BID - Tin khủng!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi dongtay79, 04/04/2017.

1488 người đang online, trong đó có 595 thành viên. 20:20 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 23147 lượt đọc và 159 bài trả lời
  1. phoenix6688

    phoenix6688 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    30/09/2013
    Đã được thích:
    1.938
    Hôm nay ai múc được bId chúc mừng nhé. Từ mai có ăn rồi
    Vnindex860 thích bài này.
    Vnindex860 đã loan bài này
  2. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    http://ndh.vn/thong-mach-tai-co-cau-ngan-hang-cho-de-nhan--20170411081137834p4c149.news

    • 20:25 Thứ ba, 11/04/2017
    Thông mạch tái cơ cấu ngân hàng: Cho để nhận?

    Những ngày này Ngân hàng Nhà nước đang gấp rút hoàn thiện dự thảo Luật hỗ trợ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, để trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp tháng 5 gần kề.

    Trong khuôn khổ xây dựng dự thảo này, mức độ thực tế hơn của nợ xấu được công bố, vượt xa “con số đẹp” dưới 3% theo báo cáo của các tổ chức tín dụng thời gian qua.

    Mức độ tắc nghẽn lớn

    Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính đến 31/12/2016, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ xấu do Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) quản lý và nợ tiềm ẩn thành nợ xấu có khả năng lên đến 8,86% tổng dư nợ.

    Tính theo tổng dư nợ 5,5 triệu tỷ đồng của toàn hệ thống đến 31/12/2016, quy mô nói trên lên tới 487.000 tỷ đồng.

    Có một điểm được chú ý, “nợ tiềm ẩn thành nợ xấu” được xác định như thế nào, ở đâu vẫn là câu hỏi để ngỏ.

    [​IMG]

    Nhìn sang một thực tế liên quan, được Uỷ ban Giám sát tài chính Quốc gia nhiều lần cảnh báo: lãi dự thu của hệ thống các tổ chức tín dụng liên tục tăng, có sự bất hợp lý ở một số tổ chức tín dụng yếu kém và có vấn đề. Cảnh báo này cũng khớp với dữ liệu tập hợp báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại, quy mô lãi dự thu liên tục tăng nhanh và ở mức cao từ năm 2012 đến 2016.

    Theo số liệu của Uỷ ban Giám sát tài chính Quốc gia, trong năm 2016, lãi dự thu của toàn hệ thống tăng khoảng 19% so với cuối 2015; tỷ lệ lãi dự thu trên tổng dư nợ là 2,9%, tính ra vào khoảng 160.000 tỷ đồng.

    Bên cạnh nợ xấu, quy mô lớn của lãi dự thu này cũng được cảnh báo tiềm ẩn nợ xấu trong đó.

    Hiểu một cách hình ảnh, lãi dự thu là năng suất được tính cho mỗi ha ruộng. Thế nhưng, nhiều thửa ruộng hạn hán mất mùa năm này qua năm khác mà chủ ruộng vẫn hạch toán lượng năng suất đó vào phần sẽ gặt về.

    Áp lực đặt ra, hệ thống ngân hàng Việt Nam từng bước tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, minh bạch hơn, tiêu chuẩn an toàn cao hơn… Thực tế, từ 2012 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã lần lượt ban hành các khung pháp lý chặt chẽ hơn trong xác định và ứng xử với nợ xấu. Rủi ro tiềm ẩn trong lãi dự thu đứng trước yêu cầu phải nhận diện rõ, đi cùng là ứng xử với chúng.

    Ứng xử như thế nào? Các tổ chức tín dụng phải đánh giá đúng và thực hiện thoái lãi dự thu. Điều đó có nghĩa sẽ đứng trước áp lực phải ghi nhận chính xác nợ xấu tiềm ẩn trong đó. Ghi nhận thì phải trích lập dự phòng. Trích lập thì phải có nguồn. Có nguồn thì phải hy sinh lợi nhuận. Lợi nhuận đến từ lãi suất cho vay là chính. Đến đây, thêm phần lý giải vì sao lãi suất cho vay khó giảm thêm, nền kinh tế vẫn đang phải trả phí để nuôi nguồn vốn tắc nghẽn chưa thông được đó.

    Chưa dừng lại, nếu thực hiện thoái lãi dự thu, không loại trừ sẽ có thêm những ngân hàng không đủ sức ghi nhận áp lực trên, dẫn tới các tỷ lệ, giới hạn an toàn trong hoạt động không đảm bảo. Vòng quay huy động cho được vốn mới để trả cho vốn cũ ra đi không về càng tạo áp lực lên lãi suất…

    Cộng hưởng cả vấn đề nợ xấu và áp lực thoái lãi dự thu nói trên, quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng vẫn còn điểm nghẽn lớn sau gần 6 năm triển khai.

    Tháo gỡ bằng cơ chế?

    Theo mục tiêu đã định, quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và xử lý nợ xấu đến 2020 phải đạt kết quả căn bản và thực chất. Thế nhưng, sau 6 năm tái cơ cấu, còn hơn 3 năm nữa là đến điểm hẹn trên, cơ chế pháp lý hỗ trợ tái cơ cấu và xử lý nợ xấu vẫn loay hoay, chưa định. Bằng chứng là mãi cho đến thời điểm này dự thảo luật nói trên mới được đặt ra một cách chính thức.

    Như VnEconomy đề cập ở bài viết giới thiệu vừa qua, dự thảo trên đưa ra các điểm cơ chế để góp phần tháo gỡ nhanh các điểm nghẽn, nổi bật là điểm nghẽn nợ xấu và thoái lãi dự thu nói trên.

    Đó là cơ chế các tổ chức tín dụng yếu kém được Chính phủ cho vay hỗ trợ nguồn vốn dài hạn với lãi suất thấp, được vay vốn đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước, được thoái dần các khoản phải thu theo lộ trình, được miễn hoặc giảm dự trữ bắt buộc… Những cơ chế này cần sớm xem xét để hỗ trợ và thúc đẩy quá trình tái cơ cấu (trước thực tế một số tổ chức tín dụng yếu kém càng hoạt động càng lún sâu vào khó khăn).

    Tuy nhiên, có quan điểm phản biện, như từng nổi bật và điển hình trong lựa chọn hoãn, lùi thời điểm áp dụng Thông tư 02 về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro những năm trước. Đó là Việt Nam vẫn chưa chuẩn mực được khung hoạt động công bằng, bình đẳng và chuyên nghiệp; trên một thị trường vẫn có những nhóm áp các cơ chế khác nhau, thậm chí là đan xen cơ chế “ưu ái”.

    Ngược lại, khi trao đổi với VnEconomy về quan điểm trên, một thành viên tham gia xây dựng dự thảo luật nói trên cho rằng: giữa mong muốn và thực tế thường có khác biệt.

    Thực tế là, hiện nay, nếu thực hiện phân loại nợ sằng phẳng, bắt thoái lãi dự thu một cách lạnh lùng, trích lập dự phòng liên quan đầy đủ…, thì chắc chắn nhiều tổ chức tín dụng yếu kém không thể đáp ứng nổi, thậm chí càng sa lầy vào khó khăn hơn nữa.

    “Nếu bắt buộc họ thực hiện một cách đầy đủ, họ cũng không thể có nguồn để thực hiện. Nhưng nếu có hỗ trợ về cơ chế, tạo điều kiện để họ từng bước đáp ứng, tìm hướng phục hồi và khoẻ lên. Ở đây có thể nói là cho đi để nhận lại, hỗ trợ bằng cơ chế, họ sẽ trở lại đóng góp cho ngân sách và phục vụ nền kinh tế”, thành viên trên nêu quan điểm, cũng như lưu ý Ngân hàng Nhà nước sẽ giám sát chặt chẽ việc chia cổ tức, lương thưởng của các ngân hàng, đặc biệt là những trường hợp yếu kém hoặc có vấn đề, cho đến khi họ thực sự khoẻ hẳn và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách.

    Trong trường hợp không có cơ chế hỗ trợ, chắc chắn sẽ có những trường hợp đổ vỡ hoặc sa lầy thêm, mà trong đó có cả tình huống thuộc sở hữu và trách nhiệm Nhà nước đã nhận về; hoặc như không có cơ chế thông điểm nghẽn nợ xấu và lãi dự thu nói trên, quá trình tái cơ cấu khó đẩy nhanh, chi phí của nền kinh tế qua lãi suất càng khó giảm.
  3. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Xếp hạn không thấy đánh giá BID chắc do nợ xấu cao hơn các bank khác, hix!

    • 17:33 Thứ ba, 11/04/2017
    Fitch Ratings giữ nguyên triển vọng ổn định của 5 ngân hàng lớn Việt Nam

    Trong đó, Agribank, VietinBank, Vietcombank tiếp tục được Fitch Ratings xếp hạng B+; ACB, MBBank được xếp hạng B.

    Tổ chức Xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings mới đây công bố bậc xếp hạng nhà phát hành dài hạn (Long-term Issuer Default Ratings - IDR) đối với 5 ngân hàng lớn của Việt Nam tính đến 30/3/2017. So với kết quả công bố hồi tháng 4 năm ngoái thì các bậc xếp hạng không có sự thay đổi.

    Kết quả của Fitch cho thấy, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Agribank, Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP) Công Thương Việt Nam – VietinBank, Ngân hàng TMCP Ngoại thương – Vietcombank được xếp hạng B+. Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Á Châu – ACB và Ngân hàng TMCP Quân đội – MBBank xếp hạng B.

    [​IMG]

    Theo đánh giá của Fitch, triển vọng của 5 ngân hàng đều ổn định và tiếp tục nhận được sự hỗ trợ từ tăng trưởng kinh tế. Áp lực về chất lượng tài sản và nguồn vốn từ tăng trưởng tín dụng sẽ được bù đắp từ điều kiện hoạt động, thu nhập lãi và nguồn vốn theo chu kỳ.

    Agribank, VietinBank và Vietcombank nằm trong top 4 ngân hàng đứng đầu về quy mô tài sản và thương hiệu ở Việt Nam. Phản ánh B+ của Fitch về IDR dài hạn của ba nhà băng này xét trên vai trò quan trọng đối với hệ thống và có sự hỗ trợ của chính phủ.

    So với mức xếp hạng quốc gia Việt Nam là BB-/ổn định thì xếp hạng của các ngân hàng thấp hơn một bậc khi ở mức B+. Fitch tin tưởng quy mô lớn của ngành ngân hàng so với GDP và năng lực tài chính của Chính phủ có thể hạn chế sự hỗ trợ.

    Xếp hạng về Sức mạnh độc lập (Viabiliy Rating - VR) của Vietinbank và Vietcombank ở mức “b-” phản ánh những hạn chế trong bảng cân đối kế toán liên quan đến quy mô tài sản có vấn đề, hiệu quả hoạt động tài chính yếu và rủi ro tập trung vốn cao, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Xếp hạng VR cũng kết hợp thương hiệu mạnh trong nước của các ngân hàng này, gồm tập trung cho vay thương mại và doanh nghiệp, hồ sơ tài chính ổn định.

    Fitch tin rằng VietinBank và Vietcombank có lợi thế hơn các ngân hàng tư nhân trong những thời điểm căng thẳng, vì người gửi tiền an tâm hơn trong ngân hàng quốc doanh. Tỷ lệ cho vay/tiền gửi của Vietinbank và Vietcombank lần lượt là 103% và 80% vào cuối tháng 6/2016.

    Fitch không đưa ra đánh giá sức mạnh độc lập của Agribank do đặc thù Nhà nước sở hữu. Agribank có vai trò lớn đối với nền kinh tế, điều này có thể giúp Ngân hàng hưởng lợi từ sự hỗ trợ về mặt pháp lý.

    Đối với IDR dài hạn của ACB và MBBank được xếp hạng sức mạnh độc lập ở “b”, phản ánh thương hiệu nhỏ nhưng chất lượng khoản vay tốt hơn so với các ngân hàng quốc doanh và hồ sơ tín dụng ổn định.

    Theo Fitch, chất lượng khoản vay của ACB có thể sẽ tốt hơn so với hầu hết ngân hàng khác, vì rủi ro tập trung vốn vay thấp hơn nhiều đối với các DNNN nhỏ; chiếm 1,1% tổng dư nợ vào cuối năm 2016. Tỷ lệ nợ xấu là 0,9% vào cuối năm 2016 (năm 2015 là 1,3%).

    Xếp hạng B đối với MBBank phản ánh thương hiệu của một trong những ngân hàng tư nhân lớn nhất Việt Nam. Fitch kỳ vọng MBBank sẽ tiếp tục tạo ra lợi nhuận cao hơn so với các đơn vị cùng ngành. Fitch ước tính tăng trưởng vốn hóa của MBBank đạt 13,4% vào cuối tháng 9 /2016, vượt qua phần lớn các ngân hàng trong nước. Đánh giá của Fitch cũng thể hiện hồ sơ thanh khoản đầy đủ của ngân hàng, tỷ lệ cho vay/huy động là 73% vào cuối tháng 6/2016.

    Những nhận định trên cho thấy quan điểm của Fitch về kết quả hoạt động của ngành ngân hàng sẽ vẫn ổn định với sự hỗ trợ mạnh mẽ từ tăng trưởng kinh tế. Fitch cũng lưu ý, tăng trưởng tín dụng nhanh gây sức ép lên chất lượng tài sản và nguồn vốn. Tuy nhiên Fitch kỳ vọng lợi nhuận ngân hàng sẽ tiếp tục tăng nhờ vào tăng trưởng các khoản cho vay bán lẻ có tỷ suất lợi nhuận cao. Ngoài ra, điều kiện hoạt động tốt, thu nhập giữ lại và nguồn vốn định kỳ cũng hỗ trợ.



    Danh sách đánh giá của Fitch tính đến 30/3/2017 như sau:

    Agribank: IDR dài hạn ở B+/Triển vọng ổn định; IDR ngắn hạn ở B.

    VietinBank: IDR dài hạn ở B+/Triển vọng ổn định; IDR ngắn hạn ở B; Sức mạnh độc lập tại b-.

    Vietcombank: IDR dài hạn ở B+/Triển vọng ổn định; IDR ngắn hạn ở B; Sức mạnh độc lập tại b-.

    MBBank: IDR dài hạn ở B/Triển vọng ổn định; IDR ngắn hạn ở B; Sức mạnh độc lập tại b.

    ACB: IDR dài hạn ở B/Triển vọng ổn định; IDR ngắn hạn ở B; Sức mạnh độc lập tại b.
  4. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    16:18 - Thứ Ba, 11/4/2017Print
    Phía sau điệp khúc cổ tức ngân hàng bằng cổ phiếu
    Nhiều ngân hàng triền miên trả cổ tức bằng cổ phiếu, vì quá hụt hơi sau tăng trưởng...
    MINH ĐỨC
    Các ngân hàng thương mại cổ phần đang bước vào mùa đại hội đồng cổ đông thường niên. Các kế hoạch chi trả cổ tức đã thông qua, dự kiến trình phần lớn đều tiếp tục tranh thủ nguồn lực của cổ đông, qua trả bằng cổ phiếu.

    Mỗi ngân hàng có các giải trình cụ thể, chung quy đều nhằm gia tăng nguồn lực tài chính, tăng vốn điều lệ để đáp ứng yêu cầu kinh doanh, bảo đảm an toàn hoạt động. Vậy yêu cầu này tổng thể như thế nào?

    Trên bình diện toàn hệ thống, tăng vốn điều lệ là yêu cầu bắt buộc đối với các thành viên. Những đôi chân trở nên nhỏ đi, không củng cố tương ứng để đỡ những cơ thể lớn lên với tốc độ nhanh hơn nhiều.

    Tập hợp dữ liệu của toàn hệ thống trong vòng 5 năm trở lại đây cho thấy, một mặt các ngân hàng thương mại đã nỗ lực nhưng khó khăn trong tăng vốn điều lệ và buộc phải tranh thủ nguồn lực cổ đông; mặt khác, yêu cầu cạnh tranh và phát triển, có yếu tố khách quan từ đặc điểm nhu cầu của nền kinh tế, khiến năng lực vốn điều lệ hụt hơi nhanh chóng.

    Nhìn lại cả quá trình, trong 5 năm qua (2012 - 2016), quy mô tổng tài sản của hệ thống đã mở rộng nhanh chóng, từ 5,085 triệu tỷ đồng cuối 2012 lên 8,503 triệu tỷ đồng cuối 2016, tương ứng với tốc độ tăng trưởng tới 67,2%.

    Trong khi đó, cùng mốc so sánh, tổng quy mô vốn điều lệ chỉ tăng được từ 392.152 tỷ đồng lên 488.424 tỷ đồng, chỉ tăng được 24,52%. Tốc độ tăng trưởng quy mô vốn điều lệ toàn hệ thống đã hụt hơi rất nhiều so với quy mô tăng tổng tài sản.

    Sự hụt hơi trên dẫn tới thực tế, thậm chí là cảnh báo cục bộ ở một số khối ngân hàng thương mại: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) suy giảm, đáng cảnh báo ở khối ngân hàng thương mại nhà nước.

    Cụ thể, cuối 2012, CAR bình quân toàn hệ thống ở mức 13,75%, đến cuối 2016 giảm xuống còn 12,84%. Dù giảm không mạnh nhưng tách theo từng khối cho thấy mức độ ảnh hưởng của sự hụt hơi trên: cùng mốc so sánh, khối ngân hàng thương mại nhà nước giảm từ 10,28% xuống còn 9,92%, mà trong đó một phần vừa được kê lên từ vay mượn lượng lớn trái phiếu dài hạn; của khối ngân hàng thương mại cổ phần giảm từ 14,01% xuống còn 11,08%.

    Những so sánh và dữ liệu trên mang tính tương đối, do việc thống kê có phần khác biệt khi nảy sinh “ngân hàng 0 đồng”, hoặc chưa tính những trường hợp âm vốn điều lệ những năm gần đây. Mặt khác, một số tham chiếu để tính CAR hiện nay so với trước đây có thay đổi nhất định theo các khuôn khổ chuẩn mực mới của Ngân hàng Nhà nước, hoặc qua các thời kỳ.

    Dù vậy, sự hụt hơi của vốn điều lệ so với quy mô hoạt động, tổng tài sản của toàn hệ thống đã và đang là áp lực chính, góp phần dẫn tới điệp khúc cổ tức ngân hàng bằng cổ phiếu những năm qua và hiện nay.

    Trong đó, có một yếu tố khách quan. Đặc điểm nguồn vốn cho phát triển kinh tế Việt Nam là dựa quá nhiều vào hệ thống các tổ chức tín dụng. Và quy mô tín dụng cũng mở rộng nhanh hơn nhiều so với quy mô tăng vốn của các nhà băng khi nhìn lại 5 năm qua.

    Cụ thể, từ năm 2012 đến 2016, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đã mở rộng từ 3,09 triệu tỷ đồng lên tới 5,50 triệu tỷ đồng, tức tăng trưởng tới 78,11%, và vượt xa tốc độ tăng trưởng chỉ 24,54% của vốn điều lệ hệ thống qua 5 năm nói trên.

    Theo đó, áp lực tăng vốn và điệp khúc tranh thủ nguồn lực cổ đông qua chi trả cổ tức bằng cổ phiếu dự kiến sẽ chưa dừng lại.

    Và riêng năm nay, áp lực đó càng nổi bật hơn ở khối ngân hàng thương mại cổ phần có tỷ lệ sở hữu Nhà nước lớn như Vietcombank, BIDV và VietinBank. Nhưng, liệu cổ đông Nhà nước có chấp thuận nhận cổ tức bằng cổ phiếu hay không, để giúp ngân hàng tăng vốn?

    Câu trả lời, hiện vẫn còn phải chờ kết quả các đại hội dự kiến diễn ra vào cuối tháng này.
  5. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    • 07:30 Thứ tư, 12/04/2017
    Vietcombank tiếp tục được cấp "room" 8.000 tỷ để phát hành trái phiếu
    [​IMG]
    Thanh Thủy

    (NDH) Năm 2016, Vietcombank cũng được NHNN chấp thuận phát hành trái phiếu 8.000 tỷ đồng và đã hoàn tất phát hành lượng trái phiếu này, bao gồm 6.000 tỷ trái phiếu tăng vốn cấp 2.

    Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản chấp thuận cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phát hành trái phiếu năm 2017 với tổng mệnh giá tối đa 8.000 tỷ đồng.

    Theo đó, lãi suất trái phiếu do Vietcombank quyết định phù hợp với lãi suất thị trường và quy định hiện hành về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ.

    Đối tượng mua trái phiếu là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài. Đối tượng mua trái phiếu do Vietcombank phát hành lần đầu trên thị trường sơ cấp không bao gồm các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các công ty con của tổ chức tín dụng.

    Trong phương án phát hành năm 2017 của Vietcombank bao gồm cả phương án mua lại trái phiếu. NHNN yêu cầu Vietcombank khi thực hiện mua lại trái phiếu Vietcombank cần đảm bảo tuân thủ các tỷ lệ bảo đảm an toàn, trường hợp trái phiếu được tính vào vốn cấp 2 thì việc mua lại trái phiếu phải phù hợp với quy định hiện hành tại văn bản pháp luật có liên quan.

    Trước đó, vào năm 2016, Vietcombank cũng được NHNN chấp thuận cho phát hành trái phiếu bằng VND năm 2016 với tổng mệnh giá tối đa là 8.000 tỷ đồng.

    Toàn bộ "room" phát hành trái phiếu đã được Vietcombank sử dụng hết. Theo Báo cáo tại Hội nghị Tổng kết kinh doanh năm 2016, Vietcombank cho biết đã phát hành thành công 8.000 tỷ trái phiếu ra công chúng và cho các định chế tài chính, bao gồm 6.000 tỷ trái phiếu tăng vốn cấp 2.

    Trong 8.000 tỷ đồng được phát hành năm 2016, Vietcombank đã phát hành trái phiếu không chuyển đổi và không có đảm bảo bằng tài sản ra công chúng với giá trị phát hành 2.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10 năm. Lãi suất được tính bằng lãi suất tham chiếu cộng thêm 1%, mức lãi suất áp dụng cho năm đầu tiên là 7,57%.
    Vnindex860 thích bài này.
    Vnindex860 đã loan bài này
  6. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    08:48 | 12/04/2017
    Bản in Email
    Chính phủ bàn giải pháp đột phá xử lý ngân hàng yếu kém
    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng việc hoàn thiện các quy định, xây dựng luật riêng về tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu là rất cần thiết, rất cấp bách.

    Ngày 11/4, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật, bàn về dự án Luật Hỗ trợ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu và phương án đề nghị sửa đổi, bổ sung các luật liên quan tới dự án Luật Quy hoạch.

    [​IMG]
    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật. - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
    Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), sau 4 năm thực hiện Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2011-2015 (ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012), đến nay về về cơ bản, việc cơ cấu lại hệ thống TCTD đã đạt được một số kết quả nhất định.

    Các TCTD yếu kém được nhận diện và được cơ cấu lại, không để xảy ra đổ vỡ TCTD ngoài tầm kiểm soát, đảm bảo giữ vững sự ổn định, an toàn của hệ thống các TCTD, tài sản của Nhà nước, nhân dân được bảo đảm an toàn; các TCTD đã tích cực nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu, đặc biệt là nỗ lực tự xử lý nợ xấu.

    Qua quá trình tổng kết, NHNN cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến những bất cập, hạn chế còn tồn tại trong quá trình triển khai cơ cấu lại hệ thống ngân hàng là do khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về xử lý TCTD yếu kém và xử lý nợ xấu chưa hoàn thiện.

    Cụ thể, quy định về thẩm quyền của Chính phủ, NHNN khi xử lý TCTD yếu kém còn chưa đầy đủ. Tiến trình phục hồi và cơ cấu lại các TCTD yếu kém còn hết sức khó khăn do chưa có cơ sở pháp lý để áp dụng giải pháp phù hợp với thực trạng của TCTD yếu kém; thiếu giải pháp hỗ trợ tài chính hiệu quả để phục hồi các TCTD yếu kém.

    Quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ còn nhiều bất cập làm hạn chế tiến độ, hiệu quả của việc xử lý nợ như vướng mắc về thu giữ tài sản, về quyền nhận tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; về phí thi hành án, về kê biên tài sản bảo đảm ...

    “Các vướng mắc pháp lý hầu hết liên quan đến quy định tại các Luật nên để xử lý triệt để các bất cập, khó khăn, vướng mắc này thì cần ban hành Luật riêng để xử lý các khó khăn, vướng mắc trong quá trình cơ cấu lại hệ thống TCTD yếu kém và xử lý nợ xấu”, NHNN cho biết.

    Theo NHNN, việc ban hành các Luật riêng về cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu là yêu cầu cấp thiết để tạo khuôn khổ pháp lý xử lý TCTD yếu kém và xử lý nợ xấu, thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.

    Việc ban hành Luật về cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu cũng là yêu cầu cấp bách của thực tiễn để thực hiện hiệu quả, khả thi việc cơ cấu lại TCTD gắn với xử lý nợ xấu, góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững, an toàn, hiệu quả của hệ thống TCTD, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.

    [​IMG]
    Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng phát biểu tại phiên họp. - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
    Sau khi nghe ý kiến các thành viên Chính phủ, đại diện các Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, kết luận nội dung này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng việc hoàn thiện các quy định về vấn đề này là rất cần thiết, rất cấp bách, nếu chậm trễ sẽ làm ảnh hưởng tới quá trình điều hành kinh tế-xã hội.

    Thủ tướng đồng ý với phương án xây dựng 2 văn bản để trình Quốc hội, gồm dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về xử lý nợ xấu và dự thảo một luật sửa nhiều luật (Luật Các tổ chức tín dụng và các luật có liên quan). Hai văn bản này phải được trình cùng lúc.

    Sửa cùng lúc 32 luật liên quan dự án Luật Quy hoạch

    Về các phương án đề nghị sửa đổi, bổ sung các luật liên quan tới dự án Luật Quy hoạch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết qua rà soát có tới 44 luật liên quan, trong đó có 12 luật đang trong quá trình sửa đổi. Trong số 32 luật còn lại, có 28 luật cần chỉnh sửa một số điều và 4 luật (Luật Tài nguyên nước, Luật Đất đai, Luật Xây dựng và Luật Quy hoạch đô thị) cần sửa nhiều hơn.

    Theo phương án 1, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị trước mắt sửa 28 luật, 4 luật còn lại sửa sau. Theo phương án 2, cần lùi lại thời gian để sửa cùng lúc 32 luật.

    Kết luận vấn đề này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị theo phương án 2, theo đó khi trình dự án Luật Quy hoạch tại kỳ họp Quốc hội sắp tới sẽ đề nghị đưa danh mục 32 luật cần sửa vào phụ lục, sau đó đưa nội dung sửa đổi 32 luật này vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thời gian tới.

    Thủ tướng nêu rõ, tại kỳ họp bắt đầu từ ngày 22/5 tới đây, Quốc hội sẽ xem xét, thảo luận nhiều báo cáo và các dự luật. Chính vì vậy, Thủ tướng giao Văn phòng Chính phủ, các bộ ngành phối hợp chặt chẽ chuẩn bị các báo cáo, tờ trình liên quan, không để chậm trễ.


    Nguồn : Chính phủ
  7. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    09:10 | 12/04/2017
    Bản in Email
    Nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu
    Quý I/2017 tăng trưởng tín dụng toàn ngành NH đạt mức 4,03% so với cuối năm ngoái, đây là mức tăng trưởng cao nhất so với cùng kỳ 6 năm qua.

    Mục tiêu của hệ thống NH năm 2017 là đẩy mạnh tái cơ cấu, trong đó, tập trung xử lý nợ xấu. Điều này đòi hỏi các nhà băng phải kiểm soát chất lượng tín dụng để hạn chế nợ xấu phát sinh.

    Phân bổ tín dụng theo năng lực tài chính

    Mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn ngành NH năm 2017 đề ra là 18%, được các chuyên gia kinh tế đánh giá là phù hợp với thực trạng nền kinh tế và nợ xấu hiện hữu. Ngay từ đầu năm nay, các TCTD đã tung ra rất nhiều gói tín dụng hướng vào các hoạt động sản xuất kinh doanh và cho vay phục vụ đời sống. Hiện lãi suất cho vay của các NHTM có vốn Nhà nước chi phối quanh mức 7,5%/năm, các NHTMCP khoảng 8,5% - 9,5%/năm.

    Những lĩnh vực sản xuất kinh doanh được Chính phủ khuyến khích, NH cho vay dưới mức 7%/năm đối với cho vay ngắn hạn bằng VND. Theo đó, kết thúc quý I/2017 tăng trưởng tín dụng toàn ngành NH đạt mức 4,03% so với cuối năm ngoái, đây là mức tăng trưởng cao nhất so với cùng kỳ 6 năm qua.

    [​IMG]
    Ảnh minh họa
    Mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn Ngành năm nay 18%, nhưng mỗi NH lại có chỉ tiêu cụ thể khác nhau tùy thuộc vào hoạt động kinh doanh và quá trình tái cơ cấu của mình. Chẳng hạn, ACB, LienVietPostBank, đầu năm được giao mức tăng trưởng tín dụng cả năm 2017 là 16% (năm 2016 ACB tăng trưởng tín dụng 21%), một số NH có quy mô lớn năm nay chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng vào khoảng 14-15%... Tuy nhiên, cũng có một thực tế thông thường sau quý II, III các NH lại đề xuất nới room tăng trưởng tín dụng với lý do phục vụ mùa kinh doanh cuối năm.

    Lâu nay NHNN phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng dựa theo năng lực tài chính và hoạt động kinh doanh của mỗi NHTM. Ví như đến cuối năm 2016 tổng dư nợ của BIDV đã đạt ngưỡng 1 triệu tỷ đồng thì một phần trăm tăng trưởng tín dụng của NH này đã tương đương với số vốn 10.000 tỷ đồng đưa ra thị trường, gần bằng 30%-40% tổng dư nợ tín dụng một NHTMCP quy mô nhỏ.

    Ông Phạm Hồng Hải – Tổng giám đốc HSBC Việt Nam nhận định, tăng trưởng tín dụng năm nay tiếp tục được NHNN kiểm soát đối với những khu vực có rủi ro cao (BĐS, chứng khoán, hạ tầng). Mặc dù nợ xấu đến cuối năm 2016 được kiểm soát ở mức 2,46% (chưa bao gồm các khoản nợ VAMC), nhưng trong năm 2017 vẫn còn những rủi ro ngoài ý muốn từ môi trường kinh doanh. Như yếu tố lạm phát, hệ thống NH vẫn trong quá trình tái cấu trúc, khu vực BĐS mới chỉ thực sự ấm lên ở phân khúc nhà ở có mức giá phù hợp.

    Từ đó, giới chuyên môn cho rằng nguồn tín dụng chảy vào BĐS năm nay sẽ không nhiều và đặc biệt là các NHTM phải thực hiện lộ trình giảm tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ mức 60% xuống 50% trong năm nay. Nên các doanh nghiệp cũng nên có hướng tìm nguồn vốn khác thay vì chờ đợi tín dụng NH để đầu tư vào các khoản không được khuyến khích như BĐS, các dự án giao thông…

    Hạn chế nợ xấu phát sinh

    Trong một diễn đàn kinh tế do HSBC tổ chức ở Việt Nam vừa qua, ông Vincent Conti, chuyên gia kinh tế đến từ Tổ chức xếp hàng tín nhiệm quốc tế Standard&Poor's (S&P) cho rằng, rủi ro tín dụng là điểm quan trọng nhất ảnh hưởng đến xếp hạng tín nhiệm tín dụng quốc gia.

    Ông Vincent Conti cũng nhìn nhận nợ xấu hiện nay của Việt Nam đã giảm đáng kể so với cách đây 4 năm. Nhưng nhu cầu vay vốn qua hệ thống NH của nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn cao hơn so với các nước trong khu vực. Trong khi quá trình xử lý nợ xấu của Việt Nam vẫn còn chậm, mặc dù Chính phủ đã có những giải pháp như dùng VAMC nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở việc lấy nợ xấu ra khỏi bảng cân đối của các nhà băng chứ chưa thực sự xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu này.

    Chuyên gia của S&P khuyến cáo, một quốc gia thu hút mạnh các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII) như Việt Nam, trong khi nợ xấu NH vẫn còn những tồn tại, cần cải thiện nhiều hơn chất lượng tín dụng để thu hút nhà đầu tư nước ngoài tìm đến Việt Nam.

    Gần đây một số NHTM đã có động thái mua lại một số khoản nợ xấu đã bán cho VAMC để tự xử lý, còn đối với dự án thì dùng hình thức chuyển nhượng, tự thu hồi nợ… Bên cạnh các giải pháp xử lý nợ xấu hiện hữu, trong một diễn đàn mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định sẽ để mở cơ hội mở room 100% cho nhà đầu nước ngoài vào tái cơ cấu các NH yếu kém. “Quan trọng chính là mình muốn bán cái mình cần bán, hay bán cái thị trường cần, để thu hút vốn ngoại vào tái cơ cấu NH yếu kém”, một chuyên gia tài chính nói.

    Linh Chi
  8. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    • 11:06 Thứ tư, 12/04/2017
    Vietcombank ước lãi quý I tăng 15%, việc phát hành cho GIC đang được NHNN xét lại
    [​IMG]
    Thanh Thủy

    (NDH) Tín dụng quý I tăng cao bất ngờ lên tới 8%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 5 năm là 1,5%. Thương vụ phát hành 7,73% vốn cho GIC từng được cho rằng sẽ "đổ bể" nhưng theo lãnh đạo Vietcombank thì đang được NHNN xem xét lại.

    Ước lãi quý I tăng 15% so với cùng kỳ

    Theo báo cáo của CTCP Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HSC), lãnh đạo Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank, mã VCB - HoSE) cho biết lợi nhuận trước thuế quý I/2017 ước đạt 2,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ 2016. Mức lợi nhuận này đã hoàn thành 28% kế hoạch thận trọng của Ngân hàng đề ra (nhưng chưa được cổ đông thông qua) là 9,2 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 8% cho cả năm 2017.

    Tín dụng quý I tăng cao bất ngờ lên tới 8%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 5 năm là 1,5% và so với kế hoạch tăng trưởng tín dụng cả ngành trong năm nay là 16-18%.

    Động lực tăng trưởng tín dụng chính là cho vay khách hàng cá nhân; trong đó cho vay khách hàng cá nhân tăng 12% trong quý I/2017 còn cho vay khách hàng doanh nghiệp tăng 6,7%. HSC nhận định nhiều khả năng mảng cho vay khách hàng cá nhân tăng mạnh đã giúp lợi suất cho vay và tỷ lệ NIM được cải thiện.

    Huy động tăng trưởng thấp hơn tín dụng với tăng trưởng huy động vốn quý I chỉ tăng 3%. Theo đó, hệ số LDR thuần tăng từ 78,1% năm 2016 lên 82%.

    Theo ước tính của HSC, tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn dùng để cho vay trung dài hạn tại thời điểm cuối năm 2016 chỉ là khoảng 25%; thấp hơn nhiều mức trần 50% áp dụng cho các NHTMCP có vốn nhà nước; theo đó VCB chưa gặp áp lực trong huy động vốn trung dài hạn.

    HSC cho biết Ngân hàng đặt kế hoạch kinh doanh năm 2017 rất thận trọng với LNTT chỉ tăng trưởng 8%. Ngoài kế hoạch lợi nhuận, Vietcombank đặt mục tiêu năm 2017 tăng trưởng tổng tài sản đạt 11%. Tăng trưởng tín dụng đạt 15% và tăng trưởng huy động đạt 14%. Tỷ lệ NIM ổn định ở khoảng 2,76%. Tỷ lệ nợ xấu dưới 2%.

    Trong khi đó, HSC đưa ra dự báo lạc quan hơn với lợi nhuận trước thuế tăng trưởng 33,3%. Nguyên nhân là bởi HSC kỳ vọng chi phí dự phòng sẽ giảm 24,6% xuống 4.827 tỷ đồng nhờ chất lượng các khoản vay được cải thiện và Ngân hàng không còn phải trích lập dự phòng cho trái phiếu VAMC từ năm 2017.

    Ngoài ra, HSC cũng dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2017 của Ngân hàng này đạt 17%, tăng trưởng huy động 15%. Tỷ lệ NIM được CTCK này kỳ vọng tăng lên 2,80% nhờ cho vay khách hàng cá nhân tăng trưởng mạnh và hệ số LDR tăng.

    NHNN đang xem xét lại thương vụ bán vốn cho GIC

    VCB đã có kế hoạch tăng vốn và đang chờ NHNN chấp thuận. Kế hoạch tăng vốn này có thể gồm phát hành riêng lẻ, chào bán ra công chúng và trả cổ tức bằng cổ phiếu. Trước đó, Ngân hàng từng có kế hoạch tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cho đối tác Singapore.

    HSC từng cho biết trong báo cáo trước đây rằng thương vụ phát hành cho GIC gần như chắc chắn sẽ không diễn ra. Tuy nhiên, theo VCB cho biết hiện NHNN đang xem xét lại thương vụ này nhưng tất nhiên các điều khoản đã được thay đổi.

    VCB rất kỳ vọng NHNN sẽ chấp thuận phương án phát hành riêng lẻ vì nhiều khả năng NHNN sẽ không chấp thuận phương án trả cổ tức bằng cổ phiếu.

    Nếu không tăng vốn trong năm 2017, thì hệ số CAR đến cuối năm của Ngân hàng sẽ vào khoảng 9,5%. Vietcombank công bố hệ số CAR năm 2016 là 11,13% (theo Thông tư 36 và Thông tư 06). Trong khi đó, hệ số CAR theo Basel II ước tính hiện là trên 7% và Ngân hàng dự kiến áp dụng Basel II tiêu chuẩn vào 2018 và Basel II nâng cao vào 2020.
  9. hoangketcau

    hoangketcau Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    22/04/2010
    Đã được thích:
    61.845
    BID nay cụ nào múc phiên 3 mà kinh thế?
    THế gọi là tát ao hay vét ao hả các bác?
    gallant10 thích bài này.
  10. phoenix6688

    phoenix6688 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    30/09/2013
    Đã được thích:
    1.938
    :p:p:p:p

Chia sẻ trang này