shale oil, chỉ có 1 yếu tố tăng cung điển hình : OPEC sẽ làm gì sau khi thỏa thuận cắt giảm sản lượng hết hạn. Còn các yếu tố địa chính trị và thiên tai thì ko chắc chắn, nên chúng em ko tính tới.

    Túm váy lại : trong 1 năm tới, khả năng hụt cung lớn hơn bất chấp sản lượng nước mĩ đạt mức 12 triệu thùng/ ngày
    khoaita2009, mission9, vhc20072 người khác thích bài này.
  4. thatha_chamchi

    thatha_chamchi Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/09/2013
    Đã được thích:
    21.140
    Thanks ý bác .
  5. Congtubacle

    Congtubacle Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/12/2013
    Đã được thích:
    438
    Cảm ơn đội của Bác. Note để theo dõi.
  6. tqh24

    tqh24 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    21/11/2011
    Đã được thích:
    8.558
  7. S18

    S18 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    16/06/2017
    Đã được thích:
    310
    Úp úp. Nhớ note là ko khuyến nghị mua bán. Ký tên: CRĐ :D
    mr_neo thích bài này.
  8. huyen141292

    huyen141292 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    20/03/2015
    Đã được thích:
    6.177
    Em xin post lại câu chuyện cuối tuần trước đây cho bác nào chưa đọc

    Câu chuyện cuối tuần 11

    Ngành khoan dầu khí – năm 2018 gian nan


    Vừa qua bộ đôi PVD, PVS đã mang lại lợi nhuận cho nhiều bác, nhưng cũng khiến 1 cơ số kha khá phải cưa chân bàn. Vậy thực trạng ngành này như thế nào? Em xin thưa luôn rằng vô cùng đen tối , nói vậy để bác nào bìm bịp PVD, PVS đỡ mất công đọc tiếp ạ.


    1. Tình trạng ngành khoan dầu:

    a. Khu vực đông nam á : Ít việc và tiền thuê ngày giảm

    http://www.drillingcontractor.org/asia-pacific-rig-market-distressed-and-oversupplied-41805

    Theo số liệu của IHS Petrodata, số lượng trung bình giàn khoan tự nâng đang trong hợp đồng ở khu vực Đông Nam Á, vốn vẫn bị chi phối bởi việc khoan nước nông, chiếm 44,5% vào năm 2015, và con số này đã giảm xuống chỉ còn 25,9 vào năm 2016."Một số đã chuyển đến các vùng khác để tìm việc làm.Mặc dù vậy, các nhà thầu khoan gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm.Đó là một dấu hiệu của những điều xấu.

    Tiền thuê ngày tiếp tục giảm trong khu vực, giảm từ khoảng 80.000-120.000 đô la năm 2015 xuống còn 75.000 đô la vào tháng 12 năm 2016, năm 2017 còn thấp hơn nữa. Thị trường khoan dầu đã tiếp tục trượt ở Đông Nam Á, và năm 2017 không phải là một sự cải tiến.


    Tính đến tháng mười hai, chỉ có 18 giàn khoan tự nâng đang được làm việc và 44 giàn khác đang phải bọc dầu.


    b. Nhìn chung trên thế giới : Nói về ngành khoan dầu 2017, media luôn phán xét thị trường giàn khoan Châu Á Thái Bình Dương nói riêng và thế giới nói chung : ảm đạm và quá tải. Phán xét như vậy một phần vì đến tháng 6/2017, giá dầu vẫn còn ở mức 42 trump/ thùng, cần phải tăng 50% nữa thì mới khiến đội tàu khoan quay lại hoạt động. Mặt khác, đội tàu khoan có số lượng quá nhiều. Các giàn khoan chia thành 3 loại : giàn khoan tự nâng jack-up chiếm 67,3% tổng số giàn khoan, giàn khoan nửa nổi nửa chìm semisubmersibles chiếm 17,1% tổng số giàn khoan, và tàu khoan drillships chiếm 15,6% tổng số giàn khoan.


    [​IMG]



    Vào ngày 9/1/2017 đội khoan có 977 chiếc gồm 155 tàu khoan, 188 giàn nửa chìm nửa nổi và 634 giàn khoan tự nâng

    Đến ngày 15/7/2017 đội khoan có 934 chiếc gồm 144 tàu khoan, 170 giàn nửa chìm nửa nổi và 620 giàn khoan tự nâng. Tổng cộng đã giảm được 43 giàn


    c.Tỉ lệ có việc làm

    Chúng ta hãy nhìn vào tình trạng của mối loại vào 15/7/2017

    [​IMG]



    Giàn khoan tự nâng : đang có hợp đồng 305, đang bọc dầu bảo quản 55, sẵn sàng bọc dầu 165 , chuẩn bị đưa vào vận hành làm việc 1. đang kiểm tra 7, đang trên đường di chuyển 1, đang đóng mới 86, tổng cộng 620 chiếc


    Giàn khoan nửa chìm nửa nổi :đang có hợp đồng 61, đang bọc dầu bảo quản 44, sẵn sàng bọc dầu 45 , chuẩn bị đưa vào vận hành làm việc 4. đang kiểm tra 1, đang trên đường di chuyển 2, đang đóng mới 13, tổng cộng 170 chiếc


    Tàu khoan : đang có hợp đồng 55, đang bọc dầu bảo quản 28, sẵn sàng bọc dầu 25 , chuẩn bị đưa vào vận hành làm việc 5. đang kiểm tra 0, đang trên đường di chuyển 4, đang đóng mới 14, tổng cộng 144 chiếc


    Đi vào chi tiết cụ thể

    Giàn khoan tự nâng : đang có hợp đồng 305 trên tổng số 620 chiếc, tỉ lệ có việc là 49.19%

    Giàn khoan nửa chìm nửa nổi :đang có hợp đồng 61 trên tổng số 170 chiếc tỉ lệ có việc là 35.88%

    Tàu khoan : đang có hợp đồng 55 trên tổng số 144 chiếc tỉ lệ có việc là 38.19%


    Kết luận : Việc sử dụng dường như là quá thấp, trung bình 45.07%.Mức sử dụng tối thiểu là 50% yêu cầu ngành công nghiệp phải bán sắt vụn , đổi công năng nhiều hơn hoặc hủy bỏ nhiều giàn khoan đang đóng mới.Đây là cái mà chúng ta gọi là dư cung


    2. Phân tích việc sử dụng giàn khoan toàn cầu :

    điều thấy rõ ràng là hiện tại đang có quá nhiều giàn khoan tự nâng trên thị trường và số lượng tài sản cũ cần được đưa ra khỏi đội hình. Sau đó thì sự cân bằng đội tàu khoan sẽ trở lại, nhưng nó không xảy ra với một tốc độ đủ nhanh để ngăn ngừa giá thuê ngày tiếp tục giảm.Tình hình hiện tại cũng có nghĩa là nhiều giàn khoan hoặc vừa mới được bọc dầu hoặc đã được bọc dầu ở xưởng đóng ngay khi giao hàng.Tình trạng này đã không xảy ra sau các chu kỳ phát triển trước đây, nơi các đơn vị giàn khoan mới đã đảm bảo hợp đồng trước hoặc ngay sau khi giao hàng.


    Mặc dù tỷ lệ sử dụng giàn khoan tự nâng thấp trong thị trường mỏ dầu, một tỷ lệ đáng kể các giàn khoan cũ đang làm việc.Trên thực tế, 47% giàn khoan tự nâng được đóng trước năm 1990 đang làm việc, so với 62% giàn khoan được chế tạo sau năm 1990. Ngoài ra, khoảng 50 giàn đang được xây dựng về cơ bản hoàn chỉnh và không được giao vì chủ sở hữu không thể tìm hợp đồng khoan.


    Các thị trường như Trung Đông và Ấn Độ (hiện đang là thị trường lớn nhất) tiếp tục hợp đồng các giàn khoan cũ.Với giếng ít thách thức hơn và điều kiện thời tiết lành tính, các nhà khai thác ở những khu vực này có khuynh hướng áp dụng các giàn khoan cũ hơn phù hợp với mục đích và có thể được ký hợp đồng với mức giá thấp hơn.


    Nhìn vào dữ liệu ở trên chúng ta thấy số lượng giàn khoan quá lớn, tỉ lệ sử dụng quá thấp đã khiến giá dầu vừa giảm, cả ngành chết lâm sàng. Mà vấn đề đã ngăn cản bất kỳ sự phục hồi có ý nghĩa nào trong ngành công nghiệp khoan ngoài khơi có liên quan đến việc cung cấp quá mức các giàn khoan sẵn có, điều này đã đẩy tỷ lệ tiền thuê ngày đến một mức độ thường thấp hơn điểm hòa vốn.


    Vấn đề thứ hai là một số lượng lớn cái gọi là "giàn khoan zombie" vẫn còn bọc dầu mà không có triển vọng thực sự trong thị trường khoan củng cố và cạnh tranh này. Vào tháng 8 /2016, hãng tư vấn Rystad ước tính rằng "tới 340 giàn khoan có thể bị loại bỏ vào năm 2020"


    3.Việc loại bỏ giàn khoan cao tuổi:

    Việc loại bỏ số giàn khoan cao tuổi chính là mấu chốt để phục hồi thị trường khoan dầu. Hãy chú ý số giàn khoan bọc dầu.

    Giàn khoan tự nâng : đang bọc dầu 44 trên tổng số 620 chiếc, tỉ lệ là 8.87%

    Giàn khoan nửa chìm nửa nổi :đang bọc dầu trên tổng số 170 chiếc tỉ lệ là 25.88%

    Tàu khoan : đang bọc dầu 28 trên tổng số 144 chiếc tỉ lệ là 19.44%

    Cả ba loại 127 trên tổng số 934 chiếc chiếm tỉ lệ là 13.60%.


    Chính số giàn khoan cao tuổi đã hết khấu hao đang bọc dầu này là nhân tố chủ chốt đè giá thuê ngày của giàn khoan xuống. Cho nên việc loại bỏ chúng có ý nghĩa quan trọng với ngành khoan ko kém gì giá dầu tăng.


    Nhưng việc loại bỏ số giàn khoan cao tuổi từ năm 2014 có mấy khó khăn : giá sắt thép phế liệu giảm, làn sóng nâng cao yêu cầu về môi trường khiến việc phá dỡ chúng ở châu âu mĩ trở nên ko thực tế. Nhưng cước phí thuê ngày của tàu lai dắt đưa tới xưởng phá dỡ ở ấn độ quá cao , tiền thuê tàu lai dắt đắt hơn tiền bán giàn khoan cũ làm sắt vụn nên chủ giàn cứ bọc dầu để đó.


    Hai năm trước (hoặc thậm chí 6 tháng trước), nếu như có một giàn khoan tự nâng 30 tuổi bọc dầu, người ta có thể để nó ở đâu đó và chờ đợi cho rằng nhu cầu giàn khoan hình parabol sẽ lại đi lên từ đáy.Chi phí bọc dầu thì vẫn còn thấp , chỉ chưa đến 5 k trump/ngày. Và khi thị trường khoan ngoài khơi quay trở lại đỉnh cao, chi phí tái thiết sẽ chỉ là một phần nhỏ so với những gì họ cần phải làm với tàu khoan nổi.


    Thêm vào thực tế là, so với tàu khoan nổi, giàn khoan tự nâng có chi phí nhiều hơn khi cần vận chuyển, lúc bán sắt vụn có giá trị thép thấp hơn, có một thị trường người mua và các cơ sở tái chế tàu có thể xử lý tài sản đó nhỏ hơn, và trong một số trường hợp có thể khó khăn hoặc không an toàn để di chuyển từ vị trí của chúng nếu hệ thống nạp của chúng bị mất chức năng.


    Tuy nhiên, khi khả năng trúng số giảm, mà giải thưởng do khả năng có số ngày sử dụng và tiền thuê ngày cao hơn của tài sản cũ sẽ giảm đi. Còn chi phí cho việc kích hoạt lại thiết bị tăng lên do thời gian bọc dầu bảo quản lâu hơn, thì không có nhiều lý do để ở lại thêm trong trò chơi.


    Cước phí vận chuyển - biến số có ảnh hưởng nhất trong chương trình phá dỡ giàn khoan - đã giảm gần một nửa trong vòng hai năm trở lại đây vì sự cạnh tranh đã đẩy tỷ lệ thuê tàu xuống.Đồng thời, giá thép ở Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ đã tăng gấp đôi kể từ năm 2016.

    Là một người bán, một năm trước, chủ giàn khoan sẽ được may mắn nếu hòa vốn khi bán một giàn khoan tự nâng làm phế liệu sau khi tính đến chi phí vận chuyển, thời gian hành chính và lệ phí pháp lý.Ngày nay, chủ nhân vẫn không thực sự kiếm tiền từ việc bán giàn khoan làm phế liệu, nhưng kinh tế đã được cải thiện đủ để làm cho quy trình trở nên dễ chịu hơn.

    Một chiếc giàn khoan tự nâng nặng 6000 tấn ở Mỹ hiện nay có thể thu được từ 500.000 đến 750.000 USD tùy thuộc vào việc nó được bán bởi "chủ nhân" hay không.Đối với các giàn khoan ở Trung Đông được gửi tới Ấn Độ, số tiền này tăng lên 1,5 triệu đô la và 2,5 triệu đô la.


    Tỷ lệ phá dỡ đang và sẽ tiếp tục tăng. Và người ta hy vọng năm 2018 sẽ là một năm kỷ lục cho việc thanh lí chúng. Sau khi loại bỏ hết số giàn khoan bọc dầu và cao tuổi, bức tranh ngành khoan dầu sẽ khác.


    Để thị trường khoan dầu trở lại cân bằng , số giàn khoan phải loại bỏ trong năm 2018 là:

    Giàn khoan tự nâng : 10 chiếc.

    Giàn khoan nửa chìm nửa nổi : 48 chiếc.

    Tàu khoan : 34 chiếc.

    Tổng cộng có 92giàn khoan nên được nghỉ hưu hoặc hủy bỏ trước khi thị trường có thể bắt đầu cân bằng trở lại. Nhưng về lâu dài, số giàn khoan già cũ phải loại bỏ là 340 chiếc , nguyên nhân bởi:

    - Đáp ứng yêu cầu về môi trường với những tiêu chuẩn khắt khe hơn do hiệp định chống biến đổi khí hậu

    - Do số giàn khoan đang đặt hàng mới sẽ đưa ra thị trường.


    4. Số đơn đặt hàng mới:

    Giàn khoan tự nâng : đang có hợp đồng đặt 86 trên tổng số 620 chiếc, tỉ lệ là 13.87%

    Giàn khoan nửa chìm nửa nổi :đang có hợp đồng đặt 61 trên tổng số 170 chiếc, tỉ lệ là 7.65%

    Tàu khoan : đang có hợp đồng đặt 27 trên tổng số 144 chiếc, tỉ lệ là 38.75%


    Tổng cộng số đơn đặt hàng 126 trên tổng số 934 chiếm 13.4% .


    Hiện các cty đặt hàng đang tìm đủ phương thức để rút khỏi hợp đồng và lấy lại tiền đặt cọc về. Điều này khiến các xưởng đóng giàn khoan lỗ nặng, điển hình là Samsung bị đối tác Na uy ko chịu nhận hàng do bàn giao trễ hạn. Cuối cùng giàn khoan trị giá hơn 1 tỏi chỉ còn bán được với giá 500 triệu trump cho đối tác khác.


    Duy nhất có số đơn đặt hàng 26 chiếc của ARAMCO thì chắc chắn sẽ thực hiện, điều này sẽ gây khó khăn cho ngành khoan dầu vốn đang gặp khó khăn.


    5.Đẩy mạnh khấu hao tài sản

    Các giàn khoan trên 30 năm tuổi đều đã trải qua thời kì làm ko hết việc, hưởng đủ trái ngọt ngành khoan. Những giàn khoan này đều đã khấu hao hết giá trị. Còn với những giàn khoan mới, các cty khoan thăm dò đang đẩy nhanh tốc độ khấu hao tài sản của mình đến tháng 11/2017.

    -Transocean có 57 giàn giảm từ giá 16.51 trump/giàn vào 2014 còn 5.53 trump/ giàn tức chiết khấu 74.49%

    -Ensco có 66 giàn giảm từ giá 11.72 trump/giàn vào 2014 còn 5.92 trump/ giàn tức chiết khấu 49.5%

    - Noble Corp có 28 giàn giảm từ giá 7.68 trump/giàn vào 2014 còn 3.13 trump/ giàn tức chiết khấu 59.2%

    - Rowan có 26 giàn giảm từ giá 5.29 trump/giàn vào 2014 còn 2.31 trump/ giàn tức chiết khấu 56.3%

    - Diamond offshore có 25 giàn giảm từ giá 6.75 trump/giàn vào 2014 còn 1.67 trump/ giàn tức chiết khấu 75.3%


    Việc đẩy mạnh khấu hao đã khiến cty vừa đỡ khoản thuế lợi nhuận, vừa tạo tiền đề có thể đưa ra giá đấu thầu cạnh tranh hơn sau này.


    Điều này có nghĩa là về cơ bản lợi nhuận từ bất kỳ sự tăng giá dầu nào, ngành công nghiệp này phải kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi các công ty dầu khí và các công ty dầu khí độc lập quyết định chi tiêu lại vào đầu tư thăm dò và trao các hợp đồng khoan một cách đầy đủ để tạo ra sự khác biệt về doanh thu và doanh thu tiến về phía trước.


    Như mọi khi, thị trường đang nhanh chóng chuyển đổi đà tăng giá dầu thành một cuộc triển khai khoan nước sâu hay ngoài khơi.


    Nhìn chung các cổ phiếu khoan có thể sẽ quay trở lại giảm khi giá dầu bắt đầu có dấu hiệu dừng lại với sự thoái lui mà em thấy về khoảng 58 trump/ thùng đối với dầu – khi đó cho thấy khả năng hiệu chỉnh 20% đối với các mã khoan ngoài khơi.


    Túm váy lại : các yếu tố chính để thị trường khoan dầu hồi phục

    - Giá dầu vượt 60 trump/ thùng. Khi đó đám giàn khoan đói việc của tàu khựa sẽ quay về nước làm việc, các cuộc bỏ thầu đỡ bị phá rối

    - Loại bỏ đội giàn khoan cũ đã hết khấu hao, đám bày có thể bỏ thầu vô cùng thấp

    - Tạm thời dừng triển khai đóng mới và bàn giao các đơn đặt hàng giàn khoan, đẩy lùi thời hạn sau 2020.


    6. Tình hình khoan ở đông nam á và PVD

    Vùng thăm dò dầu khí đông nam á

    [​IMG]



    Kế hoạch khoan thăm dò 2018-2020 ở khu vực đông nam á

    [​IMG]



    Theo hãng tình báo Rystad , từ nay đến năm 2020 các nước khu vực Đông nam Á sẽ triển khai 50 lô dầu khí, tổng chi phí 28 tỏi trump. Riêng Việt nam 10 lô chi phí 5.6 tỏi trump. Như vậy trong 3 năm tới PVD và PVS sẽ phải gồng mình nuốt hết 130k tỏi thăm dò này. Theo lịch đã phân bố thì đa số khoản tiền này sẽ rơi vào trong năm 2018. Thực lòng mà nói, em rất quan ngại rằng PVD và PVS có thể nuốt nổi hết số tiền này.


    Còn như giá dầu vượt 70 trump/ thùng, có lẽ chương trình này sẽ còn mở rộng hơn nữa. *Đậu hũ đâu cho em đập đầu cái, đi chết đây*


    P/S : đây là câu chuyện em kể từ trước vụ Cá Rồng Đỏ, khi đó PVD và PVS đầy tiềm năng với kế hoạch phải chi tiêu hết 6 tỏi trump thăm dò. Bây giờ các bác cứ nghe ngóng động thái quanh vụ CRĐ này.
  9. huyen141292

    huyen141292 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    20/03/2015
    Đã được thích:
    6.177
    Câu chuyện cuối tuần 18

    Ngành sắt thép – năm 2018 yên ổn

    1. Sản lượng thép thế giới





    Country/Region 2017 ( triệu tấn)
    World 1691.2

    China 831.7

    European Union 168.7

    Japan 104.7

    India 101.4

    United States 81.6

    Russia 71.3

    South Korea 71.1

    Germany 43.6

    Turkey 37.5

    Brazil 34.4

    Italy 24.0



    Còn 10 nước sản xuất quặng sắt hàng đầu là

    Country Usable iron ore production (thousand tonnes)

    World 2,280,000

    Australia 817,000

    Brazil 397,000

    China 375,000 (estimate)

    India 156,000

    Russia 101,000

    South Africa 73,000

    Ukraine 67,000

    United States 46,000

    Canada 46,000

    Iran 27,000

    Nhìn vào bảng trên chúng ta thấy sản thép tàu khựa chiếm gần 1 nửa sản lượng thế giới. Vì vậy mọi di biến động ở tàu khựa đều ảnh hưởng tới giá thép chung toàn cầu.


    Trong số 2280 triệu tấn quặng sắt, tàu khựa chỉ khai thác 375 triệu tấn. Hàng năm tàu khựa nhập khẩu hơn 1 tỉ tấn quặng sắt, chiếm hơn 60% lượng quặng sắt xuất nhập khẩu nên tác động mạnh đến giá quặng sắt và giá sắt thép.


    Giá thép tính theo CNY/tấn

    [​IMG]



    Giá quặng sắt vừa qua có nhiều biến động. Từ năm 2000 đến năm 2014,sản lượng théptoàn cầugần như tăng gấp đôi lên 1400 triệu tấn, thúc đẩy nhu cầu quặng sắt.


    Tàu khựa đã vượt Nhật Bản để trở thành nước nhập khẩu quặng sắt lớn nhất thế giới năm 2003. Năm năm sau, tàu khựa đã nhập khẩu nhiều gấp ba lần hàng xóm Thái Bình Dương. Từ năm 2014, tàu khựa chiếm 60% trong tổng số hàng tỷ tấn quặng sắt vận chuyển đường biển.


    Trong khi nhu cầu ở tàu khựa tăng vọt, sản lượng mới tăng chậm và giá quặng sắt, chưa bao giờ vượt quá 50 USD / tấn trước năm 2008, tăng vọt lên mức 190 USD / tấn trong năm 2011.

    Phụ thuộc nhiều vào quặng sắt nhập khẩu, các nhà sản xuất thép tàu khựa trở nên quan tâm sức mạnh giá cả bị khống chế bởi 3 công ty Rio Tinto,BHPvà Vale - được gọi chung làThe Big Three.

    Trong năm 2009, các nhà sản xuất Big Three đều tuyên bố riêng rằng họ sẽ ngừng đàm phán các hợp đồng giá hàng năm và bán quặng dựa trên giá chuẩn độc lập.

    Kể từ thời điểm đó, Big Three cộng với nhà sản xuất lớn thứ tư Fortescue Metals, cùng nhau chiếm hơn 3/4 lượng quặng sắt được vận chuyển mỗi năm, đã đầu tư hơn 100 tỷ USD để mở rộng sản xuất. Cung tăng cùng với nhu cầu chậm lại từ tàu khựa đã dẫn đến giá cung và giá giao ngay thấp dần kể từ đỉnh 168 trump/ tấn vào năm 2011. Đến 2015, có lúc giá quặng chỉ còn dưới 30 trump/ tấn .

    Có những lúc các đại gia quặng đua nhau khoe giá thành cực thấp của mình để hù đối thủ. Cuối cùng đại gia Val đưa ra giá hòa vốn chỉ có 18 trump/ tấn, trong khi ngoài tứ đại gia nói trên, những nhà khai thác mỏ khác ko sao hạ được giá về dưới 50 trump/ tấn. Ngay cả Việt nam cũng vậy. Minh chứng rõ nhất là con đường 7 từ Yên bái đi Lao cai, vào thời đỉnh điểm quặng sắt, xe chở quặng đã băm nát đường 7 dù các lực lượng chwucs anwng ra sức ngăn chặn. Nhưng bây giờ dẫu ko kiểm soát thì cũng chả thấy bóng dáng xe chở quặng sắt nào nữa.


    Nguyên nhân lớn nhất dẫn đến tình trạng chuỗi công nghiệp sắt thép từ nhà khai thác quặng tới luyện thép đều lỗ chỏng vó là dư cung mà trước hết là ở tàu. Thế giới yêu cầu tàu khựa giảm sản lượng 300 triệu tấn, nhưng hiện tàu mới vạch kế hoạch giảm 150 triệu tấn cho đến năm 2020. Có điều, ngành sắt thép lỗ quá nên chính tàu khựa đẩy mạnh quá trình này. Đến 2017 đã cắt giảm 115 triệu tấn, có lẽ trong 2018 sẽ đạt kế hoạch cắt 150 triệu tấn. Tuy nhiên chừng đó cũng đủ cho ngành sắt thép , trước hết là ở tàu, làm ăn có lãi.

    Trong phần tiếp theo chúng em sẽ tập trung nói về tình hình di biến động giá thép ở tàu và ảnh hưởng tới ngành thép chúng ta.




    Câu chuyện cuối tuần 18 ( phần 2)

    Ngành sắt thép – năm 2018 yên ổn


    Vào tháng 12/2017, G20 đã triệu tập một cuộc họp ở Berlin, trong đó có thảo luận về cách giải quyết năng lực thép toàn cầu dư thừa vì lo ngại lan rộng chuyện tàu khựa đang sử dụng thị trường xuất khẩu để bán công suất dư thừa.


    Trong hội nghị, tàu khựa cằn nhằn rằng họ là những người trải qua "quá trình đau đớn" về giảm năng lực "trong khi phần còn lại của thế giới chỉ đứng xem", theo Reuters, nhưng sự thật là phần còn lại của thế giới đã hợp lý hoá sản xuất thép của mình cho thập kỷ vừa qua. Bây giờ là đến thời gian tàu khựa cắt giảm công suất dư thừa ở một mức độ nào đó. Cụ thể là 300 triệu tấn, nhưng tàu khựa mới chỉ chịu cắt 150 triệu tấn.


    Cũng trong hội nghị này, tàu khựa phủ nhận và chỉ ra việc chúng nó đã thực thi đóng cửa 100 triệu tấn thép hợp pháp và 120 triệu tấn sản xuất thép bất hợp pháp trong năm 2017.Trong thực tế, mặc dù có khả năng đóng cửa bất hợp pháp - phần lớn là các lò điện hồ quang dựa trên phế liệu - thì năng lực pháp lý của việc "đóng cửa" là một mớ bùng nhùng mù mờ.Phần lớn đó chỉ là đóng cửa vĩnh viễn công suất thép lạc hậu, dạng zoombie không hoạt động. Nhất là đóng cửa 140 triệu tấn thép làng nghề, hoạt động trên cơ sở thu mua sắt phế liệu về nấu chảy rồi đổ khuôn, do đó ko kiểm soát được chất lượng.

    Thứ 2 là ở tàu rất phổ biến câu “ trên có chính sách, dưới có đối sách”. Bởi đóng cửa cơ sở thì GDP của địa phương giảm, thành tích cán bộ chủ trì kém khởi sắc. Trung ương muốn đóng cửa thì địa phương đóng lò công suất 1 tấn, nhưng báo lên là đóng 10 tấn, do đó cứu được nhiều lò khác vẫn hoạt động. Chỉ có 1 loại lò dứt khoát phải đóng cửa : chạy bằng than chứ ko dùng điện hồ quang để đốt lò.

    Vậy những lò than bị đóng cửa đó đi đâu? For.mosa ở Hà tĩnh là ví dụ điển hình, tức chúng đã xuất khẩu ô nhiễm sang Việt nam, hậu quả chúng ta đã thấy. Bang Miranhão của Brazil cũng vừa tiếp nhận 1 dự án công suất 8 triệu tấn /năm, tổng dự án 2.2 tỏi trump.

    Đặc điểm chung của các dự án di cư này là dùng than, ô nhiễm thôi rồi và món đặc sản “chinatown” đi theo dự án. Người mĩ ko thik thú gì với vụ đánh bùn sang ao, với những đất nước có món đặc sản đó, đơn giản là bọn họ đánh thuế, coi như là hàng tàu.

    Do chiếm một nửa công suất dư thừa của thế giới, cho dù vào lúc nhu cầu nội địa mạnh mẽ thì công suất đó thường tìm thấy đầu ra tại các thị trường xuất khẩu.

    Minmetals cung cấp thêm thông tin cho rằng vào năm 2017 sản lượng thép của tàu đạt 832 triệu tấn, nhu cầu 766 triệu tấn. nguồn cung thép vào năm 2018 dự kiến sẽ 810- 830 triệu tấn, nhu cầu sử dụng 730 triệu ~ 766 triệu tấn.


    Trên thực tế, kế hoạch 5 năm lần thứ 13 của tàu đã đề xuất giảm sản lượng thép đi 150 triệu tấn, trong 2 năm 2016-2017 đã giảm 115 triệu tấn. Quá trình giảm đó được triển khai bằng cách đi kiểm tra phê duyệt công suất những cơ sở đạt yêu cầu về môi trường theo tiêu chí 1:1.25 . Tỷ lệ 1,25: 1 này có nghĩa là mỗi tấn năng lực sản xuất mới muốn được duyệt thì phải được đóng cửa cơ sở nào đó để rút 1,25 tấn công suất cũ , nhất là ở Bắc Kinh, Thiên Tân, vùng đồng bằng sông Dương Tử, Châu Giang và các khu vực khác nhạy cảm với môi trường.

    Đứng trước kiện cáo ôm sòm của phía mĩ, tàu khựa đangđẩy nhanh tiến độ các vụ sáp nhập và mua lại trong ngành công nghiệp thép. Chúng có thểđược chia thành ba bước, bước đầu tiên là vào năm 2018, sẽ loại trừ năng lực của các cơ sở lạc hậu. Bước thứ hai là năm 2018-2020 thúc đẩy sáp nhập và mua lại giữa các cơ sở nhỏđể giải quyết hơn nữa năng lực dư thừa. Bước thứ ba là 2020-2025, thúc đẩy hợp nhất và tổ chức lại công nghiệp sắt và thép có quy mô lớn.


    Điều này có nghĩa là nếu tàu khựa thực hiện nghiêm chỉnh kế hoạch này, đến 2025 ngành công nghiệp sắt thép mới ổn điịnh lâu dài nổi. Còn trước mắt mọi sự ấm lên chỉ là một đợt hồi phục nào đó, sau đó doanh nghiệp sắt thép lăn quay lúc nào ko biết. Bởi chỉ cần trung ương lơi lỏng lúc nào đó, là các địa phương lại cho hoạt động trở lại những cơ sở đã “đóng cửa”.

    Bởi một điểm đáng chú là tàu khựa đang mạo hiểm tranh chấp thương mại bằng cách cắt giảm thuế xuất khẩu đối với một số sản phẩm thép từ ngày 1 tháng 1 2018. Các sản phẩm thép cuộn được hưởng lợi nhiều nhất từ những thay đổi đã công bố với mức thuế giảm xuống mức 0%, theo Reuters. Trong khi thuế xuất khẩu thép không gỉ sẽ giảm xuống từ 10% còn 5% , và thuế suất thép tấm sẽ là 10% (giảm từ 15% hiện tại).


    Và người mĩ đã hưởng ứng bằng cách tăng thuế sắt thép nhập khẩu.


    Như vậy về phần cung, tàu khựa có giảm công suất, nhưng điều này cũng chưa đánh dấu tương lai sán lạn cho ngành sắt thép. Đơn giản vì các nhà máy tàu khựa mới hoạt động 70% công suất. Nếu thấy mùi lợi nhuận, bọn họ đẩy công suất 800 triệu tấn lên gấp rưỡi một cách nhẹ nhàng, Và thế giới sẽ lại ngập lụt với 400 triệu tấn bổ sung đó.


    Hơn nữa, kế hoạch giảm 50% công suất cơ sở sắt thép vào mùa đông đã chứng tỏ sự bất lực. Thiên hạ toàn người khôn, cơ sở nào cũng ra sức đẩy công suất lên, tích trữ hàng để cuối đông m, tức sau tết, đem ra bán. Hậu quả là giá sắt thép tháng 3/2018 bị giảm hơn 30% vì ai cũng đinh ninh rằng đến lúc đó sẽ lãi nhớn nên tích trữ sẵn lượng thép khủng.


    Còn về phần cầu có gì để hi vọng?

    Hiện chính sách BĐS của tàu vẫn chấp chới, nửa muốn kìm hãm cơn sốt BĐS để tránh bong bóng, nửa muốn đẩy nó lên để gỡ cục nợ xấu ngân hàng. Do đó về mặt nhu cầu từ BĐS thì chúng em chưa thấy có gì chắc chắn.


    Điều khả dĩ nhất là chính sách “một vành đai, một con đường” . Chính sách này sẽ giúp tiêu thụ được khá nhiều sản phẩm sắt thép. Bởi ở những quốc gia con đường đi qua, đa phần ngành sắt thép chưa phát triển tới mức dư thừa công suất.


    Tàu khựa đang dịch chuyển cơ cấu kinh tế, sẽ có hàng loạt cơ sở lọc hóa dầu, hóa khí than, điên tử …. Được triển khai. Đó là nguồn cầu nhớn. Còn về từng mặt hàng sắt xây dựng, thép cán nóng, thép hình …. Thì đi sâu quá nên em ko nhắc tới nữa. Thé nhưng có 1 điểm quan trọng : ngân hàng trung ương tàu vừa kích cầu khi giảm dự trữ bắt buộc. Tiền bơm ra thị trường khiến giới chức các tỉnh đang phải vật lộn để đè giá nhà xuống dù trong bụng họ thik điều đó. Với đà bơm tiền như thế, sóng BĐS chưa bên tàu chưa tắt ngay trong 2 năm, và ngành sắt thép hưởng lợi từ đó.


    Vì thế có một điều khá chắc chắn : năm nay ngành sắt thép tàu đang có lãi, do đó ngành sắt thép chúng ta sẽ có 2 năm 2018-2019 yên ổn. 2018 thì chắc rùi, còn 2019 cũng khá sáng lạn. Làm thế nào để nhìn thấy mây đen đang kéo tới với ngành sắt thép chúng ta? Hãy nhìn sang sàn thượng hải. Nếu giá sắt thép bên đó > 3600 CNY/ tấn, chúng ta còn ăn ngon ngủ kĩ. Một khí giá < 3600 CNY/ tấn, các cơ sở sắt thép tàu khựa lập tức lại nhấp nhổm tìm cách xuất khẩu sản phẩm đi đâu đó. Và nhờ ơn ai đó, Việt nam chúng ta sẽ trở thành cái bị để chứa đám rác rưởi dư thừa đó.


    Còn về các cty ngành sắt thép của chúng ta thì nhiều bác chém rùi, em ko muốn cầm đèn chạy trước ô tô nữa. Chỉ nhắc 1 điều : 1 doanh nghiệp sẽ dễ bị tổn thương nhất vào lúc nó vừa khánh thành cơ sở sản xuất của mình.
    Last edited: 16/05/2018
  10. vhc2007

    vhc2007 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    14/03/2009
    Đã được thích:
    1
    E ngóng bài của Bác mãi, hôm nay mới thấy Bác trở lại.
    cpn thích bài này.

Chia sẻ trang này