Bài xì phé của những thằng lừa đảo

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi apple68, 18/12/2008.

103 người đang online, trong đó có 41 thành viên. 03:54 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 2662 lượt đọc và 28 bài trả lời
  1. apple68

    apple68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    03/01/2008
    Đã được thích:
    0
    Bài xì phé của những thằng lừa đảo

    Hết giờ trading, mời anh em quay sang đọc tý sách, anh mới sưu tầm được trên in tếch nách. Mọi trader đều nên đọc qua. Thằng nào đọc thì đọc không thích đọc thì lượn.., hay còn gọi làm chim cút

    ----------

    Lời Nói Đầu

    Tôi là một người bán trái phiếu ở Wall Street và London. Làm việc bên cạnh những trader ở Solomon Brothers, đã đặt tôi, tôi tin, vào trung tâm của một trong những sự kiện quan trọng của một thời đại. Trader là sư phụ của chém giết nhanh gọn và có rất nhiệu cuộc chém giết diễn ra cũng rất nhanh gọn trong khoảng 10 năm qua. Và Solomon Brothers là ông vủa của những traders. Những gì tôi cố gắng làm trong quyển sách này, ngoại trừ việc rời khỏi sàn giao dịch Salomon, là mô tả và giải thích những sự kiện, những thái độ đã làm nên cá tính của một kỉ nguyên. Câu chuyện đôi khi lan man nhưng nó vẫn là câu chuyện của tôi từ đầu đến cuối. Số tiền mà tôi đã không kiếm được, những lời nói dối mà tôi đã không nói ra, tôi vẫn hiểu, trong tư cách cá nhân, đó là vì vị trí công việc của tôi.

    Đâu đó gần trung tâm của cuộc đô xô tìm vàng hiện đại. Chưa bao giờ mà rất nhiều thanh niên 24 tuổi, không có kĩ năng lại kiếm được rất nhiều tiền trong một thời gian cực kì ngắn như chúng tôi đã làm trong thập kĩ qua ở New York và London. Chưa bao giờ mà một ngoại lệ có thể làm chủ qui luật thị trường rằng một người có thể lấy ra ít hơn là bỏ vào. Không phải là tôi phản đối tiền. Tôi thích có nhiều hơn là ít tiền. Nhưng tôi không thể nín thở để chờ 1 cơn bão khác ập đến. Những gì xảy ra là rất hiếm và đáng ngạc nhiên trong một giai đoạn lịch sữ khá dễ dàng tiên đoán của kiếm tiền và xài tiền.

    Có thể nói rằng, theo tiêu chuẩn mà chúng tôi đánh giá chính mình, là tôi đã thành công. Tôi kiếm rất nhiều tiền. Tôi được khuyên bởi những người quản lí công ty chúng tôi rằng một ngày nào đó tôi sẽ gia nhập bọn họ trên đỉnh cao sự nghiệp. Nhưng tôi thà không muốn bức phá sớm như vậy. Nhưng người đọc càng phải hiểu rằng tôi hoàn toàn không có lí do nào để cay đắng hay ghẻ lạnh người chủ trước của tôi. Tôi viết quyển sách này chỉ bởi vì kể một câu chuyên thì sẽ tốt hơn là tiếp tục sống trong câu chuyện đó.
    __________________


    Được apple68 sửa chữa / chuyển vào 12:52 ngày 18/12/2008
  2. apple68

    apple68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    03/01/2008
    Đã được thích:
    0
    Bài xì phé của những thằng lừa đảo - Micheal Lewis

    "Wall Street" , theo như một câu châm biếm, " là một con đường với một đầu là một dòng sông còn đầu kia là một nghĩa địa". Mô tả ấn tượng nhưng vẫn còn thiếu. Nó đã bỏ qua cái trường mẫu giáo ở giữa.


    CHƯƠNG I

    Bài Nói Dối

    Đó là vào khoảng đầu năm 1986, năm đầu tiên trong giai đoạn đi xuống của công ty tôi, Salamon Brother. Ngài chủ tịch hội đồng quản trị, John Gutfreund, rời khỏi bàn của mình ở lối vào của sàn giao dịch và đi dạo quanh. Tại bất cứ thời điểm nào trên sàn, hàng tỉ đôla đang đối mặt với rủi ro bởi dân buôn trái phiếu. Gutfreund thường hay dạo quanh và hỏi mọi người bằng những câu hỏi. Giác quan thứ 6 hướng ông ta tới bất cứ nơi nào khủng hoảng đang hiện ra. Gutfreund có vẻ như có thể ngửi thấy tiền đang bị mất.

    Ông ta là người cuối cùng mà nhà buôn thần kinh thép muốn nhìn thấy. Gudfreund (đọc là Good Friend ?" tiếng Anh nghĩa là người bạn tốt) rất thích rón rén đằng sau và làm ngạc nhiên bạn. Đó là thú vui, của ông ta nhưng bạn thì không. Luôn bận rộn nói chuyện với cả 2 cái điện thoại cùng 1 lúc, cố gằng đẩy lùi thảm họa, bạn không còn thời gian để quay lại mà nhìn. Bạn cũng không cần làm vậy. Bạn có thể cảm thấy ông ấy. Không gian xung quanh bắt đầu rung chuyển. Những người khác đều làm ra vẻ bận rôn điên cuồng trong khi đó thì nhìn chằm chằm vào 1 điểm ngay trên đầu bạn. Bạn cảm thấy một luồng khí lạnh đến tận xương tủy mà tôi tưởng tượng nó giống với cảm giác một con thỏ đang co quắp lại khi 1 con gấu lẳng lặng tiến đến nó. Tiếng báo đông rít lên trong đầu: Gutfreund! Gutfreund! Gutfreund!

    Thường thì ngài chủ tịch thường chỉ yên lặng lướt qua chút xíu và chuyển đi chỗ khác. Bạn cũng khó có khi nhìn thấy ông ta. Dấu hiệu duy nhất mà tôi thường thấy là mẩu tàn cigar rớt trên sàn, ngay kế bên ghế tôi. Tàn cigar của Gutfreand thường dài hơn và không bị vỡ ra so với tàn ciga của các các xếp khác ở công ty. Tôi luôn giả thiết rằng ông ta hút loại xì gà đắt tiền hơn nhiều so với những người còn lại, được mua bằng số tiền 40 triệu đôla mà ông ta kiếm được trong việc bán lại Solomon Brother năm 1981 hoặc trong 3,1 triệu mà ông ta trả lương cho chính mình trong năm 1986, hơn bất cứ CEO nào ở Wall Street)

    Tuy nhiên, ngày hôm đó của năm 1986, Gutfreand lại làm điều kì lạ. Thay vì làm kinh hãi tất cả chúng tôi, ông ta đi thẳng tới bàn làm việc của John Meriwether, 1 trong những thành viên quản trị của công ty và cũng là nhà buôn trái phiếu giỏi nhất của công ty. Ông ta thì thầm vài tiếng với John Meriwether. Các nhà buôn xung quanh vểnh tai gắng nghe trộm. Điều mà Gutfreund đã nói trở thành một huyền thoại tại Salomon Brother và là một phần tên tuổi của công ty. Ông ta nói rằng ?o 1 ván, 1 triệu đô la, không được khóc.?

    1 ván, 1 triệu đô la, không được khóc. Meriwether bắt lấy ý nghĩa ngay tức thì. Ông Vua Của Wall Treet, như tuần báo Business Weeks đã phong cho Gutfreund, muốn chơi 1 ván tay đôi trò chơi gọi là ?oBài Nói Dối?. Ông ta chơi trò này hầu hết các buổi chiều với Meriwether và 6 trader trẻ khác đang làm việc dưới quyền Meriwether và thường bị lột sống. Vài người nói rằng Gutfriend luôn thua thê thảm. Người khác cũng không thể tưởng John Gutfreund giống ai đó ngoại trừ là người có quyền lực tuyệt đối ở công ty và rất nhiều người kể lại rằng thách đấu như vậy là hoàn toàn không thích hợp với tác phong của ông ta. Nhưng chính xác, đó lại làm sự việc trở nên huyền bí.

    Điểm khác biệt của lần thách đấu này của Gutfreund là độ lớn của tiền cược. Bình thường thì ông ta chỉ cá không hơn vài trăm đô. 1 triệu thì chưa bao giờ nghe. 2 chữ cuối cùng ?okhông khóc? có nghĩa kẻ thua cuộc sẽ được mọi người trông đợi ở sự đau đớn tột cùng nhưng không được phép than van, chửi rủa hay rên rỉ. Anh ta bắt buộc phải giữ sự mất mát cho chính mình. Nhưng tại sao? Bạn có lẽ hỏi vậy giả sử mình là bất cứ ai đó ngoại trừ Ông Vua của Wall Street. Tại sao phải làm như vậy ngay từ đầu? Tại sao phải thách đấu với chính Meriwether mà không phải ai đó trong những giám đốc quản lý khác? Nó giống như 1 hành động điên rồ. Bởi vì Meriwether là Ông Vua Của Trò chơi. Nhà vô địch về ?oBài Nói Dối? của sàn giao dịch Salomon Brothers.

    Mặc khác, một điều bạn học được trên sàn giao dịch rằng người thành đạt như Gutfeund luôn có vài lí do cho điều ông ta làm. Đó có thể không phải là lí do tốt nhất, nhưng ít ra nó là một quan điểm. Tôi không thể đọc ý nghĩa sâu kín nhất của Gutfreund, nhưng tôi biết rằng tất cả mọi người trên sàn giao dịch đều cờ bạc và ông ta khao khát là một người trong bọn họ. Cái tôi nghĩ Gutfreund có ở trong đầu trong lúc này là ước ao chứng tỏ dũng khí. Ai có thể tốt hơn Meriwether cho mục đích này? Ngoài ra, Meriwther có lẽ là người duy nhất có đủ cả tiền và thần kinh để chơi.

    Cái tình cảnh trái khoáy này cần được đặt trong 1 khung cảnh. John Meriwether, trong sự nghiệp đã mang về hàng trăm triệu đô cho Salomon Brothers. Anh ta có một khả năng, hiếm thấy ở người khác, và là một đặc điểm quý giá đối với dân buôn tài chính: che dấu cảm xúc. Hầu hết trader đều lộ ra họ thắng hay thua trong cách nói chuyện và di chuyển. Họ sẽ quá dễ chịu hoặc quá căng thẳng. Với Meriwether, bạn không hề, không bao giờ nhận ra. Anh ta lúc nào cũng mang vẻ mặt nữa vui nữa buồn khi thắng và ngay cả khi thua. Tôi nghĩa anh ta có một khả năng điều khiển cả hai cảm xúc thường hủy hoại dân trader: sự tham lam và sự sợ hãi, và nó tạo anh ta thành một người ưu tú trong thế giới tài chính quyết liệt này. Anh ta còn được mọi người trong công ty công nhận là một nhà buôn trái phiếu giỏi nhất trong Wall Street. Xung quanh côngty, chỉ có giọng điệu kĩnh hãi khi mọi người nói về anh ta. Họ nói ?o Anh ta là người làm ăn giỏi nhất ở đây? hoặc ?o người đối mặt với rủi ro giỏi nhất mà tôi từng gặp? hay ?o người chơi Bài Nói Dối cực kì nguy hiểm?.

    Meriwether làm say mê đám trader trẻ làm việc cho anh ta. Bọn họ chỉ khoảng từ 25 đến 32 tuổi ( Meriwether lúc đó 40). Hầu hết đều mang học vị tiến sĩ về toán học, kinh tế học, và, hay vật lý học. Nhưng khi đến với phòng làm việc của Meriwther, họ rủ bỏ hết dáng vẻ trí thức, và trở thành môn đồ của anh ta. Họ bị ám ảnh bởi trò chơi Bài Nói Dối, quan tâm nó như là đó là trò chơi của chính mình, và quan trọng hóa nó lên tầm cao hơn.

    John Gutfruend luôn là người ngoài đối với trò chơi này. Đành rằng, Business Week đăng hình ông ta lên trang đầu và gọi ông ta là ?oVua của Wall Street?, nhưng đó chẳng có ý nghĩa gì đối với bọn trẻ. Và tôi muốn nói, đó chính là vấn đề ở đây. Khi Gutfreund được trao vương miện bởi giới truyền thông, bạn có thể thấy ngay đám dân trader suy nghĩ: ?onhững cái tên và khuôn mặt ngu xuẩn thường xuất hiện nơi công cộng?. Công bằng mà nói, Gutfreund đã từng một thời là trader, nhưng như vậy có khác gì một bà già tự cho là mình cũng một thời sắc nước hương trời.

    Gutfruend cũng thừa nhận như vậy. Ông ta rất thích trade. So với quản lý, trade là công việc trực tiếp. Bạn đặt cược, và bạn có thể thắng hoặc thua. Khi bạn thắng, tất cả mọi người từ dưới lên trên cùng đều khâm phục, thèm muốn , và sợ bạn với lí do: bạn điều khiển đồng tiền. Khi bạn quản lý công ty, tất nhiên bạn nhận lấy một khoảng khâm phục, thèm muốn và sợ hãi. Nhưng với tất cả những lí do nào khác, bạn không làm ra tiền cho công ty. Bạn không đối mặt với rủi ro. Bạn là đồ thế chấp của người sản xuất. Họ đối mặt với rủi ro.Họ chứng minh sự ưu việt mỗi ngày bằng cách giải quyết rùi ro tốt hơn bất cứ ai trên thế giới ?o nhưng người đối mặt với rủi ro?. Tiền được đem về từ những người giải quyết rủi ro như Meriwether và nếu nó có được mang về hay không đều nằm ngoài sự điều khiển của Gutfreund. Đó là lí do tại sao rất nhiều người nghĩ rằng việc thách John Meriwether chơi một ván với một triệu đô la là cách mà Gutfreund khoe khoang rằng mình cũng là một kẻ máu me. Và nếu mà bạn muốn phô trương, Bài Nói Dối là cách duy nhất. Trò chơi này có ý nghĩa đặc biệt đối với dân trader. Những người như John Meriwether tin rằng Bài Nói Dối có rất nhiều điểm chung với buôn bán trái phiếu. Nó kiểm tra tính cách của trader. Nó mài giũa bản năng của trader. Một trader giỏi cũng là người chơi bài giỏi và ngược lại. Tất cả chúng tôi đều hiểu điều đó.

    Trò chơi: trong Bài Nói Dối, một nhóm ít nhất là 2 và nhiều là 10 vây lại thình một vòng tròn. Mỗi người chơi giữ một tờ đô la ngang ngực. Trò chơi tương tự như tinh thần của trò chơi Tôi không tin. Mỗi người cố gắng lừa người khác về số sê ri in trên tờ tiền anh ta cầm. 1 người bắt đầu mằng cách đặt giá. Anh ta nói, ví dụ như ?o 3 số 6?. Nghĩa là tất cả số seri của tất cả các tờ đô la công lại kể cả tờ của anh ta đều có ít nhất 3 số 6.

    Khi mà lần ra giá đầu tiên được đặt, trò chơi chuyển theo chiều kim đồng hồ. Ví dụ khi ?o3 số 6? được ra giá, người chơi bên trái của người đặt giá có thể làm 2 thứ. Anh ta có thể ra giá cao hơn ( có 2 loại ra giá cao hơn: cùng số lượng với con số lớn hơn [ 3 số 7, 3 số 8 hay 3 số 9] và nhiều hơn số lượng của bất kì số nào [ ví dụ 4 số 5]). Hay anh ta có thể ?othách? giống như là nói ?o tôi không tin?.

    Đặt cược sẽ leo ********* đến khi tất cả các người chơi khác đều ?othách? giá cược của 1 người duy nhất. Khi đó, và chỉ khi đó, tất cả người chơi lật số seri ra và xem xem người nào tháu cáy người nào. Trong đầu của người chơi xoay vần với các sác xuất. Đâu là khả năng xảy ra cho 3 số 6 trong 1 xấp, chẳng hạn 40 số seri? Với người chơi giỏi, tuy nhiên, tính toán chỉ là chuyện nhỏ, cái khó là đọc gương mặt của người chơi. Và trò chơi càng phức tạp hơn khi tất cả người chơi đầu biết cách thấu cáy, và thấu cáy ngược lại.

    Trò chơi có vài cảm giác của trading, giống như đấu kiếm có vài cảm giác của chiến trận.

    Câu hỏi mà người chơi bài phải hỏi chính mình là, cho tới 1 lúc, không khác gì câu hỏi mà dân trader hỏi. Đây có phải là hành động thông minh? Đôi có đang cảm thấy may mắn không? Đối phương xảo trá tới cỡ nào? Đối phương có biết mình đang làm gì không, và nếu không, làm sao tôi có thể khai thác điểm yếu này? Có phải hắn ta đang cố dụ mình hoặc là hắn thật sự có tứ quí? Mỗi người chơi đều tìm kiếm điểm yếu, khả năng phán đoán và dấu hiệu của người khác và cố gẳng tránh xa nó cho chính mình. Dân trader trái phiếu ở Godman Sachs, First Boston, morgan Stanley, Merrill Lynch và các công ty khác ở Wall Street đều chơi vài phiên bản của trò chơi này. Nhưng nơi mà tiền cược được đặt lớn nhất, xin cám ơn Meriwether, là sàn giao dịch trái phiếu của Salomon Brother ở New York.

    Luật lệ của ?oBài Nói Dối ?o cũng giống như luật đấu súng. Nó bắt buộc một người phải chấp nhận mọi lời thách đấu. Bởi vì luật này mà John Meriwether bị bắt buộc phải chơi. Nhưng anh ta biết rằng như vậy thật là ngu ngốc. Đối với anh ta, không hề có lợi ích nào. Nếu anh ta thắng, anh ta sẽ làm sếp mình giận. Điều này không tốt. Nhưng nếu anh ta thua, 1 triệu đô la sẽ bay khỏi túi quần. Điều này còn tồi tệ hơn là làm sếp giận. Mặc dù, John Meriwether là 1 người chơi giỏi hơn nhiều, nhưng trong một ván tay đôi, mọi chuyện đều có thể xảy ra. Kết quả cỏ thể hoàn toàn chỉ là may mắn. Trong công việc Meriwether thường có khỉ bỏ cả ngày chỉ để tránh các giao dịch ngu xuẩn, cho nên anh ta dường như không chấp nhận lần này.

    ?oỒ không John,? anh ta nói với Gutfruend, ?onếu chúng ta đã chơi với những con số như vậy, tôi thà chơi với tiền thật. 10 tiệu đô, không được khóc?

    10 triệu đô la. Đó là khoảnh khác tuyệt diệu. Meriwether đang chơi Bài Nói Dói ngay trước khi ván bài bắt đầu. Anh ta đang thấu cáy. Gutfreund phải cân nhắc đề nghị của Meriwether. Tưởng chừng như ông ta chấp nhận, có lẽ đó là một xa hoa cho giải trí đầu óc đơn thuần, làm ông ta thoải mái ( thật sướng khi là một người giàu có). Nhưng mặt khác, 10 triệu đô là rất nhiều tiền. Nếu Gutfreund thua, ông ta chỉ còn lại chừng 30 triệu đô. Vợ ông ta, Susan, đang bận rôn tiêu xài 1 khoảng 15 triệu trang hoàng ngôi nhà của họ ở Manhattan. (Meriwether biết điều này). Và Gut Freund là sếp, ông ta chẳng hề bị bó buộc bởi luật của Meriwether. Có lẻ điểm cốt yếu của sự thách đấu chỉ là xét đoán phản ứng của Meriwether (ngay cả Gutfreund cũng phải ngạc nhiên). Thế là Gutfreund khước từ. Thật ra, ông ta nở nụ cười miễn cưỡng chính hiệu của mình và nói ?o anh thật là điên?
  3. apple68

    apple68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    03/01/2008
    Đã được thích:
    0
    CHƯƠNG II

    KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC NÓI ĐẾN TIỀN

    Em muốn trở thành một nhân viên ngân hàng đầu tư (investment banker). Nếu bạn có 10,000 cổ phiếu, em sẽ bán nó giúp bạn. Em sẽ kiếm được nhiều tiền. Em yêu công việc của mình vô cùng. Em sẽ giúp đỡ mọi người. Em sẽ trở thành triệu phú. Em sẽ có một ngôi nhà to, nó sẽ làm em hạnh phúc.
    --- Học sinh lớp 7 ở tiểu bang Minesota ?o Những điều em muốn khi lớn lên? ?" tháng 3, 1985


    Tôi sống tại London vào mùa đông 1984, vừa tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế ở Đại Học Kinh Tế London ( London School of Economics), và cũng lúc tôi nhận được thiệp mời đi dự dạ tiệc với bà Hoàng Thái Hậu. Sở dĩ tôi được mời là thông qua một cô em họ xa mà mấy năm trước đính hôn với một nam tước người Đức. Mặc dù tôi không phải là người thường xuyên được mời dự tiệc ở Cung Điện St.James, nhưng cô em họ tôi thì rất hay được mời. Tôi thuê một bộ vest đen, leo lên xe điện ngầm và lên đường. Sự kiện này là mắt xích đầu tiên trong một chuỗi những chuyện hầu như không thể xảy ra và kết thúc bằng việc tôi được nhận vào làm việc cho Solomon Brothers.

    Bữa dạ tiệc được quảng cáo rùm beng này hóa ra là một cuộc gặp gỡ đễ gây quĩ của Hoàng gia Anh và và bảy hay tám trăm nhân viên bán bảo hiểm. Chúng tôi rạo rực bước qua đại sảnh có những chiếc ghế gỗ màu sẫm đặt trên những chiếc thảm đỏ màu rượu vang bên dưới những bức chân dung của gia đình Hoàng gia, cứ như là đang thử giọng để hát phụ họa cho dàn đồng ca ?o Masterpiece Theater?. Đâu đó trên đại sảnh là 2 vị giám đốc điều hành ( Managing Director) của Solomon Brothers. Tôi biết điều này chỉ vì tôi được ngồi giữa 2 bà vợ của họ, quả là điều may mắn.

    Bà vợ của vị giám đốc điều hành cao cấp hơn của Salomon Brother, một người Mỹ tay nắm chặt mép bàn mỗi khi cố nghểnh cổ để nhìn lướt về phía các vị trong Hoàng gia Anh. Khi bà ta biết rằng tôi đang chuẩn bị tìm việc và có ý muốn tham gia vào ngành tài chính, bà đã chuẩn buổi tối đó thành cuộc phỏng vấn. Bà ta đã chọc, hỏi và đâm tôi đến gần như chao đảo, và đã hài lòng. Khi kiểm tra xong điều thú vị với tuổi 24 của tôi, bà ta hỏi tại sao tôi lại không vào làm việc ở sàn giao dịch của Solomon Brothers.

    Tôi cố gắng bình tĩnh. Tôi sợ nếu tôi tỏ ra quá hăm hở thì bà ta sẽ nhận ra mình đã mắc một sai lầm ghê gớm. Gần đây tôi nghe thấy lời bình luận đầy tính truyền thuyết của John Gutfreund là để thành công trên sàn giao dịch của Solomon Brothers, người ta phải dậy sớm vào mỗi buổi sáng với tinh thần ?o sẵn sàng cắn nát mông một con gấu?. Tôi nói, việc đó không có vẻ buồn cười..lắm. Tôi đã giải thích cho bà ta khái niệm của mình về cuộc sống sẽ là như thế nào khi làm việc trong một ngân hàng đầu tư. ( Việc mô tả bào gồm một văn phòng to bằng kính, một cô thư kí, một tài khoản chi tiêu lớn và một lô những cuộc họp hành với các vị đứng đầu ngành công nghiệp). Công việc này vẫn tồn tại ở Solomon Brothers, nhưng nó không được coi trong nữa. Nó gọi là Tài Chính Doanh Nghiệp ( Corporate Finance). Nó khác với Đầu tư (sale & trade), xong nhìn chung cả hai đầu là công việc của ngân hàng đầu tư. Sàn giao dịch của Gutfreund nơi mà cổ phiếu và trái phiếu được mua và bán, là trung tâm ầm ĩ ì xèo của việc kiếm tiền và chấp nhận rủi ro. Các nhà buôn ( trader) không có thư kí, văn phòng hay họp hành. Lãnh vực Tài Chính Doanh Nghiệp, phục vụ các công ty và chính phủ trong việc vay mượn, họ được gọi là ?o khách hàng? cho có vẻ thanh tao và tế nhị nhưng đó là chỉ là thế giới nhỏ bé. Bởi vì họ không liều với tiền, các nhà Tài Chính Doanh Nghiệp luôn bị dân trader xem là những kẻ yếu đuối nhu nhược. Tuy nhiên với bất cứ tiêu chuẩn nào ngoại trừ tiêu chuẩn của Wall Street, Tài Chính Doanh Nghiệp vẫn còn là khu rừng rậm đầy rẫy những người khổng lồ ăn thịt người).

    Đến khi tôi đã gần nói hết thì quí bà Salomon vẫn còn ngồi lặng lẽ. Rồi thở dài , bà nói một cách giễu cợt về mấy gã ăn mặc chỉnh tề với những đồng lương ít ỏi trong lãnh vực Tài Chính Doanh Nghiệp đó. Đó là tuổi trẻ tươi sáng ử? Chẵng lẻ tôi lại muốn ngồi trong văn phòng suốt ngày? Tôi là ai? Một trứng dái khô?

    Rõ ràng bà ta không muốn trả lời. Bà thích những câu hỏi hơn. Vì vậy tôi đã hỏi nếu bà có quyền hạn để có thể cho tôi công việc. Và bà ta kết thúc câu chuyện rằng bà sẽ lưu tâm và sẽ nói với chồng khi về nhà.

    Đến cuối tiệc, bà Hoàng Thái Hậu 84 tuổi tất bật bước ra khỏi phòng. Chúng tôi, tám trăm vị bán bảo hiểm, 2 giám đốc của Salomon Brothers, vợ của họ và tôi đứng dậy lặng lẽ tôn kính trong lúc bà ta tiến về phía mà lúc đầu tôi cho là cửa sau. Song tôi nhận ra chắc chắn đó là mặt trước của lâu đài và chúng tôi, những nhà gây quĩ bị bỏ ở lại như những thằng giao hàng. Bà Hoàng Thái Hậu đi đầu, theo sau là bà hầu Jeeves, đi thằng như 1 cái chổi, thắt cà vãt trắng, đeo dải và tay nâng một cái mâm bạc. Tiếp theo Jeeves , mọi người nối đuôi thành 1 đoàn diễu hành. Và có 1 tốp chó Corgis, loại chó nhỏ hình ống xứ Wales trông như một bầy chuột cống. Người Anh cho rằng nó dễ thương. Sau này tôi được nói lại rằng hoàng Gia Anh đi đâu cũng mang theo chúng.

    Không khí trang nghiêm im lặng bao trùm trên đại sảnh của cung điện khi bà Thái Hậu kéo ghế lại gần, mấy tay bán bảo hiểm cuối đầu như những người đi hành lễ. Mấy con chó Cogis được huấn luyện cứ 15 giây lại khẽ nhún bằng cách vắt chéo hai chân sau và hạ sát bụng xuống sàn nhà. Cuối cùng đoàn diễu hành cũng tới nơi. Chúng tôi đứng ngay bên cạnh bà Thái Hậu. Bà vợ của Solomon Borthrs mặt đỏ bừng bừng. Tôi chắc mình cũng vậy nhưng bà ta còn bừng bừng hơn. Lòng mong muốn được chú ý của bà ta đang trỗi dậy. Có nhiều cách gây sự chú ý của Hoàng gia trước sự hiện diện của 800 tay bảo hiểm từ Prudential lầm lầm lì lì, nhưng cách hay nhất là hét lớn. Và bà ta đã làm vậy. Chính xác là bà ta quát ?o Ê, Thái Hậu, mấy con chó của bà dễ thương ghê!!?

    Mấy chục vị bán bảo hiểm tái mặt. Bình thường thì họ đã tái rồi, có lẽ tôi thổi phồng chăng? Họ nuốt nước miếng và liếc nhìn vào mấy tay đang đứng đầu đôi mũ có quả tua (ngự lâm quân?) Người duy nhất trong tầm mà tôi đủ nghe không tỏ ra vẻ khó chịu lại chính là bà Thái Hậu. Bà ta vững trãi bước ra khỏi sảnh.

    Vào lúc bối rối, tất cả những người hiện diện đến từ 2 tổ chức biến sắc, bà Thái Hậu đã giải quyết sự bất nhã một cách tế nhị bằng cách phớt lờ nó đi. Bà vợ của giám đốc điều hành Solomon Brothers cũng lấy hết thần kinh và bản năng ra để lấy lại thăng bằng của căn phòng bằng cách thốt lên những lời chào hỏi. Tôi luôn có một sự ngưỡng mộ nhất định đối với hoàng gia, đặc biệt là bà Thái Hậu. Nhưng cũng từ giây phút đó, tôi phát hiện ra Solomon Brothers, những kẻ ăn bám ở cung điện St.James, cũng hấp dẫn không kém. Đối với một số người, họ là những kẻ cộc cằn, xấu tính, không được xã hội chấp nhận .Nhưng tôi không thể làm gì khác hơn. Bởi vị họ là những investment banker, những người của tôi. Và không nghi ngờ gì nữa, cái cá tính mạnh mẽ này, sản phẩm của văn hóa Solomon Brothers có thể thuyết phục chồng bà ta cho tôi một công việc.


    ...tạm thời anh đi cà phê với đại ca cái đã...
  4. chienzaCK

    chienzaCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    03/11/2008
    Đã được thích:
    0
    Check or Call, em Call để up bài của bác lên... em cũng khoái chơi Poker lém.
  5. apple68

    apple68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    03/01/2008
    Đã được thích:
    0
    Chẳng bao lâu tôi được chồng bà ta mời đến văn phòng của công ty Solomon Brothers ở London và được giới thiệu với traders và salemen trên sàn giao dịch. Tôi thích họ. Tôi thích không khí ồn ào trong môi trường của họ. Những tôi vẫn không nhận được một lời mời chính thức nào và tôi cũng không phải trải qua thêm một vòng phỏng vấn nào khác. Xem ra việc không phải trải qua vòng phỏng vấn nào khác chứng tỏ bà vợ ông giám đốc điều hành đã làm đúng lời hứa và Solomon có ý định nhận tôi. Nhưng rồi chẳng có ai bảo tôi quay lại cả.

    Một vài ngày sau tôi nhận được cú điện thoại khác. Nói rằng tôi có muốn tới ăn sáng lúc 6h30 ở khách sạn Berkeley ở London với Leo Corbett, một vị đứng đầu đặc trách sơ tuyển của Solomon từ New York tới không? ?" Tôi nói đương nhiên tôi muốn. Và tôi trải qua một đêm thấp thỏm mất tự nhiên đến 5h30 sáng rồi khoác lên bộ vest xanh để đi ăn sác công vụ. Nhưng Corbett cũng không cho tôi việc làm, chỉ có một đĩa trứng rán. Chúng tôi có một cuộc trao đổi vui vẻ nhưng điều đó cũng làm tôi bối rối vì có người nói rằng những người tuyển mộ của Salomon Brothers là những thằng mất dạy ( nv bastard). Rõ rang là Cobbert muốn tôi làm việc ở Salomon nhưng ông ta không bao giờ đi thẳng vào đề nghị cả. Tôi trở về nhà, cởi quần áo và lăn lên giường ngủ.

    Cuối cùng, tôi kể lại cho một người bạn sinh viên ở trường Kinh Tế Lon Don chuyện xảy ra. Vì anh ta cũng muốn có một công việc với Salamon Brothers, nên anh ta biết tôi chính xác phải làm gì. Salamon Brothers, anh ta nói, không bao giờ mời ai vào làm cả. Đã là quá tế nhị khi nó tạo cơ hôi cho mọi người nắm bắt. Salamon chỉ đưa ra gợi ý. Nếu như tôi đã có lời gợi ý rằng công ty muốn nhận tôi, vậy thì cách tốt nhất tôi phải làm là gọi cho Leo Corbett ở New York và nhận công việc từ ông ta.

    Tôi đã làm , tôi gọi điện cho ông ta, lại tự giới thiệu mình và nói: ?o Tôi muốn ông biết rằng tôi đã chấp nhận?.

    ?oRất vui mừng có anh vào làm việc? Ông ta cười và nói?

    Vậy tiếp theo? Ông ta giải thích rằng tôi sẽ bắt đầu cuộc sống với ?o người anh em? ( (Solomon) Brothers) bằng một chương trình huấn luyện vào cuối tháng Bảy. Tôi sẽ học cùng với khoảng 120 người khác, phần lớn được tuyển từ các trường đại học danh tiếng. Ông ta cúp máy và cũng chẳng nói cho tôi là tôi được trả bao nhiêu, và tôi cũng chẳng hỏi vì tôi biết, vì một lí do nào đó, giới investment banker không thích nói chuyện về tiền.

    Ngày tháng trôi đi, tôi chẳng biết gì về trading, cho nên, tôi gẩn như chẳng biết gì về Solomon Brothers. Đối với Solomon Borthers, hơn bất cứ công ty nào ở Wall Street, là một công ty được điều hành bởi những trader. Tôi chỉ biết được những gì tôi đã đọc qua báo chí. Và người ta nói Solomon Brothers là ngân hàng đầu tư có lãi nhất trên thế giới. Sự thực có thể thế, quá trình nhận được công việc làm tôi phấn khởi. Sau sự choáng váng ban đầu về lời hứa nhận công việc lâu dài, tôi bắt đầu hoài nghi về một khát vọng công việc trên sàn giao dịch. Chợt nảy ra trong đầu rằng tôi muốn làm việc trong ngành tài chình. Nếu không phải trong tình huống đó, thì có lẽ tôi đã viết cho Leo cho ông ta hay rằng tôi không muốn thuộc về bất cứ nhóm nào chấp nhận tôi là hội viên. Nhưng tình huống ở đây là tôi không có công việc nào khác.

    Tôi đành phải mang vết nhơ là đã có được một công việc thực sự đầu tiên thông qua chỗ quen biết. Nhưng nó còn khá hơn điều sỉ nhục là thất nghiệp. Dù bằng cách nào nhảy lên được sàn giao dịch Solomon đều phải chấp nhận những trở ngại không mấy vui vẻ như trong các cuộc phỏng vấn xin việc chẳng hạn ( 6000 người nộp đơn năm đó). Phần lớn trong số họ , khi tôi cùng làm việc đã phải vật lộn trong những cuộc phỏng vấn và đã có những câu chuyện rùng mình để kể lại. Loại trừ kí ức khó hiểu về cuộc tấn công của Solomon vào Hoàng gia nước Anh ra , thì tôi không có một vết sẹo chinh chiến nào cả và tôi cảm thấy hổ thẹn.

    Ừ, thì đúng vậy, tôi thú nhận. Một trong những lí do mà tôi chộp ngay lấy cơ hội của Solomon như một quả bóng xì hơi là tôi đã nhìn thấy mặt trái của vấn đề tìm việc làm trên Wall Street và không muốn thấy nó một lần nữa. Là một sinh viên năm cuối đại học năm 1981, tức là 3 năm trước cái đêm tôi gặp may ở Cung điện St.James, tôi cũng nộp đơn xin việc trong các ngân hàng. Tôi chưa bao giờ gặp người ở Wall Street nào có sự tán đồng trọn vẹn về bất cứ vấn đề gì mà họ thấy trên tờ đơn xin việc của tôi. Một số người cười vào bản tóm tắt lí lịch ( CV/Resume). Mấy tay đại diện tuyển người nói rằng tôi thiếu kĩ năng về thương mại và cũng rất sợ để nói tôi sẽ sống suốt đời nghèo khổ. Tôi luôn có những khó khăn khi đưa ra những hay đổi sắc bén và tôi nhớ rằng sắc bén nhất là tôi không thể hình dung nổi tôi có thể khoác lên một bộ đồ vest. Và tôi cũng chưa bao giờ gặp một banker tóc vàng. Tất cả những người liên quan đến tiền bạc mà tôi gặp đều tóc đen hay bị hói. Tôi thì không. Vậy bạn thấy đó, tôi có nhiều vấn đề. Khoảng một phần tư số người mà tôi làm việc chung ở Solomon Brothers đều đến thẳng từ trường đại học, tức là đã qua kì tuyển người mà tôi bị rớt. Tôi vẫn tự hỏi như thế là thế nào?

    Lúc đó, tôi không cho trading là một nghề quan trọng. Vấn đề này, không chỉ một mình tôi. Nếu họ nghe nói về sàn giao dịch, những sinh viên năm cuối xem nó như một cái lồng nhốt những con vật hoang dã chưa được huấn luyện xong., và một trong những thay đổi lớn trong những năm 80 là sự giảm bớt đi cái bộ tịch của những người có được học vấn xa hoa nhất ở Mỹ và Anh. Khóa 1982 của đại học Princeton của tôi là khóa cuối cùng nắm được thực trạng này một cách chắc chắn. Cho nên chúng tôi không nộp đơn xin việc ở sàn giao dịch. Thay vào đó chúng tôi nhắm vào những công việc trả lương thấp hơn trong ngành tài chính. Lương khởi điểm 25 nghìn đô la một năm cộng với tiền thưởng. Tính lại hết thì nó khoản 6 đôla 1 giờ. Công việc có tên ?o nhân viên phân tích ngân hàng đầu tư".

    Nhân viên phân tích chẳng phân tích cái gì cả. Họ là nô lệ cho một nhóm những nhà Tài Chính Doanh Nghiệp, những người làm những công việc thương lượng và giấy tờ ( cũng không phải là trading hay bán hàng) cho những đợt phát hành cổ phiếu và trái phiếu của các công ty của Hoa Kì. Ở Solomon Brothers, họ là những người thấp nhất trong những người thấp, còn ở ngân hàng khác thì họ là người thấp nhất trong những người cao; dù trong trường hợp nào thì cũng là công việc khổ cực. Họ phải sao chụp, đọc, sửa chửa, ghép các tài liệu giấy tờ một cách tẻ nhạt và làm việc hơn 90 giờ 1 tuần. Nếu họ làm tốt thì họ được các sếp đánh giá tốt.

    Đây là niềm vinh dự mơ hồ. Các sếp thường gắn các máy beeper lên người nhân viên phân tích nào họ thích để có thể gọi họ trong mọi lúc. Một số nhà phân tích cực giỏi sau mấy tháng bước vào công việc mới đã mất đi ý chí tự nguyện của mình là sống bình thường. Chính bản thân họ đã hoàn toàn vượt qua cả sếp của mình, làm việc thâu đêm suốt sáng. Họ hiếm khi ngủ và lúc nào cũng có vẻ muốn bệnh, họ càng làm tốt công việc hơn thì trông họ như cái chết sắp đến gần hơn. Một nhà phân tích thành công nhất làm việc cho Dean Witter vào năm 1983 ( một người bạn mà lúc ấy tôi rất hâm mộ phong cách làm việc của anh ta) đã làm việc căng thẳng đến nỗi anh ta thường vào toilet ngủ gật. Anh ta làm việc suốt cả đêm và vào ngày nghỉ cuối tuần, ấy vậy mà anh ta còn cảm thấy có lỗi là không làm được nhiều việc hơn. Nếu trong trường hợp có người phát hiện anh ta đi toilet quá lâu thì anh ta giả vờ là bị đau bụng. Theo định nghĩa, công việc phân tích chỉ kéo dài 2 năm. Sau đó anh ta sẽ quay lại học tiếp cao học ở business school. Nhiều nhà phân tích thừa nhận rằng 2 năm đó, khoảng thời gian giữa đại học và cao học là những năm tháng tồi tệ nhất.

    Nhà phân tích là tù nhân của chính tham vọng hẹp hòi của riêng mình. Anh ta cần tiền, nhưng không muốn bộc lộ theo bất cứ lối bất thường nào. Anh ta muốn những người khác nghĩ mình thành công như chính mình tự cho là thế. ( Tôi kể cho bạn điều này chỉ vì tôi đã tự thoát khỏi nhà tù mà không chọn lựa gì. Và nếu tôi không thoát thì chắc chắn lúc này tôi đã không ở đây. Cõ lẽ tôi vẫn đang tiếp tục leo lên nấc thang như nhiều bạn học của tôi). Chỉ có một cách chắc chắn và chỉ có một cách duy nhất để tiến lên như những người có mắt tinh đời nhìn thấy: học đại học ngành kinh tế ,dùng bằng kinh tế để kiếm 1 việc phân tích ở Wall Street, dùng công việc đó để xin học cao học (MBA?) ở các trường danh tiếng Stanford hay Havard, và rồi sau đó hẵng lo lắng về phần đời còn lại của mình.
  6. apple68

    apple68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    03/01/2008
    Đã được thích:
    0
    Do vậy, câu hỏi mà các bạn học và tôi đang hỏi nhau vào học kì mùa thu 1981 và mùa xuân 1982 là: Làm thế nào mình trở thành nhà phân tích Wall Street nhỉ? Thời gian trôi, câu hỏi này có kết quả kì lạ. Kết quả thứ nhất và tất nhiên có thể nêu ra để kết luận điều này. Đây là một ví dụ 40% trong 1300 sinh viên khóa 1986 tốt nghiệp từ đại học Yale đã xin vào chỉ riêng một ngân hàng đầu tư, First Boston. Tôi nghĩ, có lẽ có một cảm giác ổn định trong những con số đó. Số người càng lớn, thì càng dễ đối với họ để tự dối mình rằng mình là người thông minh. Điều đầu tiên bạn học được trên sàn giao dịch là khi có một số lượng đông người muốn mua cùng một loại hàng, có thể cổ phiếu , trái phiếu hoặc một công việc, thì món hàng đó nhanh chóng được định giá cao quá mức. Rất tiếc vào thởi điểm đó, tôi chưa một lần đặt chân lên một sàn giao dịch nào.

    Kết quả thứ hai, gây cho tôi ấn tượng vào lúc này lại là một bi kịch, là phong trào học kinh tế. Ở trường Harvard năm 1987, môn kinh tế học căn bản đã có 40 lớp và một 1000 sinh viên; số lượng tuyển sinh của khoa cũng đã tăng gấp 3 trong 10 năm. Ở trường Princeton, trong năm tôi tốt nghiệp, lần đầu tiên trong lịch sử của trường, kinh tế trở thành ngành phổ biến nhất. Càng nhiều người học kinh tế, thì tấm bằng kinh tế càng là yêu cầu bắt buộc khi xin việc ở Wall Street. Có một lập luận hay cho điều này là khoa kinh tế đáp ứng được 2 yêu cầu cơ bản nhất của các giám đốc ngân hàng đầu tư. Đầu tiên, họ muốn có những con người thực hành, sẵn sang đưa hết trình độ học vấn của mình vào nghề nghiệp. Môn kinh tế, mà ngày càng trở thành môn khoa học khó hiểu, đang sinh ra những luận thuyết toán học không có ứng dụng rõ ràng nào, gần như chỉ là một phương tiện. Lối dạy môn kinh tế đã không kích thích được trí tưởng tượng. Tôi muốn nói là không mấy ai tự nhận là mình thực sự thích môn kinh tế. Học kinh tế không phải là vì đam mê say đắm mà là hành động hi sinh mang tính cách lễ nghi nhiều hơn. Tất nhiên tôi không thể chứng minh hết điều này. Đây chỉ là nhận định dựa vào cái mà những nhà kinh tế học gọi là chủ nghĩa kinh nghiệm tự nhiên. Tôi quan sát, tôi thấy, ngẫm nghĩ về những người bạn đã tiêu hao dần hết cuộc đời mình. Tôi thường hỏi những người có mục đích làm trong ngành ngân hàng tại sao họ lại học kinh tế, và họ giải thích rằng đó là môn khoa học ứng dụng nhiều nhất, ngay cả trong việc họ vẽ những biểu đồ nhảm nhí. Tất nhiên họ đúng và thậm chí còn cuồng nhiệt hơn. Kinh tế là môn học ứng dụng. Nó tạo cho con người việc làm. Và thực tế đã có vì nó chứng minh là họ nằm trong số những con người tin tưởng nhất vào tầm quan trọng của kinh tế học đối với cuộc sống.

    Các giám đốc ngân hàng đầu tư cũng muốn tin tưởng như vậy, rằng tính logic trong kỹ thuật tuyển dụng của họ là khá chắn chắn. Chẳng người nào ngoài ngành lại được chấp nhận cả. Tính tự phụ này đi đôi với niềm tin tưởng của các ngài giám đốc ngân hàng đầu tư rằng họ có thể điều khiển số mệnh của mình, cái gì đó, mà sau này chúng ta sẽ thấy, là họ đã không làm nổi. Môn kinh tế cho phép nhà tuyển mộ của các ngân hàng đầu tư có thể trực tiếp so sánh các học bạ trong trường của các ứng cử viên. Khía cạnh duy nhất không thể giải thích được là ở chỗ lý thuyết kinh tế ( thứ mà các sinh viên có nhiệm vụ phải biết) lại không phục vụ cho bất kì chức năng nào ở ngân hàng đầu tư. Các giám đốc ngân hàng đã dùng môn kinh tế như là một thứ tiêu chuẩn cho toàn bộ sự thông minh.

    Giữa hôi chứng cuồng loạn, tôi cũng bị cuồng loạn theo. Tôi đưa ra một quyết định tỉnh táo là không học ngành kinh tế ở Princeton, một phần là do tất cả mọi người đều học ngành này , theo cách tôi hiểu, dường như là một sai lầm. Xin đừng hiểu sai về tôi. Tôi biết rồi một ngày nào đó tôi cũng phải kiếm sống. Nhưng dường như là một sự phí phạm không nắm bắt lấy cơ hôi duy nhất để thể hiện bộ óc của bạn về một lĩnh vực nào đó thực sự làm bạn hứng thú. Cũng là phí phạm khi không sử dụng phần còn lại của ngôi trường. Vì vậy tôi đạt chân vào một trong những khoa được ứng dụng ít nhất của trường. Ngành Lịch sử nghệ thuật đối lại với ngành kinh tế., không ai muốn có nó trong tờ CV/Resume của mình. Lịch sử nghệ thuật, một sinh viên kinh tế đã nói với tôi: ?o là dành cho bọn con gái ở Connecticut?. Mục đích kinh tế chính của lịch sử nghệ thuật là để sinh viên nâng điểm trung bình trong học bạ. Họ nhảy vào khoa tôi, học lấy vài môn để cải thiện phần nào số điểm trung bình đó. Quan điểm của ngành lịch sử nghệ thuật như là sự cải thiện hoặc sự tự cải thiện, với tính chất khác biệt với tính chất nghề nghiệp, là một mục đích chính đáng của giáo dục lại được mọi người xem như là sự khờ khạo và thiếu thận trọng. Ngày tốt nghiệp sắp đến, mọi thứ ngày càng hiện rõ. Ngay cả một số bạn cùng lớp cũng bày tỏ sự thông cảm với tôi như thể tôi là một kẻ què quặt, bần cùng vô ý thức. Việc trở thành người theo đạo dòng Francis có cái lợi của nó, nhưng đó không phải là một vé để đi đến Wall Street.

    Công bằng ra, nghệ thuật chỉ là sự bắt đầu của mọi vấn đề của tôi. Nó không giúp được chuyện tôi thi rớt môn? Vật Lí học cho những bài thơ? hay pha chế rươu và nhảy dù là năng khiếu mà tôi nêu trong CV/Resume. Sinh ra và lớn lên ở tận cùng Miền Nam, tôi chưa bao giờ nghe nói đến ngân hàng đầu tư cho tới vài tháng trước buổi phỏng vấn đầu tiên của tôi.

    Tuy nhiên, Wall Street dường như là nơi mà người ta muốn đến lúc bấy giờ. Thế giới này không cần thêm luật sư, tôi cũng không thể trở thành bác sĩ, dự định của tôi về việc bắt đầu ý tưởng kinh doanh sản xuất những cái túi nhỏ bịt mông con chó lại không chó chúng ị bậy ra ngoài đường phố Mahattan ( với dòng quảng cáo ?o Chúng tôi ngăn được phế thải rồi) không bao giờ tìm được nguồn vốn. Có lẽ sự thực của vấn đề ở đây là tôi sợ sẽ lỡ chuyến xe buýt mà tôi biết mọi người đều đã đặt chỗ trước vì sợ rằng sẽ không có chuyến thứ 2. Tôi hoàn toàn không có ý định cụ thể sẽ làm gì sau khi tốt nghiệp và Wall Street trả giá cao nhất cho những gì tôi có thể làm, đó là không biết làm gì cả. Đó cũng không phải là vấn đề, thậm chí còn là lợi thế nếu như tôi cảm thấy mình xứng đáng có một công việc. Nhưng tôi thì chẳng xứng đáng. Nhiều bạn bè cùng học đã hi sinh một phần tốt đẹp trong đời đi học của mình cho Wall Street, còn tôi thì chả hi sinh gì cả. Điều này làm cho tôi trở thành một tay tài tử bước điệu Valse vào trong một cuộc chiến mà đối thủ là những chàng trai tốt nghiệp từ những trường danh giá vùng Đông Bắc.

    2b continued ...
  7. cofdness

    cofdness Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    03/07/2008
    Đã được thích:
    1.064
    Đọc được 1 đoạn thì hoa cả mắt. Chắc em không thích hợp với chuyện dài.
  8. waves08

    waves08 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    17/10/2008
    Đã được thích:
    0
    Cảm ơn & đã * cho bác ...sao bác hok cho link luôn đi để đọc một lèo.....
  9. asicsaigon

    asicsaigon Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/01/2008
    Đã được thích:
    0
    Đọc xong mở đầu, ủng hộ
  10. ttvnoldangky

    ttvnoldangky Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/08/2008
    Đã được thích:
    3.564
    Em lại thích nhưng éo biết tiếng Anh. Bác chủ topic thạo tiếng Anh mà chẳng chịu Việt hoá cho anh em tí nào cả. Câu cú thì lủng cà lủng củng => chán bỏ mị.a.

Chia sẻ trang này