Áp lực giải chấp khoảng 10.000 tỷ đồng, giải pháp cho nỗi ám ảnh mang tên “hàng giải chấp” và quản t

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi tiencua68, 04/09/2010.

938 người đang online, trong đó có 375 thành viên. 15:41 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1327 lượt đọc và 25 bài trả lời
  1. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://vssc.com.vn/News/2010/9/2/139317.aspx
    Nguồn: Đầu tư chứng khoán điện tử - Ngày: 02/09/2010 09:20
    [​IMG] In tin | [​IMG] Gửi email | [​IMG] RSS
    [​IMG] Sau đợt sụt giảm kéo dài, VN-Index phục hồi, trong đó 2 phiên tăng mạnh, nhưng chưa khẳng định được xu hướng tăng bền vững. Đây đó vẫn còn nỗi ám ảnh về lượng hàng giải chấp đang đọng tại CTCK. Chiều 31/8, tại Hà Nội, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) và Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam (VASB) cùng với một số CTCK lớn đã ngồi lại với nhau trao đổi nhiều nội dung, trong đó có vấn đề giải chấp.

    Áp lực giải chấp khoảng 10.000 tỷ đồng

    Cho đến thời điểm này, cơ quan quản lý khó có thể biết được, thông qua CTCK, NĐT đã vay bao nhiêu tiền để đầu tư. Hiện nay, có nhiều hình thức NĐT thực hiện vay. Có CTCK cho NĐT mở 2 tài khoản: một tài khoản thường và một tài khoản ký quỹ. Theo đó, khi chuyển tiền/chứng khoán vào tài khoản ký quỹ, NĐT sẽ được đầu tư 150% giá trị ký quỹ. Tại một số công ty thì việc cho vay dựa trên thỏa thuận của các môi giới với NĐT. Tùy lịch sử giao dịch, năng lực tài chính mà CTCK có thể cho vay nhiều hay ít, với thủ tục rất đơn giản, thời gian vay từ 3-60 ngày.

    Một hình thức khá phổ biến hiện nay là CTCK và NĐT ký hợp đồng hợp tác đầu tư. Trên danh nghĩa, cả CTCK và NĐT cùng tham gia đầu tư, nhưng trên thực tế, chỉ có NĐT bỏ một phần tiền của mình, còn CTCK cho vay với tỷ lệ lớn. Cho dù giá chứng khoán biến động ra sao thì CTCK vẫn thu được gốc và lãi vay. Một hình thức khác nữa là repo cổ phiếu. CTCK và NĐT ký một hợp đồng mua bán chứng khoán, theo đó NĐT nộp một số tiền theo tỷ lệ nhất định (thường trên 30% giá trị cổ phiếu) và CTCK cho vay phần còn lại. Giá repo do CTCK đánh giá và đưa ra. Bảo lãnh thanh toán tiền mua chứng khoán (chậm trả) cũng là dịch vụ được nhiều CTCK triển khai. Tuy nhiên, thời gian khá ngắn, chỉ 1 - 3 ngày (nhiều công ty không tính phí).

    Khi thị trường thuận lợi, tỷ lệ đòn bẩy tài chính được các CTCK cho NĐT sử dụng phổ biến ở mức 1:1. Đối với khách hàng VIP, tỷ lệ này có thể lên đến 1:4.

    Quy định hiện hành không cho phép CTCK cho NĐT vay tiền đầu tư chứng khoán, mà chỉ các tổ chức tín dụng mới được phép thực hiện hoạt động này. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tính đến hết tháng 5/2010, dư nợ cho vay vào TTCK là 14.000 tỷ đồng, tăng 13,6% so với đầu năm 2010. Tuy nhiên, không ít CTCK đã lách quy định kể trên thông qua những hình thức cho vay khác nhau. Theo ghi nhận của ĐTCK thông qua một số đầu mối môi giới tại các CTCK lớn, lượng hàng có khả năng chịu áp lực giải chấp trị giá khoảng 10.000 tỷ đồng, bằng khoảng 1,4% giá trị vốn hoá TTCK.

    Theo nhiều nhà đầu tư, mặc dù hiện nay, UBCK chưa có công cụ để đo lường dòng tiền chảy vào thị trường thông qua đòn bẩy tài chính, nhưng việc nhận biết các cổ phiếu bị bán giải chấp không quá khó. Trong những phiên giảm điểm liên tục, những cổ phiếu bị bán sàn với khối lượng lớn chủ yếu là hàng giải chấp.

    CTCK tìm cách thống nhất một tỷ lệ ký quỹ


    Mặc dù không có con số cụ thể về lượng hàng giải chấp, nhưng có một thực tế là không phải thị trường giảm điểm sâu là hàng hóa sẽ bị bán đổ, bán tháo. Không ít CTCK có quy mô lớn thực hiện hỗ trợ tài chính cho NĐT. Do hệ thống công nghệ chưa hiện đại nên việc cổ phiếu giảm đến một mức độ nhất định thì hệ thống tại CTCK sẽ tự động đặt lệnh bán là không nhiều. Nhiều CTCK vẫn lựa chọn giải pháp "mềm" khi thực hiện thương lượng với NĐT để kéo dài thời gian tất toán tài khoản. Nếu thị trường tăng thì cả CTCK và NĐT đều thoát hiểm! Đại diện một CTCK có quy mô lớn cho biết, đó cũng là cách CTCK chia sẻ khó khăn, đồng cam cộng khổ với khách hàng.

    Nhìn lại lịch sử giao dịch từ cuối năm 2009 đến nay, ông Lưu Nguyễn Chí Nhân, Phó tổng giám đốc CTCP Quản lý quỹ Đầu tư Sài Gòn - Hà Nội cho rằng, việc sử dụng đòn bẩy tài chính giai đoạn này không đáng lo ngại. Vì thị trường từ đầu năm đến nay không tăng mạnh, nên việc dùng đòn bẩy để đầu tư không quá rủi ro (bởi thị trường khó giảm sâu). Mặt khác, NĐT chỉ dùng đòn bẩy khi nhìn thấy xu hướng đi lên bền vững, trong khi đó, trong suốt thời gian qua, thị trường lình xình nên NĐT dùng đòn bẩy ít, nhiều ngân hàng vẫn còn dư địa lớn trong cho vay đầu tư chứng khoán. Một lượng hàng giải chấp khá lớn đã được bán ra trong tuần trước nên mối lo về vấn đề này đã giảm đi rất nhiều. Theo ông Nhân, tuần này, lực bán ra chủ yếu là hoạt động chốt lời của những NĐT mua đáy từ tuần trước hoặc số ít NĐT cắt lỗ.

    Ông Nguyễn Đình Phong, Giám đốc Khối dịch vụ CTCK VNDirect cho rằng, trên thị trường luôn luôn có một lượng hàng được mua từ nguồn tiền nợ. Lượng hàng giải chấp sẽ bị bán ra khi giá thị trường giảm xuống mức giá phải xử lý. Với 4 phiên tăng điểm gần đây, áp lực giải chấp không còn nhiều, vì giá chứng khoán đã vượt qua vùng bị CTCK xử lý. Bên cạnh đó, một số NĐT đã chấp nhận cắt lỗ một phần cổ phiếu, dùng tiền bù vào tài khoản nên không bị giải chấp. Thời gian gần đây, NĐT đã thận trọng hơn trong việc dùng đòn bẩy, nên lượng hàng được mua từ nguồn tiền nợ cũng không phải quá lớn.

    Có thể nói, áp lực hàng giải chấp giai đoạn vừa qua không lớn, nhưng thị trường đặt ra yêu cầu UBCK cần có biện pháp quản lý để có con số thống kê tương đối chính xác dòng tiền chảy vào thị trường. Chỉ có như thế mới lượng hóa được rủi ro. Hiện tại, UBCK đang trình Bộ Tài chính dự thảo Thông tư về giao dịch ký quỹ. Tuy nhiên, trong khi chờ Bộ Tài chính ban hành thông tư này, nhiều CTCK đã triển khai nghiệp vụ này với đủ loại hình thức, đang đặt UBCK vào tình huống khó xử.
  2. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://www.nhandan.org.vn/tinbai/?top=38&sub=131&article=182603
    Cập nhật 15:08 ngày 02-09-2010
    [​IMG]

    Quản trị rủi ro ngân hàng, tại sao cần siết chặt? (Kỳ 1)​
    [​IMG]Chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng
    tiềm ẩn nhiều rủi ro.

    NDĐT-THỜI NAY- Tính đến đầu tháng 8 vừa qua tổng số ngân hàng Mỹ sụp đổ trong năm 2010 lên đến 108 ngân hàng. Như vậy hậu quả của vụ khủng hoảng tài chính lớn nhất trong 100 năm qua vẫn tiếp tục tác động đến thị trường tài chính Mỹ. Trong bối cảnh đó, 39 ngân hàng thương mại đang hoạt động trên thị trường Việt Nam vẫn đang “mạnh khỏe” với lợi nhuận cao. Phải chăng hệ thống tài chính Việt Nam đã miễn dịch thành công với con virus “khủng hoảng ngân hàng” mà Mỹ và các quốc gia châu Âu đang è cổ gánh chịu?

    Từ lời cảnh báo

    Trong một phỏng vấn mới đây, TS Lê Xuân Nghĩa cho biết: Báo cáo nợ xấu NH bình quân khoảng 1,28% trên tổng dư nợ, nhưng đến khi chúng tôi kiểm tra có ngân hàng lên tới 12%. Đó là theo chuẩn kế toán Việt Nam, còn chuẩn quốc tế phải hơn.

    Rủi ro nợ xấu chỉ là một mảnh ghép trong chuỗi rủi ro ngân hàng. Rủi ro ngân hàng được quan tâm bởi rất nhiều đối tượng, thành phần trong xã hội, từ các nhà quản lý, các doanh nghiệp tới người dân bình thường. Sự phá sản của hàng loạt của các ngân hàng Mỹ và các ngân hàng lớn, nhỏ tại châu Âu vừa qua cho thấy việc kiểm soát rủi ro không bao giờ là thừa.

    Về bản chất có thể chia ra bốn nhóm rủi ro chính trong khối ngân hàng hiện nay. Đó là rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro vận hành.

    Hiện trạng về quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam thì rủi ro về thanh khoản là rủi ro đáng lo ngại nhất. Trong vài năm gần đây chúng ta cũng gặp một số ngân hàng khó khăn về nguồn vốn khi NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt. Cũng đã có trường hợp ngân hàng ACB bị kẻ xấu tung tin đồn thất thiệt làm cho người dân rút tiền hàng loạt và phải có sự hỗ trợ, can thiệp của Ngân hàng Nhà nước thì mới tránh được rủi ro thanh khoản. Trong khi đó rủi ro thị trường chưa có nguy cơ lớn tại Việt Nam do số lượng và tỷ trọng vốn dành cho kinh doanh ngoại tệ cũng nhưng kinh doanh chứng khoán tại các NHTM không nhiều, đối với ngoại tệ thì các NHTM chủ yếu thực hiện mua bán để phục vụ cho nhu cầu thanh toán của các doanh nghiệp, ít ngân hàng thực hiện hoạt động đầu cơ. Đối với kinh doanh chứng khoán thì từ năm 2008 các ngân hàng đã dần giảm bớt việc đầu tư kinh doanh chứng khoán, còn rủi ro về biến động lãi suất có thể ảnh hưởng tới lợi nhuận của các ngân hàng nhưng chưa ngân hàng nào bị lỗ trong các năm qua, vì các ngân hàng thường chỉ chịu rủi ro về biến động trong thời gian ngắn rồi sau đó thường có giải pháp để cân bằng giữa lãi suất đầu ra và lãi suất đầu vào.

    Rủi ro vận hành cũng chưa có các phát sinh lớn tại các NHTM của Việt Nam. Nhìn chung các NHTM cũng đang trong quá trình hiện đại hóa về công nghệ (hầu hết đã hoặc đang triển khai Corebanking của nước ngoài), và cũng đang nâng dần khả năng quản trị để giảm thiểu rủi ro vận hành.

    Nợ xấu và mối lo thanh khoản

    Một lưu ý lớn hiện nay của hệ thống NHTM là vấn đề rủi ro tín dụng. Nợ xấu là một tiêu chí để xem xét tầm quan trọng của vấn đề này ở hệ thống ngân hàng đang ở mức độ nào. Lời cảnh báo của TS Nghĩa cho thấy đây là điểm mà các NHTM có thể đang vấp phải. Đặc biệt là việc nhiều NHTM có công ty mẹ, cổ đông lớn, cổ đông chiến lược là các tập đoàn, các tổng công ty lớn, các doanh nghiệp lớn. Điều này có thể tạo ra mối nghi ngờ về việc một số ngân hàng có thể cố tình nới lỏng điều kiện cho vay đối với một số cá nhân hoặc tổ chức vì một số lý do nào đó, điều này có thể dễ dẫn tới những rủi ro tín dụng.

    Theo tính toán của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu trong toàn ngành ngân hàng ở thời điểm cuối năm 2009 ở mức 2,5% (tỷ lệ này năm 2008 là 2,1%), tỷ lệ nợ xấu đối với một số khoản vay đặc biệt ở mức khoảng 6,5%. Như đã phân tích việc tỷ lệ nợ xấu tăng là yếu tố quan trọng cho thấy “sức khỏe” của toàn khối ngân hàng. Hơn nữa nhiều chuyên gia cho rằng cách phân loại các khoản vay và dự phòng của Việt Nam không thể khắt khe như theo quy định của chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Chính vì vậy các ngân hàng Việt Nam phải đương đầu với nhiều khó khăn liên quan đến chất lượng tài sản và vốn, tăng trưởng tín dụng cao sẽ dẫn đến chất lượng các khoản vay đi xuống, các quy định thường lỏng lẻo hơn khi ngân hàng mở rộng quá nhanh.

    Điều này có thể sẽ xảy ra trong bối cảnh các NHTM đang có cuộc chạy đua trong việc nâng vốn điều lệ đáp ứng Nghị định 141/2006 của Chính phủ, đến 31-12-2010 là hạn chót để các ngân hàng phải bảo đảm nâng vốn lên tối thiểu 3.000 tỷ đồng. Đây là áp lực rất lớn đối với các ngân hàng nhỏ, nhất là ngân hàng có vốn điều lệ quanh mức 1.000 tỷ đồng. Thống kê cho thấy trong tổng cộng 39 ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) đang hoạt động có tới 24 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng. Trong đó có 15 ngân hàng có vốn dưới 2.000 tỷ đồng và tám ngân hàng có vốn quanh mức 1.000 tỷ đồng. Áp lực tăng vốn điều lệ, chạy theo lợi nhuận khiến các ngân hàng (NH) đẩy mạnh tín dụng. Nợ xấu của nhiều NH đang ở mức khá cao và tiềm ẩn rủi ro cho cả hệ thống.

    Điều đáng lo nhất hiện nay của NH TMCP là việc NH chưa chú trọng chức năng quản lý rủi ro. Nhiều quyết định hằng ngày của Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc ngân hàng chưa có tiếng nói của quản trị rủi ro. Trong khi đó, người gửi tiền thì cũng không có căn cứ để đánh giá NH. Chính vì vậy cứ chỗ nào cho lợi nhuận, lãi suất cao là gửi, không cần quan trọng NH tốt, xấu. Đây là nguyên nhân khiến chạy đua lãi suất dễ dàng của các ngân hàng khi yếu tố thiếu thanh khoản xảy ra.


    TRỊNH VIỆT HƯƠNG​
  3. 4so9

    4so9 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/08/2005
    Đã được thích:
    442
    Tốt
  4. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://vneconomy.vn/20100901041146795P0C7/rui-ro-ty-gia-gay-kho-doanh-nghiep-niem-yet.htm

    Rủi ro tỷ giá gây khó doanh nghiệp niêm yết

    HOÀNG VŨ
    09:01 (GMT+7) - Thứ Tư, 1/9/2010

    Với những khoản vay bằng USD, trong 6 tháng đầu năm 2010, sau lần điều chỉnh ngày 11/2 (tăng hơn 3%), tỷ giá được giữ ổn định. Tuy nhiên, ngày 18/8 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã tăng thêm gần 2,1% và chưa thể khẳng định đó là lần điều chỉnh cuối cùng của năm 2010 hay không.

    Một nguyên nhân nổi bật tạo biến động tài chính trong năm 2010 tại nhiều doanh nghiệp niêm yết là rủi ro tỷ giá


    Sau mùa báo cáo kết quả kinh doanh quý 2/2010 đến loạt báo cáo giải trình biến động tài chính. Một nguyên nhân nổi bật tạo biến động tài chính tại nhiều doanh nghiệp niêm yết là rủi ro tỷ giá.

    Theo quy định hiện hành, chênh lệch tỷ giá sẽ được xác định tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm. Tuy nhiên, qua các thông tin giải trình cho thấy, những rủi ro liên quan tiếp tục gây khó cho nhiều doanh nghiệp niêm yết trong nửa đầu năm 2010.

    Quý 2/2010, lợi nhuận của Công ty Cổ phần Hóa dầu Petrolimex (mã PLC-HNX) tăng hơn 12,26 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2009. Thông tin giải trình vừa công bố cho biết, một trong những thuận lợi để có kết quả đó là chi phí tài chính quý 2/2010 của Công ty thấp hơn 42,10% so với quý 2/2009, chủ yếu là do các khoản lỗ chênh lệch tỷ giá giảm so với cùng kỳ.

    Nhưng những trường hợp như PLC (theo thông tin đã công bố) hiện không nhiều. Loạt văn bản giải trình thời gian gần đây cho thấy, trên cả hai sàn niêm yết HOSE và HNX, có nhiều trường hợp lợi nhuận năm nay có thể bị ảnh hưởng lớn từ rủi ro tỷ giá.

    Có trường hợp khoản lỗ ghi nhận từ nguyên nhân này chỉ vài trăm triệu đồng, nhưng có những trường hợp nếu xác định ngay phải ghi nhận cả trăm tỷ đồng. Chênh lệch tỷ giá được ghi nhận chủ yếu từ các khoản vay ngoại tệ, ngay cả với những khoản vay ngắn hạn.

    Theo thông tin từ Công ty Cổ phần Truyền thông số 1 (mã ONE-HNX), cuối năm 2009, Công ty phải vay một khoản ngoại tệ lớn ngắn hạn để trả cho nhà cung cấp nước ngoài. Chênh lệch tỷ giá hạch toán và tỷ giá thực tế phát sinh lớn dẫn đến lỗ chênh lệch tỷ giá cao. Và khoản lỗ chênh lệch tỷ giá đã thực hiện là 1,8 tỷ đồng.

    Tại Công ty Cổ phần Hàng hải Đông Đô (mã DDM-HOSE), chênh lệch chi phí tài chính đội lên sau kiểm toán 6,24 tỷ đồng một phần cũng do chênh lệch tỷ giá trong thanh toán là 2,35 tỷ đồng. Và đây cũng là một yếu tố khiến lợi nhuận sau thuế sau kiểm toán lỗ 17,9 tỷ đồng, thay vì lỗ 11,45 tỷ đồng trước kiểm toán.

    Với Công ty Cổ phần Vận tải xăng dầu Vipco (mã VIP-HOSE), lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2010 phải “chia sẻ” khoản trích lập dự phòng chênh lệch tỷ giá đối với khoản vay ngoại tệ tới 10 tỷ đồng, là một trong những nguyên nhân dẫn tới lợi nhuận giảm tới 27,74% so với cùng kỳ năm 2009.

    Tại một số doanh nghiệp khác, khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá từ năm trước vẫn tiếp tục đeo bám. Như tại Công ty Cổ phần Vận tải và Thuê tàu biển Việt Nam (mã VST-HOSE), lỗ từ chênh lệch tỷ giá tính đến thời điểm 31/12/2009 lên đến gần 59 tỷ đồng, và đến tháng 7/2010 Hội đồng Quản trị phải ra nghị quyết dùng toàn bộ số dư quỹ dự phòng tài chính (12,6 tỷ đồng) để bù đắp.

    Hay các khoản vay bằng đồng Won và USD của Công ty Cổ phần Nhiệt điện Bà Rịa (mã BTP-HOSE) cũng phát sinh nhiều chi phí từ biến động của tỷ giá. Trong năm 2009, công ty này có lợi nhuận sản xuất kinh doanh điện là 96,28 tỷ đồng; trong khi lỗ chênh lệch tỷ giá đánh giá chưa thực hiện đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ là 123,53 tỷ đồng; Công ty phải phân bổ 96,28 tỷ đồng vào kết quả kinh doanh năm 2009 dẫn đến lợi nhuận trước thuế bằng 0. Còn lại khoản lỗ gần 27,25 tỷ đồng chưa phân bổ, trong 6 tháng đầu năm 2010 Công ty chưa kết chuyển vào chi phí.

    Trong dư nợ của BTP có ghi nhận hơn 43,7 tỷ Won và 15 triệu USD, số tiền chênh lệch tỷ giá tính từ thời điểm 31/12/2009 đến 30/6/2010 là hơn 16,5 tỷ đồng. Tuy nhiên Công ty chưa đánh giá lại vào thời điểm 30/6/2010 mà sẽ được đánh giá vào thời điểm 31/12/2010.

    Tương tự, thuyết minh báo cáo tài chính quý 2/2010 của Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại (mã PPC-HOSE) cho biết, khoản nợ vay có nguồn gốc ngoại tệ của Công ty đến thời điểm 30/6/2010 là 33,421 tỷ JPY; tỷ giá giữa VND với JPY do Ngân hàng Nhà nước thông báo tại ngày 30/6/2010 là 1 JPY = 204,12VND, tăng 3,42 VND so với 31/12/2009. Thời điểm quý 2/2010 căn cứ tỷ giá tại 30/6/2010, chi phí chênh lệch tỷ giá dự kiến theo ước tính là 114,2 tỷ đồng. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, chênh lệch tỷ giá sẽ được xác định tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm nên Công ty chưa thực hiện xác định chênh lệch tỷ giá tại thời điểm hiện tại…

    Với những khoản vay bằng USD, trong 6 tháng đầu năm 2010, sau lần điều chỉnh ngày 11/2 (tăng hơn 3%), tỷ giá được giữ ổn định. Tuy nhiên, ngày 18/8 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã tăng thêm gần 2,1% và chưa thể khẳng định đó là lần điều chỉnh cuối cùng của năm 2010 hay không.

    Với những khoản vay bằng JPY, tỷ giá tính chéo của VND so với JPY áp dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu do Ngân hàng Nhà nước công bố cũng đã tăng mạnh trong thời gian gần đây; mức áp dụng từ ngày 21/8 đến 31/8/2010 đã là 1 JPY = 221,48 VND, tăng tới 10,35% so với thời điểm 31/12/2009.

    Những biến động đó của tỷ giá sẽ tiếp tục gây khó khăn đối với những doanh nghiệp niêm yết có các khoản vay bằng ngoại tệ - một bộ phận có thông tin tài chính công khai và đại chúng.
  5. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://www.stockbiz.vn/News/2010/9/2/140033/doanh-nghiep-cap-tap-phat-hanh-co-phieu.aspx
    [​IMG]Doanh nghiệp cấp tập phát hành cổ phiếu
    Đầu tư điện tử - 02/09/2010 7:10:00 SA

    (Có 0 bình chọn. Bạn phải đăng nhập để bình chọn.)
    [​IMG] In tin | [​IMG] Lưu vào sổ tay | [​IMG] Gửi email | [​IMG] RSS


    [​IMG] Thị trường chứng khoán vừa trải qua một đợt thoái trào kéo dài, song nhiều doanh nghiệp (DN) vẫn tiếp tục đưa ra kế hoạch phát hành cổ phiếu trong thời gian tới.

    Mới đây, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã cấp Giấy chứng nhận chào bán cổ phiếu ra công chúng cho Công ty cổ phần Xây dựng số 12 (Vinaconex No12) (MCK: V12[​IMG]).

    Theo đó, Vinaconex No12 được phép chào bán 3 triệu cổ phiếu phổ thông (mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu), trong đó 2,7 triệu cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện hữu; 153.000 cổ phiếu chào bán cho Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex); 147.000 cổ phiếu chào bán cho cán bộ, công nhân viên. Tổng giá trị cổ phiếu chào bán tính theo mệnh giá là 30 tỷ đồng.

    Ngoài Vianconex No12, UBCKNN cũng đã cấp Giấy chứng nhận chào bán cổ phiếu ra công chúng cho Công ty cổ phần Dược phẩm Viễn Đông (DVD[​IMG]). DVD[​IMG] được phép chào bán 7,09 triệu cổ phiếu phổ thông (mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu), trong đó, 6.550.500 cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện hữu; 539.500 cổ phiếu chào bán cho cán bộ, công nhân viên. Tổng giá trị cổ phiếu chào bán tính theo mệnh giá là 70,9 tỷ đồng.

    Những trường hợp của Vinaconex No12 hay DVD[​IMG] không hề hiếm, bởi không ít DN khác vẫn quyết định tăng vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu.

    Chẳng hạn, Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất cũng sẽ chào bán 200 triệu cổ phiếu phổ thông. Dự kiến, việc tăng vốn của Ngân hàng Đệ Nhất sẽ chia thành 2 đợt. Đợt 1, sẽ có 100 triệu cổ phiếu được phân phối trong thời gian từ nay đến cuối tháng 11/2010. Đợt 2, 100 triệu cổ phiếu nữa sẽ được chào bán nốt vào cuối năm 2010. Tổng giá trị cổ phiếu chào bán tính theo mệnh giá là 2.000 tỷ đồng. Tổ chức tư vấn phát hành của Ngân hàng Đệ Nhất là Công ty Chứng khoán miền Nam.

    Trước đó, không ít ý kiến đã tỏ ra lo ngại về động thái phát hành rầm rộ của các DN từ nay đến cuối năm 2010 và cho rằng, đây chính là một trong những lý do gây nỗi e ngại về sự “lạm phát” nguồn cung trong giới đầu tư.

    Theo giám đốc một công ty chứng khoán, xét về mặt ngắn hạn, các đợt phát hành diễn ra với mật độ dày đặc ít nhiều sẽ thu hút một nguồn tiền nhất định của thị trường. Theo đó, nguồn cung gia tăng, trong khi nguồn tiền chưa được bổ sung kịp thời có thể sẽ gây áp lực không nhỏ lên thị trường.

    Tuy nhiên, giới phân tích lại cho rằng, nếu các DN có kế hoạch kinh doanh tốt thì việc phát hành cổ phiếu vẫn là việc làm cần thiết vì những lợi ích lâu dài, mang tính nền tảng.

    Ngoài ra, theo đại diện nhiều DN, một số đợt phát hành tăng vốn là việc nằm trong chiến lược dài hạn của DN. Do đó, không vì thị trường suy giảm mà DN buộc phải thay đổi chiến lược của mình.

    Ông Nguyễn Đức Thi, chuyên viên phân tích thuộc Phòng Phân tích và Đầu tư thuộc Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) nhận xét, bên cạnh việc tiếp tục duy trì được hoạt động kinh doanh thuần, có khá nhiều DN đang thực hiện các dự án có triển vọng lợi nhuận tốt.

    Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, cho dù việc phát hành vẫn sẽ tiến hành, nhưng DN cũng nên thận trọng cân nhắc, lựa chọn thời điểm có thể coi là thuận lợi nhất để tiến hành chào bán cổ phiếu, để đợt phát hành thành công.
  6. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://www.stockbiz.vn/News/2010/9/3/140218/ngan-hang-can-noi-khong-voi-dau-co-tin-dung.aspx
    Ngân hàng cần nói không với đầu cơ tín dụng
    Báo Sài gòn tiếp thị - 03/09/2010 5:00:00 CH

    (Có 0 bình chọn. Bạn phải đăng nhập để bình chọn.)
    [​IMG] In tin | [​IMG] Lưu vào sổ tay | [​IMG] Gửi email | [​IMG] RSS


    [​IMG] “Việt Nam muốn phát triển được phải xây dựng được hệ thống tài chính lành mạnh, mà ở đó, tín dụng không được cho vay để đầu cơ

    Đó là phát biểu của giáo sư Hansjoerg Herr, đại học Kinh tế và luật Berlin (Đức) trong một hội thảo về thị trường tài chính – ngân hàng Việt Nam mới đây.

    Dòng tiền đầu cơ ngày càng nhiều

    Cũng nói về vấn đề này, tiến sĩ Phạm Hồng Chương, đại học Kinh tế Hà Nội đặt ra câu hỏi: tại sao khi kinh tế khó khăn, doanh nghiệp khó khăn nhưng các ngân hàng vẫn lãi to? Có phải do trình độ quản trị của các ngân hàng đã tốt lên?

    “Thực tế, có ít ngân hàng thương mại có được mô hình quản trị tốt. Vấn đề chính ở đây là nhiều ngân hàng cho vay quá nhiều vào lĩnh vực không tạo ra phát triển xã hội như chứng khoán, bất động sản…”, ông Chương nói.

    Theo ông Chương, trong khi doanh nghiệp sản xuất phải rất vất vả mới có 10 – 18% lợi nhuận trong một năm, thì dòng tiền đầu cơ lại có thể sinh lời từ 20 – 30%, thậm chí lên đến 40% chỉ trong vài tháng. Chính khoản lợi nhuận thu được từ những dòng tiền đầu cơ này đã làm triệt tiêu động lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tăng chi phí sản xuất kinh doanh do nguồn lợi nhuận này đã làm cho giá cả hàng hoá tăng lên bất thường.

    “Chính vì vậy mà toàn bộ tinh tuý của Việt Nam thay vì đầu tư sản xuất kinh doanh, lại tìm hướng đầu cơ vào bất động sản, chứng khoán”, ông Chương nhận định.

    Thực tế, mỗi lần chính sách tiền tệ điều chỉnh thì hầu hết các ngân hàng hoặc kiếm tiền “bạt mạng”, hoặc “chết cứng”. Bằng chứng cho thấy, mỗi khi có thông tin nới lỏng chính sách tiền tệ, thị trường chứng khoán liên tục tăng trần, dòng tiền đổ vào thị trường không hiểu từ đâu mà nhiều thế? Giá bất động sản tăng theo từng ngày, người người đổ xô vào mua nhà, mua đất… Khi chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt, hạn chế cho vay kinh doanh bất động sản, chứng khoán ví dụ như thông tư 13 mới đây của ngân hàng Nhà nước thì giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán liên tục giảm sàn; giá nhà, bất động sản giảm liên tục và không có người mua, thị trường rơi vào tình trạng mất thanh khoản.

    Tín dụng không để cho vay đầu cơ

    Một vấn đề đáng lưu ý khác, theo giáo sư Hansjoerg Herr, tín dụng cấp từ hệ thống ngân hàng phải được đầu tư vào doanh nghiệp chế tác, công nghiệp, sản xuất và ông đã dẫn kinh nghiệm của các nước Đông Á về việc quản lý dòng tín dụng chảy vào thị trường này như thế nào cho hiệu quả.

    Theo kinh nghiệm này, vùng lãnh thổ ở Đông Á trong những năm 50, 60 của thế kỷ trước như Nhật Bản, sau đó là Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia… đã đạt được kỳ tích kinh tế trong thời gian dài. Việc mở rộng tín dụng hướng vào khu vực công nghiệp có sự hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp lớn, các ngân hàng và Nhà nước.

    Và với định hướng tín dụng này, “các cá nhân hầu như không thể vay được tiêu dùng và việc mở rộng tín dụng cho khu vực bất động sản cũng được hạn chế chặt chẽ”, giáo sư Hansioerg Herr nói.

    “Việc đầu tư vào doanh nghiệp sản xuất sẽ tạo ra những khoản thu nhập và những nguồn thu nhập đó mới nảy sinh ra gửi tiết kiệm ngân hàng. Từ đó, dòng vốn được sinh lời này lại dành để cho vay doanh nghiệp sản xuất để tạo ra những khoản thu nhập gửi ngân hàng. Việc mở rộng tín dụng theo hướng này về lâu về dài sẽ tạo ra sự phát triển bền vững cho hệ thống ngân hàng, tài chính và đất nước phát triển tốt hơn”, ông phân tích.

    Trong khi nếu cấp vốn cho một hoạt động đầu cơ như bất động sản thì trong thời gian trung hạn, tỷ lệ nợ cũng gia tăng mà không đạt được sự phát triển bền vững. Cho vay tiêu dùng hộ gia đình cũng mang lại rủi ro tương tự, giáo sư Hansjoerg Herr cảnh báo.

    Theo giáo sư Hansjoerg Herr, dư nợ cho vay trong nước tính ra % GDP năm 2007 của Việt Nam so với các nước khác không phải là thấp. Năm 2007, dư nợ cho vay tín dụng chiếm 96% GDP, cho vay trong khu vực tư nhân chiếm 93% GDP. Trong khi đó con số tương ứng này ở Trung Quốc là 132% và 111%, Brazil là 96% và 50%, Ấn Độ là 64% và 47%, Hàn Quốc là 110% và 108%…

    “Nếu 30% dư nợ tín dụng này đổ vào đầu tư bất động sản thì sao? Như vậy, Việt Nam chỉ còn 60% và liệu ai dám chắc con số này sẽ đầu tư vào doanh nghiệp sản xuất mà lại cho vay để đầu cơ ở lĩnh vực khác như vàng, USD, chứng khoán…?”, giáo sư Hansjoerg Herr đặt câu hỏi.

    Để ngăn chặn được dòng vốn đầu cơ, theo ông Chương, phải sớm có giải pháp và trách nhiệm trước hết thực hiện nhiệm vụ này là của Chính phủ.



  7. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://cafef.vn/20100903040918766CA31/ap-luc-moi-doi-voi-cong-ty-chung-khoan.chn
    Áp lực mới đối với công ty chứng khoán
    [​IMG]

    Bộ Tài chính đang xem xét việc sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán đối với các công ty chứng khoán.



    Theo ông Đặng Thái Hùng, Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán (Bộ Tài chính), việc sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán đối với các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ nằm trong kế hoạch tổng thể sửa đổi, hiện đại hoá chế độ kế toán đối với các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán.

    Giới phân tích kỳ vọng, sửa đổi lần này sẽ giúp cho hoạt động của công ty chứng khoán minh bạch hơn, nhưng họ cũng sẽ phải đối mặt với những áp lực mới. Theo các nhà chuyên môn, việc kinh doanh của công ty chứng khoán có những khác biệt so với các ngành nghề kinh doanh khác, các doanh nghiệp này mua bán một thứ hàng hóa vô hình, chỉ là giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản, nhưng lại có giá trị rất lớn.
    Trong khi đó, hàng hoá chứng khoán có giá cả thay đổi liên tục và được mua đi bán lại thường xuyên, nên các nghiệp vụ phát sinh rất phong phú, phức tạp.
    Ngoài ra, công ty chứng khoán còn có những nghiệp vụ đặc trưng như bảo lãnh phát hành cổ phiếu, cầm cố cổ phiếu, cho vay, repo chứng khoán... không giống nghiệp vụ của các doanh nghiệp thông thường khác. Công ty chứng khoán còn quản lý, giao dịch những hàng hóa, tài sản không phải của công ty trong nghiệp vụ môi giới, tạm giữ cầm cố, lưu ký chứng khoán... nên phụ lục tài sản ngoài bảng cũng rất nhiều.
    Gần đây, dư luận đặt ra những yêu cầu, công ty chứng khoán phải công bố danh mục đầu tư cổ phiếu, trái phiếu… Theo đại diện của Bộ Tài chính, việc công bố này thực chất cũng không vi phạm nguyên tắc bí mật kinh doanh, nhưng để đảm bảo công bằng giữa các nhà đầu tư tổ chức trên thị trường chứng khoán, việc đưa ra quy định yêu cầu công ty chứng khoán công bố danh mục đầu tư cần phải tiến hành đồng thời với các tổ chức đầu tư khác.
    Theo ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó tổng Giám đốc Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC), nếu Bộ Tài chính có quy định yêu cầu các công ty chứng khoán công bố công khai danh mục đầu tư và giá giao dịch chứng khoán mà họ đầu tư, sẽ tạo thuận lợi cho việc hạch toán dự phòng giảm giá chứng khoán của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán.
    Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán có đầu tư tài chính, tuy nhiên, việc thu thập thông tin giá thị trường của các cổ phiếu mà doanh nghiệp đầu tư gặp không ít khó khăn.
    Cụ thể, theo quy định, giá chứng khoán OTC mà các doanh nghiệp đầu tư được xác định là giá trung bình trên cơ sở giá giao dịch được cung cấp tối thiểu bởi 3 công ty chứng khoán tại thời điểm lập dự phòng. Nhưng trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp đều không đưa ra được giá giao dịch theo yêu cầu đó, do hiện nay, hầu hết các công ty chứng khoán không công khai danh mục đầu tư và giá giao dịch các cổ phiếu của họ.
    Về phía công ty chứng khoán, nhiều công ty cũng tỏ ra lo ngại, việc công khai danh mục đầu tư có thể sẽ gây bất lợi cho họ trong kinh doanh, vì đây là một trong những bí mật kinh doanh, nếu công khai thông tin này sẽ là “vạch áo cho người xem lưng”.
    Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, vấn đề sẽ không có gì nghiêm trọng, khi tất cả sẽ cùng phải công khai.
    Trong khi đó, theo chuẩn mực kế toán quốc tế, về nguyên tắc, các công ty chứng khoán phải phản ánh danh mục đầu tư trong báo cáo tài chính quý và cả năm.

    Việc áp dụng chuẩn mực kế toán này không chỉ giúp cơ quan quản lý giám sát hoạt động đầu tư của các công ty chứng khoán, mà còn góp phần minh bạch các khoản mục đầu tư của công ty chứng khoán trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
    Theo Chí Tín
    Báo Đầu tư


  8. alibabavn2

    alibabavn2 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    22/05/2010
    Đã được thích:
    0
    hay quá, thảo nào thị trường tăng ác thế, mọi người vẩn nghỉ giải chấp hơn 50.000 tỷ cơ mà.
    thế này lại tăng vù vù rồi.
  9. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://cafef.vn/20100902090857118CA31/cai-bep-lai-co-the-nguoi-lanh.chn
    Cái bếp lại có thể nguội lạnh


    Dấu hỏi về dòng tiền vào thị trường chứng khoán vẫn chưa rõ ràng nếu doanh nghiệp nhà nước lại thoái vốn để rút tiền ra ở thời điểm này.



    Sau hai phiên phục hồi ấn tượng đầu tuần, VN-Index đã trở lại mốc trên 450 điểm. Tuy nhiên, dấu hỏi về dòng tiền vào thị trường vẫn chưa rõ ràng nếu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) lại thoái vốn để rút tiền ra ở thời điểm này.

    Ngày 27-8-2010, Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển Gemadept (GMD) công bố thông tin Tổng công ty Hàng hải (Vinalines), cổ đông lớn, đã bán xong 2 triệu cổ phiếu và hiện chỉ còn sở hữu hơn 100.000 cổ phiếu GMD. Đây là lần thoái vốn thứ ba của Vinalines ở doanh nghiệp này kéo dài từ năm 2009 và với sự ra đi của Vinalines, Nhà nước hầu như không còn vốn ở Gemadept.

    Sẽ là không khách quan khi nói rằng sự sụt giảm giá cổ phiếu GMD thời gian qua do sự thoái vốn của cổ đông nhà nước. Trong một thị trường “con gấu”, cổ phiếu GMD cũng không thể cưỡng lại xu thế chung dù công ty là doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực logistics.

    Nhưng sẽ công bằng khi nhận xét việc bán ra cổ phiếu của Vinalines là một trong số những nguyên nhân góp phần làm GMD rớt giá và rớt mạnh hơn tốc độ rơi chung của VN-Index.

    Ngày 25-8-2010, giá GMD còn 32.400 đồng/cổ phiếu, tương đương 40.700 đồng/cổ phiếu trước khi chia tách, thấp hơn giá trị sổ sách là 53.150 đồng/cổ phiếu gần 24%. So với mức đỉnh 117.000 đồng/cổ phiếu thiết lập trong 52 tuần qua, cổ phiếu GMD đã giảm 65,2%.

    Một gương mặt khác: Công ty cổ phần Đầu tư kinh doanh nhà Intresco (ITC-Hose). Sau khi tăng vốn, ITC đã lao dốc không ngừng nghỉ từ mức đỉnh 42.500 đồng/cổ phiếu cuối tháng 4-2010 xuống 21.500 đồng/cổ phiếu ngày 27-8-2010, giảm gần 50%. Giá này thấp hơn giá trị sổ sách của ITC là 26.800 đồng/cổ phiếu khoảng 20%.

    Khác với GMD, nơi thông tin cổ đông nhà nước thoái vốn rõ ràng, tin đồn Tổng công ty Địa ốc Sài Gòn chuẩn bị thoái 16% vốn, tương đương 11,1 triệu cổ phiếu của ITC, cứ lan ra mà không có bất cứ một thông tin xác nhận hay phủ định chính thức nào từ công ty.

    Trước đó, đầu tháng 6-2010, ITC công bố thông tin Tổng công ty Địa ốc Sài Gòn bán 3,72 triệu quyền mua cổ phiếu trong vòng một tuần theo hình thức thỏa thuận. Tuy nhiên năm ngày sau khi thời hạn thỏa thuận kết thúc, ITC lại ra một thông báo khác là cổ đông nhà nước không bán được quyền mua cổ phiếu. Nhà đầu tư không rõ thực hư thế nào.
    Trên đây chỉ là hai thí dụ về việc thoái vốn của Nhà nước ở các doanh nghiệp niêm yết. Điều đáng nói là sáu tháng đầu năm nay, cả GMD lẫn ITC đều hoạt động kinh doanh bình thường, không thua lỗ và có khả năng đạt lợi nhuận kế hoạch năm. Dù muốn hay không, việc đã, đang và chuẩn bị thoái vốn của các tập đoàn, tổng công ty đã góp phần làm VN-Index giảm sâu.
    Không thể trách cứ các DNNN bởi họ thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định 09/ND-CP ban hành ngày 5-2-2009 về việc phải tập trung vốn cho những lĩnh vực kinh doanh chính. Hơn nữa, gần đây nhất, ngày 19-8-2010 Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 1568/CT-TTg triển khai thực hiện kết luận số 78-KL/TW của Bộ Chính trị về đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả DNNN.
    Một trong những yêu cầu của chỉ thị là chấn chỉnh việc đầu tư vốn vào những ngành không liên quan đến ngành kinh doanh chính của các tập đoàn, tổng công ty. Điều 6, khoản b của chỉ thị nói rõ các bộ, ngành phải báo cáo Thủ tướng trước ngày 31-12-2010 về đánh giá toàn diện hoạt động, hiện trạng cơ cấu, đề xuất điều chỉnh cần thiết mô hình tổ chức hoạt động của tập đoàn, tổng công ty thuộc phạm vi quản lý của mình.
    Thiết nghĩ việc đánh giá thực trạng, tái cấu trúc các DNNN không thể không làm vì đó là nòng cốt để tái cấu trúc nền kinh tế, nhưng thực hiện như thế nào để đạt mục tiêu có lẽ quan trọng hơn. Bộ Tài chính, với sự phối hợp của các bộ khác, hoàn toàn có khả năng tổng hợp số vốn mà Nhà nước cần thoái ở các doanh nghiệp là bao nhiêu, phân biệt rõ công ty niêm yết và chưa niêm yết, từ đó đưa ra một lộ trình thích hợp.
    Trong trường hợp việc thoái vốn nhà nước ở các công ty niêm yết diễn ra ồ ạt, nhất là khi thời điểm phải hoàn tất mà Nghị định 09 đưa ra đang đến gần, sẽ xảy ra hai bất lợi: thứ nhất, khi chứng khoán giảm giá, số tiền Nhà nước thu được từ bán cổ phiếu sẽ ít hơn. Số tiền ngân sách nhà nước thu được từ việc thoái vốn có thể tăng hàng chục phần trăm nếu VN-Index phục hồi. Việc bán rẻ tài sản nhà nước vào thời điểm giá cổ phiếu xuống thấp liệu có nên?
    Thứ hai, dòng tiền vào thị trường chứng khoán mới chỉ bắt đầu phục hồi, DNNN lại thoái vốn để rút tiền ra ở thời điểm này thì có khác nào rút củi dưới đáy nồi, cái bếp có thể lại trở nên nguội lạnh. Lúc đó, giả sử Nhà nước có muốn bán giá thấp cũng khó tìm được người mua. Chưa kể điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến thị trường tài chính nói chung.
    Để việc thoái vốn của Nhà nước hiệu quả, động thái ưu tiên và cần kíp trước mắt là tạo thanh khoản cho chứng khoán. Muốn bán được hàng, mà lại bán với giá tốt, thì không chỉ đơn giản chở hàng đến chợ là xong. Cần có người bán, người mua, và mua nhiều, bán nhiều.

    Tính đến ngày 27-8-2010 tổng mức vốn hóa của sàn Hà Nội là 106.884 tỉ đồng (nguồn: Hnx); của sàn TPHCM là 481.391 tỉ đồng (nguồn: Hose), cả hai sàn là 588.275 tỉ đồng, tương đương 30 tỉ đô la Mỹ. Thế nhưng giá trị giao dịch hàng ngày của cả hai sàn những tuần gần đây chỉ khoảng 1.600-1.700 tỉ đồng, tức 80-85 triệu đô la Mỹ, quá èo uột. Với thanh khoản thế này, Nhà nước làm sao thoái vốn nổi?
    Trên thực tế, việc kích thích thanh khoản chứng khoán có thể tiến hành ngay bằng các động thái kỹ thuật như cho phép giao dịch T+2, một nhà đầu tư được mở nhiều tài khoản, đơn giản hóa điều kiện giao dịch ký quỹ... Đối với chính sách tiền tệ, là sự phản ứng nhanh chóng và rõ ràng trước những biến động kinh tế.
    Đã sáu tháng kể từ khi Chính phủ chỉ đạo hạ mặt bằng lãi suất, tín dụng tiền đồng vẫn không thể tăng trưởng mạnh. Các ngân hàng vẫn đang “loay hoay” với việc tăng vốn lên 3.000 tỉ đồng; bán bớt các khoản đầu tư để lo cho được hệ số an toàn vốn 9% vào ngày 1-10-2010; tăng lãi suất huy động đô la Mỹ vì dư nợ cho vay ngoại tệ đang cao hơn tổng vốn huy động ngoại tệ khá nhiều... Một khi tình hình nói trên kéo dài, việc thoái vốn của Nhà nước sẽ còn khó khăn!
    Theo Hải Lý
    TBKTSG


  10. NhanVienHSC

    NhanVienHSC Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    02/06/2010
    Đã được thích:
    6
    Co hang giai chap thi luc do thi truong sap vao day

Chia sẻ trang này