Vấn đề 3%

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by bodyguard05_vn, Jun 24, 2007.

196 người đang online, trong đó có 78 thành viên. 04:27 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. bodyguard05_vn

    bodyguard05_vn Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Apr 17, 2006
    Likes Received:
    0
    Vấn đề 3%

    Khống chế cho vay đầu tư chứng khoán: Một liều thuốc mạnh cho bệnh... cảm xoàng
    22:26:00, 23/06/2007
    Nguyên Hằng
    Ông Vũ Thành Tự Anh

    Đó là nhận định của ông Vũ Thành Tự Anh, Phó giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright khi trả lời phỏng vấn của Thanh Niên về quy định khống chế tỷ lệ cho vay đầu tư kinh doanh và cầm cố chứng khoán của các NH ở mức dưới 3% tổng dư nợ của Ngân hàng Nhà nước VN (NHNN).

    * Dư luận vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về mức khống chế cho vay đầu tư chứng khoán 3% đối với các NH, xin ông cho biết quan điểm về vấn đề này?

    - Điều đầu tiên phải khẳng định là việc kiểm soát dư nợ tín dụng đối với các hoạt động cho vay chứng khoán là cần thiết. Thị trường chứng khoán (TTCK) phát triển nhanh trong mối quan hệ liên thông với các thị trường tín dụng và nhà đất... Sự biến động của TTCK có thể có tác động lớn và trực tiếp đến các thị trường còn lại. Nếu có rủi ro ở TTCK thì có thể ngân hàng (NH) và thị trường đất đai cũng bị ảnh hưởng, và khi ảnh hưởng đủ lớn thì có thể gây nên khủng hoảng cho nền kinh tế. Cộng thêm vào bối cảnh đó là lo ngại của Nhà nước về lạm phát. 6 tháng đầu năm, mức độ lạm phát cao hơn nhiều so với dự đoán. Nếu tình trạng này cứ tiếp tục thì đến cuối năm sẽ không đạt được mục tiêu lạm phát đã đặt ra. Từ những yếu tố đó, việc NHNN đưa ra một biện pháp nào đó là cần thiết.

    * Một biện pháp can thiệp thích hợp là cần thiết, thế nhưng quy định khống chế nói trên lại không được nhiều người đồng tình?

    - Cái mà người ta không đồng ý, theo tôi là cách làm của NHNN. Rất khó để luận giải về cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn để đưa ra con số 3% này. Nhưng điều này cũng chưa quan trọng bằng mục đích của bản thân việc điều tiết. Rõ ràng, mục đích của hoạt động điều tiết là đảm bảo an toàn cho hệ thống NH. Để làm việc này, NHNN đã có sẵn công cụ. Theo tôi hiểu, các NH VN đang áp dụng tiêu chuẩn Basel 1 (tiêu chuẩn về hệ số đủ vốn của các NH), trong khi các nước tiên tiến đang áp dụng tiêu chuẩn Basel 2. Chính trên cơ sở hệ số đủ vốn này mà các NH sẽ quyết định xem khoản tiền cho vay chứng khoán của mình là bao nhiêu. Đứng dưới góc độ quản lý của Nhà nước, điều nên làm là quy định hệ số rủi ro cho các khoản cho vay đầu tư chứng khoán. Từ đó, từng NH sẽ phải tính xem mình được phép cho vay chứng khoán bao nhiêu phần trăm trên tổng dư nợ. Hay nói cách khác, phải giải bài toán ngược xuất phát từ tính ổn định và bền vững của hệ thống NH. Sau đó căn cứ vào công cụ đã có là Basel để quy định trọng số rủi ro cho vay đầu tư chứng khoán. Nếu thấy quá rủi ro thì tăng trọng số rủi ro lên và ngược lại. Như vậy, NHNN sẽ không can thiệp quá thô bạo vào hoạt động của các NH mà vẫn đạt được mục đích đảm bảo được an toàn cho hệ thống NH.

    * Đơn giản vậy nhưng theo ông, vì sao NHNN VN không thực hiện theo cách này?

    - Theo tôi là do hệ thống thông tin quá kém. NHNN không kiểm soát được mức độ an toàn vốn của các tổ chức tín dụng nên đành phải dùng biện pháp rất hành chính như vậy. Sử dụng các biện pháp hành chính thì dễ cho NHNN nhưng làm khó cho các NH thương mại, làm khó cho nền kinh tế vì can thiệp quá sâu vào hoạt động nội bộ và trói chân trói tay, làm cho các NH mất đi sự linh hoạt của mình. Có thể nói, NHNN đã sử dụng một liều thuốc mạnh cho bệnh cảm xoàng.

    * Các NH đang cho vay cầm cố chứng khoán với mức định giá cho vay chỉ khoảng 30 - 40% giá thị trường. Có ý kiến cho rằng, TTCK có giảm xuống 1/2 so với hiện nay thì các NH vẫn an toàn. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

    - Như tôi đã nói trên, mục đích cuối cùng là an toàn. Vì vậy, nên quy định tỷ lệ là bao nhiêu. Ở đây có 2 sự lựa chọn. Thứ nhất, giải bài toán ngược. Với cơ cấu dư nợ như thế này, với cách các NH thương mại cho vay như thế này thì đến hiện nay là bao nhiêu phần trăm? Ở từng đó phần trăm thì mức độ rủi ro như thế nào? Mỗi NH sẽ so sánh với tiêu chuẩn Basel. Nếu quy định là 3% mà vẫn đạt được tiêu chuẩn Basel thì hiển nhiên có thể nới rộng ra tới 5%, 7%... miễn là đạt được tiêu chuẩn Basel. Cách thứ hai là thay đổi trọng số rủi ro trong hoạt động cho vay chứng khoán. Nếu thấy thời điểm này thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro thì tăng trọng số rủi ro lên. Làm như vậy, NH sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong việc lựa chọn danh mục cho vay của mình, tức là nếu đã cho vay một số khoản với hệ số rủi ro cao thì phải bớt cho vay cái khác. Chứ làm như NHNN là chỉ cho các NH đi một cửa duy nhất. Đưa ra mức trần là 3%, tự dưng trói các NH trong hoạt động kinh doanh cho vay đầu tư chứng khoán mà vẫn không tác động được với khu vực còn lại và không biết chắc là mức độ an toàn của toàn hệ thống như thế nào. Như vậy, NHNN VN vẫn nắm đằng lưỡi chứ không phải nắm đằng chuôi.

    * Các biện pháp can thiệp hành chính kiểu như vậy sẽ gây ảnh hưởng như thế nào đối với sự phát triển kinh tế nói chung, thưa ông?

    - Một trong những yêu cầu rất quan trọng khi chúng ta gia nhập WTO là giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế. Đây cũng là yêu cầu nội tại của nền kinh tế. Tức là tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định, có khả năng dự đoán được và minh bạch. Nếu không có khả năng dự đoán được các dự lệnh của Nhà nước hoặc các dự lệnh đưa ra quá ngắn như kiểu 15 ngày (15 ngày có hiệu lực sau khi đăng công báo) sẽ khiến các doanh nghiệp (DN) không thích nghi được với điều kiện, quy định, cơ chế mới. Đứng từ góc độ quản lý vĩ mô, sẽ làm cho môi trường không ổn định. Đứng từ góc độ của những người chịu tác động trực tiếp là các ngân hàng, các DN... sẽ hết sức bị động và khó thích nghi. Chúng ta hay nói VN không có DN lớn. Nhưng lớn làm sao được nếu anh chỉ có tầm nhìn một vài năm và luôn trong trạng thái phải đối mặt với những thay đổi đột ngột, không được báo trước trong môi trường kinh doanh. Theo tôi, Nhà nước phải thay đổi cách thức can thiệp vào nền kinh tế. Có thể can thiệp bằng các công cụ điều tiết nhưng khi thực hiện chức năng đó cũng phải biết được sẽ gây ra điều gì, các DN sẽ phản ứng như thế nào... Tức là các cơ quan nhà nước phải phân tích và cân nhắc chi phí kinh tế - xã hội của từng chính sách, chứ không chỉ ra chính sách dựa vào cảm tính hay sự thuận tiện của mình.

    * Xin cảm ơn ông.
    http://www.thanhnien.com.vn//Kinhte/2007/6/23/198107.tno
  2. numieu

    numieu Thành viên quen thuộc

    Joined:
    May 30, 2006
    Likes Received:
    0
    Các bác yên tâm đi , vấn đề này lại bị delay rồi không thực hiện bây giờ đâu.
  3. mitanomini

    mitanomini Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Feb 24, 2006
    Likes Received:
    0
    Hai tuần trước đây, Mr. Huỳnh Thế Du (cũng khoe là giảng viên của chương trình giảng dạy kinh tế Fulbrright) lên TBKTSG chỉ trích chỉ thị 03 của ngân hàng nhà nước, với những lý do tương tự như Mr. Tuấn Anh vừa nói (đại để là Ngân hàng nhà nước quay lại áp đặt mệnh lện hành chính, rồi là các cổ đông ngân hàng sẽ có biện pháp để tự bảo vệ ngân hàng trước các rủi ro), có chăng Mr. Tuấn Anh lại chòng thêm chữ tiêu chuẩn Basel vào thôi.

    Về vấn đề Chỉ thị 03 này, tuần vừa rồi Thống đốc ngân hàng nước đã có trả lời cụ thể báo chí, thiết nghĩ những ai có một cái đầu tỉnh táo và suy nghĩ chín chắn đều thấy lý do và sự cần thiết cho ra đời chỉ thị này là hợp lý và cách thực hiện của nó cũng là hợp lý. Tuy nhiên vẫn có những người như Mr. Tuấn Anh và Mr. Du đưa ra ý kiến với những lý do thọc gậy bánh xe như trên thì quả thật không thể im lặng được.
    Thứ nhất, từ trước đến nay nước ngoài vẫn chỉ trích ngân hàng nhà nước can thiệp thô bạo bằng hành chính là việc ngân hàng nhà nước ra những chỉ chị cụ thể cho từng ngân hàng thương mại ''thường là ngân hàng quốc doanh) là phải cho cty A, B, C (thường là các doanh nghiệp nhà nước) vay mà ko cần biết đến liệu có khả năng thu hồi vốn vay ko? Còn việc ban hành một hạn mức tín dụng như chỉ thị 03 là một cách làm thông dụng của các ngân hàng trung ương trên thế giới, đó là đưa ra một hệ số an toàn tính toán trên tổng thể cả nền kinh tế, và các ngân hàng có quyền tự chủ, tự xoay sở trong phạm vi hạn mức chung đó. Vì vậy đã có nhiều kẻ cố tình đánh lận con đen trong vấn đề đánh đồng chỉ thị 03 với cơ chế can thiệp thô bạo bằng hành chính vào kinh doanh của các ngân hàng trwưóc đây.
    Thứ hai, nếu chỉ thị 03 được coi là biện pháp hành chính can thiệp thô bạo như Mr. Anh và Mr. Du và nhiều người khác nói, thì có lẽ ta phải tự hỏi là không hiểu hai ông trên không biết hay vờ như cố tình không biết mốt sự thật rằng Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (FRB), Cơ quan kiểm soát về tiền tệ của Mỹ (OCC) ... có các hưóng dẫn và qui định cụ thể đến mức như thế nào đối với các ngân hàng và các tổ chức tín dụng của Mỹ. Nếu nói như hai ông thì các cơ quan quản lý của Mỹ còn can thiệp thô bạo và kinh khủng bằng biện pháp hành chính hơn Ngân hàng Nhà nước Việt nam nhiều.
    Thứ ba, hai ông này nói đến khả năng tự bảo vệ trước rủi ro của từng ngân hàng thương mại, Hình như hai ông này cũng cố tình quên hay giả vờ như không biết về sự khác biệt giữa một công ty thông thường và một ngân hàng như thế nào, về tính liên thông của toàn bộ hệ thống tín dụng mà trong đó sự đổ vỡ một ngân hàng sẽ đổ vỡ toàn bộ hệ thống. Ý nghĩa của sự khác biệt này thế giới đã biết đến từ đầu thế kỷ 20 nhưng nó ko bao bao giờ cũ cả, chỉ cần sao lãng một chút là cái giá phải trả sẽ rất đắt, kể cả việc phát hiện ra và sửa chữ kịp thời thì chi phí bỏ ra cung ko nhỏ. Mặt khác, các cổ đông là chủ sở hữu của ngân hàng, nhưng ngân hàng lại hoạt động chủ yếu bằng tiền gửi của công chúng dước các dạng tiết kiệm hoặc tiền gửi vãng lai. Nếu mộ ngân hàng phá sản, thì số tiền mà cổ đông mất là nhỏ, số tiền mà công chúng gửi ở ngân hàng đó lớn đên nhường nào và ai sẽ chi trả số tiền đó cho công chúng? Tất nhiên là các cổ đông sẽ không chi trả vì ngân hàng cổ phần là một loại hình cty chịu trách nhiệm hữu hạn (thực ra về vấn đề này, đầu thế kỷ 20 ở Mỹ cũng đã từng có qui định là buộc các cổ đông ngân hàng phải bồi thường toàn bộ tiền gửi cho công chúng nếu ngân hàng đó phá sản). Chính vì vậy mà ngân hàng nhà nước mới cần lập ra để thay mặt công chúng bảo đảm quyền lợi của công chúng - những người có tiền gửi tại các ngân hàng thương mại. Việc VIETCOMBANK phải ôm ngân hàng cổ phần Châu á Thái Bình Dương nửa cuối nững năm 1990 vẫn còn sờ sờ ra đó.

    Thứ tư, Mr. Tuấn Anh đưa ra tiêu chuẩn Basel. Nhưng vấn đề ở chỗ là tiêu chuẩn Basel cũng không cấm áp dụng các hạn mức như Chỉ Thị 03. Nếu tất cả các ngân hàng thương mại đều tuân thủ và hiểu đúng Basel thì đó là quá lý tưởng. Nhưng thực tế đó lại là điều ko thể. Nước Mỹ - nơi đẻ ra tiêu chuẩn này đã thừa nhận điều đó. Sự sụp đổ cảu một loạt các ngân hàng và quĩ tín dụng của Mỹ vào nửa đầu những năm 1980 và cái giá phải trả là một chi phí khổng lồ và sự khủng hoảng của nền kinh tế vẫn là bài học được nhắc lại hàng ngày trong các bài giảng về ngân hàng tại Mỹ hiện nay.

    Cuối cùng, Mr. Tuấn Anh chê là hệ thống thu thập thông tin của ngâ hàng nhà nước quá kém. Chê thì dễ thôi. Nhưng nếu chê mà ko xuất phát từ thực tế thì người chê sẽ trở thành kẻ tiểu nhân đấy. Ngân hàng nhà nước VN hiện nay vẫn chưa có được tính độc lập cao như các ngân hàng trung ương của Đức, Nhật, hay các cơ quan quản lý ngân hàng của Mỹ, lại bị sự o ép, thọc gậy bánh xe thường xuyên của Bộ tài chính, vì vậy mà quyền hạn thu thập thông tin cũng hạn chế rất nhiều, việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cũng bị hạn chế do phụ thuộc trong phạm vi ngân sách nhà nước (bị Bộ Tài chính o ép). Tính độc lập của các ngân hàng trung ương của Mỹ, Nhật, Đức, ... còn thể hiện ỏ chỗ các nhân viên của ngân hàng dù là công chức đó có chễ độ đãi ngộ đặc biệt riêng và lương và chi phí, cao hơn rất nhiều so với mức lương mà các công chưckhác nhận đươc. Còn ở VN, nhân viên của ngân hàng nhà nước,những người bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng lại hưởng một mức lương cực kỳ bèo bọt. Với tình hình hiện nay như vậy mà Mr. Tuấn Anh kỳ vọng rằng các ngân hàng thương mại sẽ tuân thủ theo Basel và ngân hàng nhà nước sẽ bảo đảm kịp thời việc tuân thủ đó thì quả là một điều ko tưởng.

    Cuối cùng là cá cơ quan tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới hay Quỹ Tiền tệ quốc tế cũng chẳng phản đối mà xem ra lại đồng tình với Ngân hàng Nhà nước về Chỉ thị 03. Mà chính những cơ quan này trước đây lại chỉ trách ngân hàng nhà nước về lối can thiệp thô bạo về hành chính. Hoá ra chỉ mấy ông của chương trình giảng dạy Fulbright là đúng à, còn mấy ông bà Mỹ làm việc ở các tổ chức quốc tế này cũng đều là laọi chẳng biết gì cả sao?

    Thiết nghĩ cũng chẳng bình luận thêm về những ý kiến ko đồng tình với chỉ thị 03 nưa. Tuy nhiên, điều lo lắng ở đây là tại sao những người có kiến thức như hai vị trên lại cố tình đánh lận con đen, chọc gậy bánh xe như vậy. Ai là người đứng đằng sau những vị này, liệu đồng tiền nó có sức mạnh để bẻ cong ngòi bút và ý chí của kẻ sĩ đến mức đấy ư?
  4. lazy2008

    lazy2008 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 26, 2007
    Likes Received:
    6
    em nói rồi mà đang họp sẽ sửa lại chứ ko thông qua đâu.
    chỉ tại máy thằng nhà báo lắm mồm cứ thích lắm chuyện!
  5. Vu2006

    Vu2006 Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Sep 16, 2006
    Likes Received:
    0
    Bác này chắc là đệ tử hoặc người nhà của...NHNN. Đã đọc rất kỹ bài của bác nhưng chỉ cảm thấy một điều: Đxx đồng ý với bác. Nếu NHNN cứ luôn nghĩ theo cách của bác: Bào chữa, biện hộ, đxx quản lý được thì cấm. Vậy thì ra nhập WTO làm gì? Còn lâu mới khá được. Lối xuy nghĩ này ngày trước còn có cơ sống. Bây giờ gặp bác Dũng và bác Triết thì chỉ có nước về vườn thôi, hãy đợi xem.
  6. dat7up

    dat7up Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Dec 3, 2004
    Likes Received:
    0
    thôi các bác ơi, tranh luận 3% vui đến đây thôi, cái này cứ để các NHTM họ sẽ có ý kiến mà...
    nhưng với 03 iem lại thấy có cơ hội làm ăn đấy:
    - Ý tưởng: thị trường có cầu về thé chấp cổ phiếu vay vốn để kinh doanh chứng khoán -> cung đang bị thắt lại => Box chúng ta lập ra 1 công ty cổ phần vốn khoảng 1000 tỉ cung cấp dịch vụ này
  7. anthonykhang

    anthonykhang Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Sep 14, 2005
    Likes Received:
    0
    Mr. Huỳnh Thế Du, Mr. Châu Văn Thành và Mr. Vũ Thành Tự Anh là 3 người đứng đầu chương trình fulbright, và là những người uyên bác đấy ạ.

    Theo tớ thì bác Tự Anh nói đúng đấy.

    vào www.fetp.edu.vn mà tìm hiểu thêm nhé.



    Được anthonykhang sửa chữa / chuyển vào 11:22 ngày 24/06/2007
  8. hoang_english

    hoang_english Thành viên mới

    Joined:
    Aug 23, 2004
    Likes Received:
    0
    "Thôi các bác ơi, tranh luận 3% vui đến đây thôi, cái này cứ để các NHTM họ sẽ có ý kiến mà...
    "
    Việtt nam lách luật giỏi lắm mừ, các bác cứ phải lo nghĩ làm gì. K0 cấm cho vay = tín chấp. Các bác làm gì để cho 1 đơn vị trung gian tin các bác , đơn vị trung gian .................... với Ngân hàng.
    Sắp có lối ra rùi, các bác cứ chờ đi mà.
  9. thamanito

    thamanito Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    May 17, 2007
    Likes Received:
    5

    em thì thấy bác mít.à.nómini lập lờ đánh lận còn hay hơn nhiều đấy, nếu không thì bác trả lời giúp cái đoạn đỏ đỏ tim tím ở trên đi !!!
    (nếu không thì mọi người có quyền hỏi "Ai là người đứng đằng sau bác ?, liệu đồng tiền nó có sức mạnh để bẻ cong ngòi bút và ý chí của bác đến mức đấy ư?)

    mấu chốt của vấn đề là tại sao là 3% bác ạ
  10. anthonykhang

    anthonykhang Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Sep 14, 2005
    Likes Received:
    0
    tại thích. làm việc võ đoán thế mới cãi nhau chứ.

Share This Page