Bank nào trong mấy năm qua giúp chính phủ hỗ trợ nền kinh tế nhiều nhất!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi dongtay79, 15/05/2017.

1457 người đang online, trong đó có 583 thành viên. 20:15 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1783 lượt đọc và 24 bài trả lời
  1. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    08:59 - Thứ Hai, 15/5/2017Print
    Giải trình nhiều vấn đề lớn về dự thảo nghị quyết xử lý nợ xấu
    Chính phủ tiếp thu, giải trình ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và thẩm tra sơ bộ của Thường trực Uỷ ban Kinh tế...
    [​IMG]
    Thường trực cơ quan thẩm tra - Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội - đề nghị giới hạn phạm vi các khoản nợ xấu cần xử lý mà không áp dụng chung cho việc xử lý tất cả các khoản nợ xấu đã, đang và sẽ phát sinh.

    NGUYÊN VŨ
    Như VnEconomy đã thông tin, Chính phủ đã chuẩn bị để trình Quốc hội tại kỳ họp thứ ba khai mạc sáng 22/5 tới đây hồ sơ dự thảo nghị quyết về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.
    Trong hồ sơ, Chính phủ đã có báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và thẩm tra sơ bộ của Thường trực Uỷ ban Kinh tế về dự thảo nghị quyết này.

    Chỉ áp dụng với nợ xấu do nguyên nhân khách quan?
    Theo dự thảo, nghị quyết này quy định về việc xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng; quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
    Về ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng tại nghị quyết chỉ áp dụng đối với các khoản nợ xấu do nguyên nhân khách quan, cơ quan soạn thảo cho rằng như vậy không khả thi.

    Vì, thứ nhất, về nguyên tắc, để xác định các nguyên nhân xảy ra nợ xấu là do chủ quan hay khách quan cần phải thông qua hoạt động thanh tra, điều tra đối với từng trường hợp cụ thể. Trong khi đó, số lượng các khoản nợ xấu hiện tại của toàn hệ thống tổ chức tín dụng là không nhỏ (nếu tính cả nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu, thì chiếm 10,08% trên tổng dư nợ - PV).

    Do đó, việc xác minh nguyên nhân gây ra nợ xấu đối với từng khoản nợ trước khi áp dụng các quy định tại nghị quyết để xử lý là khó khả thi trên thực tế (về nguồn lực) và khó bảo đảm tiến độ xử lý nhanh, triệt để nợ xấu.
    Thứ hai, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật gây ra nợ xấu hiệu đã được pháp luật quy định đầy đủ và việc xem xét, xử lý trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Việc áp dụng các quy định tại nghị quyết này để xử lý nợ xấu không làm thay đổi trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân, tổ chức có liên quan.
    Thứ ba, việc phân loại và chỉ áp dụng nghị quyết để xử lý khoản nợ xấu do nguyên nhân khách quan sẽ khó xử lý nhanh, dứt điểm nợ xấu theo yêu cầu của Đảng, Quốc hội, ảnh hưởng xấu đến khả năng tài chính, nguồn vốn của tổ chức tín dụng, khó giảm lãi suất, giảm khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp.

    Do vậy, cơ quan soạn thảo đề nghị được giữ nguyên phạm vi điều chỉnh của nghị quyết.
    Dự thảo nghị quyết chỉ áp dụng đối với nợ xấu của các tổ chức tín dụng yếu kém là quan điểm khác từ Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

    Theo cơ quan soạn thảo thì dự thảo nghị quyết điều chỉnh chung đối với tất cả các khoản nợ xấu, bao gồm cả khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt và khoản nợ xấu của các tổ chức tín dụng khác là phù hợp và cần thiết.

    Vì, nợ xấu của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt chỉ chiếm khoảng 30% nợ xấu của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, 70% số nợ xấu còn lại là nợ xấu của tổ chức tín dụng khác. Như vậy, nếu không áp dụng nghị quyết đối với 70% nợ xấu thì khó thực thực hiện được mục tiêu xử lý nhanh, triệt để nợ xấu, bảo đảm quyền chủ nợ theo quan điểm, định hướng, chỉ đạo tại nghị quyết của Trung ương và Quốc hội.

    Cơ quan chủ trì soạn thảo "hứa" sẽ cung cấp thông tin cụ thể về cơ cấu các khoản nợ xấu tính đến ngày 31/12/2016 (bao gồm cả các tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt).

    Lý do tiếp theo được nêu là một phần lớn các khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng đã được bán sang VAMC và sẽ được VAMC bán cho các tổ chức, cá nhân khác. Nếu chỉ cho phép nợ xấu của tổ chức tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt được áp dụng nghị quyết này thì sẽ tạo ra sự không công bằng, không đạt được mục tiêu thúc đẩy thị trường mua bán nợ phát triển, không khuyến khích được nhà đầu tư tham gia mua bán nợ xấu.
    Chính phủ cũng giữ quan điểm không cần bổ sung nguyên tắc quy định về trách nhiệm tài chính và trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân đã gây ra nợ xấu tại dự thảo nghị quyết như ý kiến tại Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Vì, pháp luật hiện hành đã có quy định cụ thể về trách nhiệm tài chính, trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm gây ra nợ xấu.

    Không giới hạn thời điểm phát sinh
    Thường trực cơ quan thẩm tra - Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội - đề nghị giới hạn phạm vi các khoản nợ xấu cần xử lý mà không áp dụng chung cho việc xử lý tất cả các khoản nợ xấu đã, đang và sẽ phát sinh.
    Cụ thể, thời điểm xác định các khoản nợ xấu cần xử lý trong nghị quyết là những khoản nợ xấu phát sinh đến ngày 31/12/2016.

    Cơ quan soạn thảo cho rằng, quy định phạm vi áp dụng của khoản nợ xấu được điều chỉnh tại nghị quyết bao gồm tất cả các khoản nợ được xác định là nợ xấu (bao gồm nợ xấu hiện tại và nợ xấu phát sinh trong khoảng thời gian có hiệu lực của nghị quyết), không bị giới hạn về thời điểm phát sinh nợ xấu là cần thiết.
    Lý do, việc giới hạn phạm vi nợ xấu được xử lý theo quy định tại nghị quyết này sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu xử lý triệt để toàn bộ nợ xấu vì nợ xấu hiện tại chỉ chiếm hơn 57%; gần 43% còn lại là nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu (chưa là nợ xấu theo quy định của pháp luật hiện hành).

    Thứ hai, nợ xấu luôn tiềm ẩn phát sinh hàng ngày song hành với hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng vì về bản chất hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng luôn có thể xảy ra rủi ro ở mức độ khác nhau từ nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan.

    Tính trung bình, nợ xấu mới phát sinh hàng năm khoảng 1,3% do khách hàng vay không trả nợ, chủ yếu do nguyên nhân khách quan như: hạn hán, lũ lụt, doanh nghiệp giải thể, phá sản, ngưng hoạt động, gặp khó khăn về sản xuất, kinh doanh, biến động thị trường trong và ngoài nước. Do vậy, việc chỉ xử lý nợ xấu hình thành trong một giai đoạn nhất định không bảo đảm xử lý triệt để nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng.

    Thứ ba, việc chỉ xử lý nợ xấu phát sinh trong một giai đoạn thời điểm nhất định không tạo ra được cơ chế đồng bộ trong việc xử lý nợ xấu. Việc cùng là nợ xấu nhưng nợ xấu ở thời điểm này được xử lý còn thời điểm kia thì không sẽ tạo ra sự bất hợp lý, chính sách xử lý nợ không nhất quán, khó áp dụng.

    Thứ tư, việc cho phép áp dụng nghị quyết đối với tất cả các khoản nợ được xác định là nợ xấu sẽ tạo khuôn khổ pháp lý để thực hiện được nhiệm vụ xử lý triệt để nợ xấu, kiểm soát, ngăn ngừa nợ xấu mới phát sinh từ đó đảm bảo mục tiêu xử lý triệt để và kiểm soát chặt chẽ nợ xấu, bảo đảm quyền chủ nợ theo quan điểm, định hướng, chỉ đạo tại nghị quyết của Trung ương và Quốc hội.

    Do đó, việc giới hạn phạm vi khoản nợ xấu được điều chỉnh bởi nghị quyết này là đến 31/12/2016 hay 31/12/2020 đều không phù hợp và ảnh hưởng hiệu quả của việc xử lý nợ xấu - báo cáo nêu rõ.
    thatha_chamchi thích bài này.
  2. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    • 07:39 Thứ hai, 15/05/2017
    Ngân hàng Việt Nam trước triển vọng tái tạo hơn 600.000 tỷ
    Theo Minh Đức - Vneconomy.vn

    Cơ chế hỗ trợ tái tạo nguồn vốn cực lớn này có thể sẽ bắt đầu ngay từ 1/7/2017.

    Như VnEconomy đề cập ở bài viết trước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thường trực Ủy ban Kinh tế đã nhất trí về sự cần thiết ban hành một nghị quyết riêng về xử lý nợ xấu.

    Hồ sơ dự thảo nghị quyết này vừa được được gửi đến các vị đại biểu Quốc hội, phục vụ kỳ họp khai mạc ngày 22/5 tới.

    Nếu các nội dung của dự thảo được chuẩn y và ban hành, các ngân hàng thương mại có triển vọng đẩy nhanh việc tái tạo hơn 600.000 tỷ đồng đang kẹt trong nợ xấu và tiềm ẩn thành nợ xấu.

    Theo đó, tương lai mới đang hứa hẹn: một mặt, lượng vốn lớn đang khê đọng trong nợ xấu có triển vọng được tái tạo, đưa trở lại phục vụ nhu cầu vốn phát triển kinh tế; mặt khác, hệ thống các tổ chức tín dụng có thêm điều kiện để cải thiện nhanh và thực chất tình hình tài chính, để hoạt động và phục vụ nền kinh tế tốt hơn.
    [​IMG]

    Sức nặng của cơ chế

    Cho đến nay, sau 6 năm triển khai đề án xử lý nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, quan điểm không trực tiếp sử dụng nguồn tiền ngân sách vẫn còn nguyên đó. Tuy nhiên, nếu linh hoạt về cơ chế, quá trình này có thể được đẩy nhanh để có kết quả tốt hơn thời gian qua.

    Dự thảo nghị quyết về xử lý nợ xấu, đang nằm trong tay các đại biểu Quốc hội, hướng đến những cơ chế mới có sức nặng quyết định.

    Thứ nhất, dự thảo đưa ra những cơ sở, điều kiện để thúc đẩy hoạt động mua bán nợ xấu, cũng như tháo gỡ những nút thắt quan trọng đang cản trở trong thực tế.

    Theo đó, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được quyền bán nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo giá trị thị trường theo quy định của pháp luật, kể cả bán với giá thấp hơn giá trị ghi sổ của khoản nợ.

    Tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được bán nợ xấu cho các pháp nhân, cá nhân bao gồm cả các pháp nhân, cá nhân không có chức năng kinh doanh mua, bán nợ…

    Với những quy định trên, nợ xấu có điều kiện để tăng tính thanh khoản trên thị trường, thu hút thêm các nhà đầu tư tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu.

    Đáng chú ý, bài toán trách nhiệm cũng đã được tháo gỡ, khi quy định dự kiến trên cho phép bán nợ xấu thấp hơn với giá trị ghi sổ của khoản nợ. Liên quan, điểm tiếp theo của dự thảo cũng đưa ra cơ chế hạch toán chênh lệch này vào kết quả kinh doanh.

    Thứ hai, sức nặng lớn nhất có trong dự thảo là việc khẳng định, cùng các cơ sở đảm bảo cho quyền thu giữ tài sản đảm bảo.

    Khó khăn lớn nhất, thách thức lớn nhất và trở ngại lâu dài nhất trong quá trình xử lý nợ xấu thời gian qua và hiện nay theo đó có triển vọng được hóa giải về cơ chế.

    Một tham khảo cho thấy, theo báo cáo môi trường kinh doanh 2017 của Ngân hàng Thế giới (WB), thời gian giải quyết một vụ việc qua tòa án khoảng 400 ngày, nhưng thực tế các vụ việc liên quan đến nợ xấu được ngành ngân hàng thống kê lại mất tới khoảng hai năm. Theo đó, chi phí liên quan chiếm tới khoảng 29% giá trị đòi nợ. Và chỉ số chất lượng tố tụng tư pháp của Việt Nam chỉ đạt 6,5/18.

    Bên cạnh việc khẳng định quyền thu giữ tài sản đảm bảo cho các tổ chức tín dụng nói trên, dự thảo nghị quyết cũng quy định một loạt các nội dung quan trọng, cùng góp phần thúc đẩy cho quá trình xử lý nợ xấu, như: áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm; mua bán khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; xử lý tài sản bảo đảm là dự án bất động sản; kê biên tài sản bảo đảm của bên phải thi hành án…

    Ngoài định hướng tạo điều kiện giúp rút ngắn quá trình xử lý tài sản đảm bảo, tăng hiệu lực thu hồi nợ xấu, giúp giảm thiếu chi phí trong xử lý nợ xấu, dự thảo cũng gợi mở các điều kiện thuận lợi hơn cho các tổ chức tín dụng ở các chính sách thuế, phí liên quan.

    Thứ ba, sức nặng giá trị nữa có trong dự thảo là cơ chế hỗ trợ phân bổ lãi dự thu, chêch lệch khi bán khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng.

    Hiểu một cách đơn giản, trong hệ thống các tổ chức tín dụng hiện nay có tình trạng, thử thách hoặc có thể nói là rủi ro lớn, dù có tính cục bộ, nằm ở lãi dự thu. Một lượng lớn khoản vay đã là nợ xấu, tiềm ẩn thành nợ xấu, không thu được lãi nhưng vẫn treo trên sổ sách.

    Áp lực là, khi thoái lãi dự thu, hệ thống sẽ có thêm những ngân hàng nặng nợ xấu và chi phí trích lập dự phòng liên quan đè nặng, thậm chí không đủ nguồn để thực hiện trích lập. Nếu san bằng thoái lãi dự thu này theo quy định, không loại trừ sẽ có thêm những trường hợp lỗ âm sâu vào vốn, mà bám víu chủ yếu vẫn bằng cách đẩy cao lãi suất cả huy động và cho vay để có nguồn, qua đó cản trở và gây xáo trộn thị trường, ổn định vĩ mô…

    Theo đó, dự thảo mở ra hướng hỗ trợ, cho phép phân bổ số lãi dự thu đã ghi nhận của các khoản nợ xấu và tài sản tồn đọng của tổ chức tín dụng chưa thoái theo quy định giãn ra trong lộ trình không quá 10 năm.

    Theo đó, các tổ chức tín dụng có gánh nặng lãi dự thu lớn dồn tích từ nợ xấu, chủ yếu ở các trường hợp sáp nhập, hợp nhất những năm qua, sẽ có điều kiện nhẹ bước hơn trong cân đối chi phí và kinh doanh, để có cơ hội tạo lợi nhuận, có nguồn đề từng bước ghi nhận và xử lý các tồn tại. Ở đây, dĩ nhiên Ngân hàng Nhà nước vẫn chặt chẽ trong cơ chế xét chuyện lương thưởng, trả cổ tức hàng năm.

    Lợi ích hơn 600.000 tỷ

    Như trên, sức nặng giá trị của nghị quyết Quốc hội về xử lý nợ xấu, đã được xem xét ở tính cấp bách để ban hành, sẽ giúp đẩy nhanh việc tái tạo nguồn lực có quy mô hơn 600.000 tỷ đồng đang kẹt trong nợ xấu và tiềm ẩn thành nợ xấu.

    Con số trên gồm: khoảng 150.000 tỷ đồng nợ xấu nội bảng hiện tại của các tổ chức tín dụng báo cáo; 207.876 tỷ đồng nợ xấu đã bán cho VAMC chưa xử lý; khoảng 254.000 tỷ đồng nợ tiềm ẩn có thể trở thành nợ xấu (chủ yếu là khoản đã được gia hạn nợ nhưng giữ nguyên nhóm nợ trong giai đoạn 2012-2015 theo Quyết định 780 và Thông tư 02, nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp).

    Theo dự thảo, nghị quyết trên sẽ có hiệu lực từ 1/7/2017, những cơ chế và hướng tháo gỡ mới sẽ có hiệu lực ngay cho các tổ chức tín dụng rút ngắn mục tiêu xử lý nhanh, thực chất và triệt để nợ xấu.

    Nợ xấu không có nghĩa là vốn bị mất đi. Có cơ chế hỗ trợ thúc đẩy quá trình tái tạo, nguồn lực trong hơn 600.000 tỷ đồng đó trở lại càng nhanh, càng lớn, sẽ càng tạo điều kiện giảm thiểu chi phí trong nền kinh tế, bớt nhồi vào lãi suất, cũng như tạo nguồn kích thích trước quyết tâm đạt chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế mà Chính phủ đang nhấn mạnh.

    Sau 6 năm đặt ra và loay hoay với yêu cầu xử lý nợ xấu, nếu được thông qua, nghị quyết trên của Quốc hội có thể sẽ là một dấu mốc mới, một cú hích mới để tạo được những chuyển biến thực sự về chất.
  3. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    07:13 - Chủ Nhật, 14/5/2017Print
    “Hy vọng vào cơ hội dứt điểm “cục máu đông” nợ xấu”
    Một quan điểm hướng về kỳ vọng Quốc hội sẽ thông qua nghị quyết về xử lý nợ xấu tại kỳ họp tới...
    [​IMG]
    Ông Nguyễn Đức Hưởng, cố vấn cao cấp của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank).

    MINH ĐỨC
    Ngày 22/5 tới, Quốc hội sẽ khai mạc kỳ họp thứ 3, khóa 14. Giới ngân hàng chờ đợi, tại kỳ họp này, nghị quyết về xử lý nợ xấu sẽ được ban hành và nhanh chóng có hiệu lực từ 1/7/2017.

    Trước thềm kỳ họp, theo định hướng của Chính phủ, dự thảo nghị quyết trên đã được Ngân hàng Nhà nước xây dựng, tổ chức thảo luận, lấy ý kiến các ban ngành liên quan để hoàn thiện, báo cáo và trình Quốc hội xem xét.

    Xoay quanh dự thảo trên, ông Nguyễn Đức Hưởng, cố vấn cao cấp của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) cho rằng, có những vấn đề thực sự, mức độ thực chất liên quan cần đặt thẳng ra, nhìn thẳng để hướng đến xử lý nhanh và thực chất nợ xấu.

    Không dưới 10%

    Thưa ông, những vấn đề thực sự, mức độ thực chất đó là gì?

    Đó là hiện nay chúng ta vẫn chưa nói với nhau, với công chúng con số đúng về nợ xấu. Tất nhiên ở mỗi chuẩn mực, cấp độ đánh giá thì có những con số khác nhau. Còn người làm ngân hàng và các cấp quản lý hẳn đều ngầm định nợ xấu hiện nay thực sự rất lớn.

    Trong hơn một năm qua, theo báo cáo của các tổ chức tín dụng thì nợ xấu chỉ dưới 3%, gần đây cho thấy chỉ 2,46%, tức là nợ xấu nội bảng chỉ khoảng 150 nghìn tỷ đồng thôi. Dù các chuẩn mực phân loại nợ của chúng ta hiện đã mức độ cao hơn, sát thực hơn theo Thông tư 02, nhưng rõ ràng là ai cũng thấy có phần còn nằm ở những nơi khác nữa.

    Vấn đề là phải có cơ chế tháo gỡ để công khai minh bạch hơn nữa, thì chắc chắn sẽ có số liệu minh bạch.

    Nói như vậy nhiều người liên tưởng đến vậy thì các tổ chức tín dụng báo cáo sai số liệu ư? Thực chất là họ vẫn báo cáo “đúng” nhưng chưa “trúng”. Đơn giản vì chưa có cơ chế minh bạch rõ ràng thì các tổ chức tín dụng vẫn phải tự bảo vệ mình để bảo vệ người gửi tiền và bảo vệ nền kinh tế vĩ mô và xã hội. Vì hoạt động tín dụng ngân hàng chính là lăng kính phản ánh gần như toàn bộ sức khỏe nền kinh tế của một quốc gia. Vì ở Việt Nam, nguồn vốn kinh doanh, đầu tư chủ yếu vốn vay từ nguồn tín dụng.

    Nếu đi tìm thêm con số nợ xấu “lộ thiên” thì đơn giản cộng thêm nợ xấu chưa xử lý tại Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) khoảng 208 nghìn tỷ đồng nữa, thì tổng nợ xấu vào khoảng 5,8%. Con số này là rõ ràng thấy được..., nhưng vẫn chưa phải tất cả.

    Có một khối lượng nợ đang tiềm ẩn là nợ xấu, theo tôi là cũng phải tính, phải nhận diện cho đúng mức độ, để có ứng xử hợp lý, mà không “nói dối” nhau nữa. Cộng cả phần này, theo tôi biết thì tổng nợ xấu và nợ tiềm ẩn thành nợ xấu của hệ thống hiện không dưới 10%. Đây là mức độ thực chất, là vấn đề thực sự.

    Tôi đọc được gần đây và rất ấn tượng với nhận xét của một người không làm ngân hàng nhưng nói về nợ xấu rất có lý. Nhận xét đó đưa ra giả thiết một ngân hàng lớn ở Việt Nam có dư nợ cho vay 1 triệu tỷ đồng, nhưng năm nào cũng phải thực hiện mấy cuộc giải cứu của đất nước, từ giải cứu dưa hấu, thanh long, con tôm, cà phê, đàn heo... Tất cả dư nợ giải cứu đó đều có vấn đề, vậy thì hỏi báo cáo 5% nợ xấu liệu có tin được không?

    Tôi cũng đặt vấn đề luôn, vậy ngân hàng ấy không dám công khai hết nợ xấu có phải chỉ vì sự tồn tại của một ngân hàng không? Trong khi họ đang gồng mình gánh cho cái chung toàn xã hội và họ đang tự tim cách bảo vệ quyền lợi người gửi tiền để có nguồn xây dựng đất nước đấy chứ.

    Đôi khi, lòng vòng là… giải pháp

    Ở trên, ông nói mức độ thực của nợ xấu và nợ tiềm ẩn thành nợ xấu lớn như vậy, không dưới 10%, là từ cơ sở nào?

    Chúng ta đừng quên, khoảng bốn năm trước, một lượng lớn nợ đáng lẽ đã là nợ xấu nhưng được cơ cấu lại mà không bị chuyển nhóm. Việc cơ cấu này thực hiện theo Quyết định 780 từ năm 2012 và sau đó ở Thông tư 02…, thực hiện theo chủ trương của Quốc hội và Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp vay vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận vốn vay mới và khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Con số từng được báo cáo tại diễn đàn Quốc hội trước đây vào khoảng 300 nghìn tỷ đồng. Theo tôi biết, lượng nợ xấu đã từng “trốn” trước đây đến nay và tương lai gần sẽ lộ diện không dưới 300 nghìn tỷ đồng nữa. Cộng các con số trên lại thì mức độ không dưới 10% là mức độ thực.

    Vì vậy, chúng ta phải nhìn thẳng sự thật đó mới mạnh dạn cho ra đời những cơ chế phù hợp.

    Như vậy thì thời gian qua chúng ta đã “nói dối” về nợ xấu, vì thế mà đến nay mới đặt ra cấp bách để tìm giải pháp xử lý triệt để?

    Thực ra nếu gọi là “nói dối” cũng chưa “đúng”, mà nói thật thì chưa “trúng”. Vì các ngân hàng vẫn hạch toán đúng, nhưng lòng vòng. Sự lòng vòng ở Việt Nam đôi khi cũng là một giải pháp hay, hoặc tình thế và cực chẳng đã.

    Giai đoạn 2011-2012, nếu không có quyết sách cho cơ cấu lại nợ mà không phải chuyển nhóm nói trên, tôi tin là sẽ không có sự phục hồi của nhiều doanh nghiệp, của nền kinh tế như hiện nay.

    Nếu tại thời điểm đó, bắt các doanh nghiệp và hệ thống các tổ chức tín dụng gánh trọn toàn bộ nợ xấu, thực hiện trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ, thì chắc chắn đã có nhiều ngân hàng thương mại sụp đổ rồi, nhiều doanh nghiệp phá sản và nền kinh tế kiệt quệ.

    Ngay như với lãi suất, ghi nhận ngay mức độ lớn của nợ xấu, chi phí trích lập dự phòng rất lớn, chắc chắn ba năm qua lãi suất cho vay đã khủng khiếp. Mà nói thật với nhau, nếu như vậy thì hệ thống ngân hàng làm sao có đủ nguồn mà trích lập cho đầy đủ.

    Chúng ta cũng đừng quên, giải pháp trên đã buộc phải đưa ra sau khi cả ngân hàng và doanh nghiệp trải qua cuộc khủng hoảng toàn cầu từ 2008, rồi ngay sau đó là những năm bất ổn vàng, đô, lãi suất, thanh khoản và nguy cơ đổ vỡ…

    Đừng cuốn lại gửi cho tương lai nữa

    Vậy tại sao đến thời điểm này mới nên đặt ra “vấn đề thực”, không tiếp tục sử dụng những biện pháp trên nữa, thưa ông?

    Đến nay thì những giải pháp trên đã hết sứ mệnh rồi. Chúng ta không thể cứ lạm dụng cơ cấu lại nợ mà không phải chuyển nhóm, nợ xấu mà cứ xem là không xấu mãi. Vì cứ cuốn lại đẩy về tương lai, gửi về sau này ghi nhận thì chẳng khác gì cứ dồn rồi đùn gánh nặng hệ quả cho con cháu chúng ta về sau, trong khi sự thật ngay trước mắt ai cũng nhìn thấy rồi.

    Nếu cứ đùn đẩy như vậy thì thời gian sẽ rất dài. Từ khi xây dựng đề án xử lý nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, đến nay cũng 6 năm rồi. Vậy mà vẫn còn lượng lớn nợ xấu mức độ như trên dồn lại. Cứ cuốn lại rồi gửi chỗ này, gửi chỗ kia, cứ “để mai tính”…, thì sau 6 năm, rồi chục năm nữa nếu không có thay đổi cơ chế, không có sự vào cuộc quyết liệt của toàn thể chế chính trị, các bộ ngành, thì gánh nặng hệ quả sẽ dồn vào con cháu chúng ta chứ còn gì nữa.

    Ví dụ như ở góc độ pháp lý. Đã 6 năm trôi qua, cả ngành ngân hàng vẫn loay hoay trình bày những vướng mắc pháp lý, cũng không ra nổi được bộ luật hay nghị quyết nào đó để hỗ trợ xử lý thực sự triệt để. Chỉ riêng các vấn đề pháp lý, nếu cứ như thời gian qua, chờ thêm nữa, loay hoay thêm nữa, thì chẳng phải đến lượt con cháu chúng ta “thừa kế” thì ai?

    Cho nên tôi hy vọng, với định hướng và dự thảo đã xây dựng, kỳ họp sắp tới của Quốc hội sẽ là cơ hội để quyết định được những cơ chế, giải pháp mạnh, hỗ trợ xử lý nhanh và dứt điểm “cục máu đông” nợ xấu.

    Theo một số thông tin bước đầu về dự thảo hướng dự thảo nghị quyết trên, các biện pháp hỗ trợ sẽ chỉ tập trung ở các ngân hàng yếu kém. Tuy nhiên, cơ chế và môi trường kinh doanh cần bình đẳng, các ngân hàng đều đóng thuế như nhau, nên cần tránh thành viên này được còn thành viên khác thì không được hỗ trợ. Quan điểm của ông thế nào về điểm này?

    Tôi không nghĩ là nghị quyết với các cơ chế, giải pháp chỉ dành riêng cho một nhóm đối tượng nào đó, mà cần tập trung cho cả hệ thống các tổ chức tín dụng. Cơ ché là bao trùm, thậm chí phải đi trước đón đầu chứ không phải chạy theo vuốt đuôi và chỉ giải quyết tiểu tiết.

    Chúng ta biết là nợ xấu tập trung ở các ngân hàng yếu kém. Đúng là vậy. Nhưng theo tôi biết, mức độ tập trung tại đây chỉ khoảng 30% mà thôi. Có một vài trường hợp, là ngân hàng lớn và không bị xem là yếu kém, nhưng quy mô nợ xấu của họ còn bằng cả mấy ngân hàng yếu kém cộng lại.

    Vì vậy, nếu nghị quyết, cơ chế hay giải pháp chỉ tập trung ở các ngân hàng yếu kém, thì chỉ phần nhỏ 30% tổng nợ xấu được hỗ trợ xử lý, như vậy làm sao nhanh, triệt để và thực chất được. Chưa nói là thiếu công bằng với các ngân hàng khác, họ đang đóng góp nhiều hơn cho xã hội.

    Ngân sách từng “ăn” trước rồi

    Cứ cho là sẽ có những giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ để đẩy nhanh xử lý nợ xấu mà không đẩy gánh nặng cho con cháu như ông nói. Nhưng như vậy có ưu ái riêng cho các tổ chức tín dụng, còn các doanh nghiệp và cả vấn đề ngân sách thì sao? Và nếu có sự tháo gỡ này thì có tháo gỡ trách nhiệm ngân hàng - một trong những nhân tố gây ra nợ xấu hay không?

    Nói về ngân sách thì tôi nói thẳng. Trước đây ngân sách cũng đã từng “ăn” cả vào tương lai rồi, “ăn” cả phần lẽ ra chưa được hoặc chưa có. Bây giờ phải “nhả” ra mới đúng đạo lý.

    Vì sao? Vì những năm trước đây, nợ xấu không được ghi nhận, chưa phân loại sát thực và chặt chẽ, theo các chuẩn mực cao hơn như hiện nay, nên doanh thu và lợi nhuận các ngân hàng trước đây có phần ảo. Ảo doanh thu và lợi nhuận thì phần nộp ngân sách cũng ảo theo thôi.

    Còn có ưu ái các ngân hàng hay không? Cơ chế tháo gỡ có góp phần chạy tội cho cán bộ ngân hàng gây ra nợ xấu hay không? Tôi cho rằng, chắc chắn là không.

    Vì Ngân hàng Nhà nước đã có quy trình rất nghiêm ngặt, khi xử lý cái chung, phát hiện ra ai sai thì xử nghiêm người đấy. Nhẹ thì hành chính, nặng thì truy tố trước pháp luật. Các ngân hàng muốn du di cũng không được, vì mọi người đều biết hết.

    Còn ưu ái ngân hàng hay không, tôi thấy đây là nghị quyết hệ thống hóa lại những quy định, tháo gỡ những vướng mắc chứ không phải chống lại hay trái với luật nào. Nó hướng đến những giải pháp, cơ chế hỗ trợ để đẩy nhanh hơn, thực chất hơn quá trình.

    Nói cho đúng là “ưu ái” xử lý nợ xấu, để thông mạch máu của nền kinh tế, để vốn và các cửa làm ăn, sinh kế khơi thông, để lãi suất và chi phí sản xuất hợp lý hơn nữa cho doanh nghiệp, để thúc đẩy cả nền kinh tế, mà như thế mới có nguồn để mà tăng nộp ngân sách. Đó là lợi ích chung, ưu ái chung.
  4. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Sau 3 năm siết mạnh về nợ xấu với nhóm 5 quá mạnh cùng các nhóm 4, 3, 2, 1 dù cho một công trình BĐS phải xây dựng đến khi bán thì thời gian rất dài từ 3-5 năm nhưng NHNN bắt buộc sau 3 năm phải trích dự phòng nhóm 5 nghĩa là trích dự phòng tận 100% cả phần cho vay gốc nhưng TT200 lại quy định phải có doanh thu từ 90% trở lên mới được hạch toán nên phần lớn các công trình của BĐS phần lớn thường trích lập nhóm 5 làm cho các bank khó cung tiền ra thị trường và nợ xấu tăng rất mạnh vì trích dự phòng.

    TT39 quy định mới nhất từ 15/3 (nghĩa là từ quí I/2017) chỉ áp phần nợ xấu với phần lãi chứ không phải phần gốc một phần là các bank đã trích dự phòng rất mạnh giờ đây đã có điểm an toàn và năm 2017 là lúc nới dần cho dòng bank này@

    16:28 | 05/04/2017

    NHNN yêu cầu mở rộng tín dụng
    NHNN Việt Nam vừa có văn bản (số 2178/NHNN-TD) chỉ đạo các TCTD, yêu cầu tập trung vốn cho sản xuất, kinh doanh, tổng giám đốc một NHTM cho biết.
    [​IMG]
    Ảnh minh họa
    Đặc biệt đáp ứng đầy đủ vốn và kịp thời nhu cầu vốn cho các lĩnh vực ưu tiên: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DNNVV, DN ứng dụng công nghệ cao.

    Theo đó các TCTD phải xây dựng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong mạng lưới của mình phù hợp với chỉ tiêu chung và sớm có xây dựng các quy định cho vay vốn đối với tổ chức và cá nhân theo quy định mới tại Thông tư 39. Ngoài ra, NHNN chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh các chương trình tín dụng quốc gia, như chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp nông thôn, cho vay đóng mới, nâng cấp tàu khai thác hải sản xa bờ, cho vay tái canh cà phê, cho vay hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch nông - thủy sản…

    Đặc biệt các TCTD tiết giảm chi phí để dành nguồn vốn tham gia chương trình tín dụng khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo chủ trương của Chính phủ. Bên cạnh việc mở rộng tín dụng, NHNN yêu cầu các TCTD cải tiến thủ tục hồ sơ tín dụng, tạo điều kiện cho người vay vốn tiếp cận nhanh nhất và kiểm soát an toàn vốn vay bằng nâng cao chất lượng thẩm định, các TCTD phải thường xuyên đánh giá khả năng tài chính và trả nợ của bên vay vốn…

    * Từ 15/3/2017, các tổ chức tín dụng bắt đầu thực hiện quy chế cho vay mới. Cùng thời điểm, khuôn khổ pháp lý về cho vay tiêu dùng của công ty tài chính cũng có hiệu lực.

    Thông tư 39 cũng bổ sung quy định về nghĩa vụ trả lãi cho tiền lãi chậm trả, cụ thể: trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

    Thông tư 39 cũng quy định trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên phần dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất áp dụng do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
    Tín dùng bắt đầu tăng khá mạnh do áp lực trích lập không còn khi TT39 bắt đầu áp dụng từ 15/3!

    Thứ 4, 05/04/2017, 04:33 PM

    Tín dụng đã tăng trưởng hơn 4%
    Tính đến cuối quý 1/2017, tín dụng nền kinh tế đã tăng trưởng 4,03% trong khi tổng phương tiện thanh toán tăng 3,52%.
    Theo số liệu của Vụ Chính sách tiền tệ, quý 1/2017, các cân đối vĩ mô về cơ bản được đảm bảo, thị trường tiền tệ tiếp tục ổn định, thanh khoản của hệ thống các TCTD tiếp tục được đảm bảo.

    Các chỉ tiêu tiền tệ tăng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và các giải pháp điều hành của NHNN; đến ngày 30/3/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,52%, tín dụng đối với nền kinh tế tăng 4,03% so với đầu năm.

    Như vậy số liệu được cơ quan chuyên trách của NHNN công bố cho thấy có sự biến chuyển khá mạnh của dòng vốn trong những ngày cuối tháng 3. Trước đó, NHNN cho biết,đến ngày 23/3/2017 tín dụng mới tăng 3,14% so với cuối năm 2016 và tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dư nợ tín dụng đối với những lĩnh vực này chiếm khoảng 80%. Còn tổng phương tiện thanh toán đến 23/3 tăng 3,36%.
  5. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    http://mnews.chinhphu.vn/Story.aspx?did=303277
    Thứ bảy 15/04/2017 19:39

    Thủ tướng mong muốn BIDV hướng vào tốp 25 ngân hàng thương mại lớn nhất ASEAN
    (Chinhphu.vn) - BIDV hiện là ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam nhưng không được tự bằng lòng mà cần phải nhìn xa trông rộng, có khát vọng vươn lên, có tầm nhìn dài hạn và xa hơn nữa, Thủ tướng phát biểu.

    [​IMG]
    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại lễ kỷ niệm. Ảnh: VGP/Quang Hiếu
    Sáng 15/4, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm thành lập (26/4/1957-26/4/2017).

    Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã dự buổi lễ. Chủ tịch Quốc hội Lào Pany Yathotou dự và chúc mừng BIDV.

    Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng đánh giá, trải qua chặng đường lịch sử 60 năm xây dựng và trưởng thành, BIDV đã không ngừng lớn mạnh, có nhiều đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước.

    Trong thời điểm khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới, với trách nhiệm và vị thế là 1 trong 4 ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất, BIDV đã tham gia dẫn dắt bình ổn thị trường tài chính, ngân hàng, hỗ trợ thanh khoản, ổn định hệ thống. Đặc biệt, BIDV đã chủ động, tham gia tích cực, có trách nhiệm trong việc thực hiện chủ trương cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu.

    Qua 60 năm xây dựng và trưởng thành, BIDV đã đạt nhiều thành tích xuất sắc, vươn lên trở thành ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam với quy mô tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng, có trên 1.000 chi nhánh, phòng giao dịch và hơn 25.000 cán bộ, nhân viên. Ngân hàng đóng góp ngân sách hằng năm 5.000 tỷ đồng. BIDV cũng là ngân hàng đầu tiên đầu tư ra nước ngoài, góp phần thúc đẩy kinh tế đối ngoại tại 6 nước, đặc biệt là tại Lào và Campuchia.

    “Hôm nay, dù đúng vào dịp Tết cổ truyền (của Lào và Campuchia-BT) nhưng sự hiện diện của Chủ tịch Quốc hội Lào và đại diện Chính phủ Hoàng gia Campuchia đã cho thấy sự đánh giá cao của các nước bạn đối với BIDV”, Thủ tướng nói.

    Bước sang giai đoạn phát triển mới, trong bối cảnh đất nước có những thời cơ thuận lợi nhưng cũng rất nhiều khó khăn, thách thức, nhiệm vụ cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu là sứ mệnh trọng tâm của ngành ngân hàng, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ mà trực tiếp là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Hệ thống ngân hàng phải chủ động, tích cực đổi mới và hội nhập, đón bắt và tận dụng cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, tập trung cơ cấu lại, nâng cao năng lực quản trị tài chính, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh.


    [​IMG]
    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội Lào Pany Yathotou dự và chúc mừng BIDV. Ảnh: VGP/Quang Hiếu

    Phải nâng tầm khu vực và quốc tế

    “Thời gian tới, nhiệm vụ với BIDV là phải nâng tầm cỡ để trở thành một ngân hàng thương mại hàng đầu khu vực, mang tầm cỡ quốc tế. Đây vừa là nhiệm vụ chính trị quan trọng, vừa là vinh dự, tự hào của BIDV”, Thủ tướng nhấn mạnh và đề nghị BIDV làm tốt một số trọng tâm.

    Một là, về chiến lược và tầm nhìn, BIDV hiện là ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam nhưng không được tự bằng lòng, mà cần phải nhìn xa trông rộng, có khát vọng vươn lên, có tầm nhìn dài hạn và xa hơn nữa, cả thị trường trong nước và trên phạm vi khu vực, quốc tế.

    Thủ tướng đề nghị BIDV phải có chiến lược kế hoạch trung hạn, hằng năm với nhiệm vụ, chỉ tiêu cụ thể để phấn đấu đạt được mục tiêu này mà trước mắt nằm trong tốp 25 ngân hàng thương mại lớn nhất ASEAN.

    Hai là, nâng cao năng lực tài chính. Hiện tại vốn điều lệ của BIDV tương đương khoảng 1,5 tỷ USD, thấp hơn các ngân hàng thương mại lớn trong khu vực. Đây là một hạn chế đối với yêu cầu mở rộng, phát triển hoạt động kinh doanh, bảo đảm an toàn theo chuẩn mực quản trị quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực. Do đó, nâng cao năng lực tài chính là nhiệm vụ ưu tiên mà BIDV phải tập trung triển khai thực hiện tốt.

    Ba là, tăng cường ứng dụng CNTT, tận dụng các cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
    4. Cần xác định CNTT là sức mạnh, là công cụ trọng yếu để nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh. BIDV phải tập trung đầu tư, nâng cấp hệ thống công nghệ cốt lõi để tăng cường năng lực quản trị, xây dựng nền tảng phát triển, phát triển mạnh các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Thiết lập các kênh kinh doanh và dịch vụ mới. Đồng thời, phải chú trọng công tác bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin.

    [​IMG]
    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã trao Huân chương Lao động Hạng Nhất cho BIDV. Ảnh: VGP/Quang Hiếu
    Bốn là, nâng cao năng lực quản trị điều hành dựa trên chuẩn mực quốc tế. BIDV cần phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình, tạo điều kiện cho tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

    Năm là, bên cạnh nhiệm vụ kinh doanh thuần túy, BIDV cần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Đảng, Nhà nước đề ra. Cần bám sát các chủ trương chỉ đạo của Chính phủ, bảo đảm cung ứng đủ nguồn vốn cho các chương trình phát triển KTXH, các công trình trọng điểm quốc gia, các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ, hỗ trợ khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời tiếp tục tham gia làm tốt công tác bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện hiệu quả đầu tư tại nước ngoài.

    Cần tiếp tục là ngọn cờ đầu, đồng hành hỗ trợ doanh nghiệp, xúc tiến đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là ở Lào và Campuchia. Phải coi đây là nghĩa vụ quốc tế, là nhiệm vụ quan trọng được Đảng, Nhà nước giao trong hoạt động kinh tế đối ngoại, thúc đẩy hội nhập và nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, trước hết là Lào, Campuchia và Liên bang Nga.

    Sáu là, với vai trò, trách nhiệm của mình, BIDV cần tiếp tục chủ động, tích cực tham gia hiệu quả vào việc cơ cấu lại các tổ chức tín dụng mà trọng tâm là xử lý nợ xấu và xử lý các ngân hàng yếu kém. Trong điều kiện hiện nay, các ngân hàng thương mại Nhà nước phải là một trong những đối tác chủ lực để xử lý hiệu quả vấn đề này.

    “Cuối cùng, để làm được tất cả những việc nêu trên, BIDV phải đặc biệt chú trọng xây dựng bộ máy và nguồn lực. Đây là yếu tố căn bản dẫn đến mọi thành công. Ngân hàng kinh doanh chữ tín, có con người là có tất cả. Chọn được con người tốt thì mới tạo dựng và giữ được niềm tin”, Thủ tướng phát biểu và đề nghị đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhân tài phải là một nhiệm vụ trọng tâm của BIDV, trong đó lưu ý đến việc thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 về chống suy thoái, chống tham nhũng, chống chuyển hóa, tự diễn biến.

    Nhân dịp Tết cổ truyền của Lào và Campuchia, Thủ tướng xin chúc mừng đồng chí Pany Yathotou, Chủ tịch Quốc hội Lào, các vị trong đoàn đại biểu Lào và Campuchia tham dự buổi lễ một năm mới mọi điều tốt đẹp.

    Tại buổi lễ, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã trao Huân chương Lao động hạng Nhất cho BIDV.

    Cũng tại buổi lễ, BIDV đã đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhất của Nhà nước CHDCND Lào, Huân chương Monisaraphon hạng Moha Sereivath của Quốc vương Campuchia.
    Đức Tuân


    Đồng thời kết quả kinh doanh BID tốt hơn cả năm 2015 lúc giá tận 28k!
    [​IMG]

    Năm 2016, BIDV đạt lợi nhuận trước dự phòng đạt 17.009 tỷ đồng, sau khi trích lập 9.274 tỷ đồng, tương đương gần 55% lợi nhuận thì lợi nhuận trước thuế còn 7.735 tỷ đồng.

    * Về nợ xấu:
    - Thép giải quyết tồn kho và đã sáng hoàn toàn thì phần nợ xấu ngành thép đã giải quyết xong.
    - Giá Cao Su tăng trưởng mạnh cuối năm 2016 đến nay nhưng nợ xấu ngành này bắt đầu giải quyết vào quí I/2017 do tính chất mùa vụ nên tạm thời quí I/2017 mới giải quyết dần.
    - Giá dầu ngành này tạm thời không vấn đề do lợi nhuận thặng dư các năm trước còn lại.
    - BĐS ngành này mặc dù năm 2016 bắt đầu ấm dần nhưng do ảnh hưởng TT200 của BTC yêu cầu bắt buộc phải chiếm 90% doanh thu mới đươc hạch toán nên tạm thời phần này từ cuối năm 2016 gần như chưa giải quyết do yếu tố đặc thù muốn bán trên 90% thì phải có thời gian nên từ quí I/2017 mới giải quyết dần.

    * Về vĩ mô Năm 2016, Kinh tế đã chính thức ổn định khi:
    - BDS ấm dần doanh nghiệp vượt qua vùng trũng của nền kinh tế.
    - Hàng hóa cơ bản tăng khá cao về giá Thép, Cao Su,...
    - Vùng khó khăn nhất của Doanh nghiệp đã qua.
    - Hầu hết doanh nghiệp tăng tốc mạnh mẽ.

    * Năm 2017 là năm kinh tế tăng trưởng khá với 2016 và BID đại diện cho sự mạnh mẽ đó khi:
    - Lạm phát đã ổn định.
    - Chỉ số GDP đặt mục tiêu 6.7% tăng khá cao so với 6.21% của năm 2016.
    - 2 Tháng đầu năm chỉ số PMI tăng tốc mạnh mẽ cao nhất 21 tháng vô địch Đông Nam Á đạt 54.2đ (trên 50 điểm là an toàn).
    - BID giờ chất hơn 2015(năm mà BID sáp nhập MHB, trước kia MHB chuyên trị về BĐS) nhiều trong khi P/E 9.27(chưa tính cổ tức) đúng ra phải phải 25-30!
    - Bắt đầu từ quí I/2017 thì TT200/ của BTC về chế độ kế toán Doanh nghiệp các doanh nghiệp phải hạch toán trên 90% mới được hạch toán doanh thu thì lúc đó tiền đổ ào ào về Bank!

    * Đỉnh cao đẳng cấp, tương lai chói sáng!
    - Đỉnh cao đẳng cấp: Năm 2016 hầu hết các bank mang tính phòng thủ lớn thì BID chủ động hỗ trợ doanh nghiệp mạnh mẽ do định hướng được tương lai dù lợi nhuận 2016 tăng cực kỳ mạnh mẽ cao nhất trong dòng Bank tăng trưởng rất mạnh so với 2015 nhưng do mục đích hỗ trợ doanh nghiệp nên BID trích lập dự phòng khủng khiếp tận 55% từ con số 17000 tỉ và giờ đây mọi thứ sáng dần thì hào quang từ thương hiệu quay lại do trong khó khăn nhất BID vẫn đồng hành cùng doanh nghiệp.
    • Năm 2016, BIDV đạt lợi nhuận trước dự phòng đạt 17.009 tỷ đồng, sau khi trích lập 9.274 tỷ đồng, tương đương gần 55% lợi nhuận thì lợi nhuận trước thuế còn 7.735 tỷ đồng.
    • Vietcombank cũng dành tới 43% trong tổng số 14.927 tỷ đồng lợi nhuận kiếm được cho trích lập, lợi nhuận trước thuế năm 2016 của Vietcombank đạt 8.517 tỷ đồng.
    • Chỉ dành 37% của lợi nhuận kiếm được là 13.552 tỷ đồng, Vietinbank là ngân hàng chi thấp nhất trong khối Nhà nước chi cho khoản này.
    - Tương lai chói sáng: Khi khó khăn nền kinh tế nhất đã qua thì thương hiệu bắt đầu mạnh mẽ hơn nhờ sự đồng hành cùng doanh nghiệp, phần trích lập khủng khiếp quay về và năm 2017 tăng tốc mạnh mẽ.
    • NHNN chủ trương hạ tiêu chuẩn TT39 hỗ trợ doanh nghiệp thì ngoài trích trích lập dự phòng quay về và hệ số CAR thì miễn bàn.
    • Cổ tức 8.5% năm 2016 dễ dàng hóa giải (vẫn còn 1 phương án đơn giản nhất hay nhất là tìm đối tác nâng hệ số CAR khi NHNN hiện đang nắm tận 95.28% khi có cổ đông chiến lượt)
    • Lợi nhuận trích lập khủng khiếp năm 2016 quay về cộng thêm phần kinh doanh năm 2017 thì còn gì tuyệt vời hơn.
    * Về ROOM, ETF:
    - Hiện NHNN(SBV) nắm 95.28% là tỉ trọng nắm chi phối quá lớn nên việc giảm % chi phối của NHNN là điều đương nhiên nên việc nới ROOM gần như là chắc chắn trong năm nay khi mùa ĐHCĐ đang cận kề để tìm đối tác chiến lượt mà việc ưu tiên có lẽ tính đến yếu tố chính trị nên việc chọn hiện giờ chỉ có Nhật hay Mỹ mà thôi.

    - ETF do tỉ trọng NHNN còn nắm trên 95% nên trong năm 2015 đã một lần định vị và năm nay là năm mà ETF sẽ định vị chính xác hơn khi mọi thứ đối với BID gần như hoàn hảo: Thương hiệu số 1, Giao dịch số 1, đẳng cấp số 1, tương lai số 1,....đúng với mã đại diện cho thị trường chung.

    * Từ 15/3/2017, các tổ chức tín dụng bắt đầu thực hiện quy chế cho vay mới. Cùng thời điểm, khuôn khổ pháp lý về cho vay tiêu dùng của công ty tài chính cũng có hiệu lực.

    Thông tư 39 cũng bổ sung quy định về nghĩa vụ trả lãi cho tiền lãi chậm trả, cụ thể: trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

    Thông tư 39 cũng quy định trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên phần dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất áp dụng do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
  6. daybyday

    daybyday Thành viên gắn bó với f319.com Not Official

    Tham gia ngày:
    24/04/2010
    Đã được thích:
    3.115
    BID càng PR càng giảm
    Thế mí đểu kkkk
    dongtay79 thích bài này.
  7. thequy1978

    thequy1978 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa Not Official

    Tham gia ngày:
    27/02/2008
    Đã được thích:
    16.620
    Giờ nó quan tâm đến thằng nợ thôi, vì thằng nợ bùng được khối tiền 600k tỷ kia mà cứ bds mà múc
    dongtay79 thích bài này.
  8. suorange22

    suorange22 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/10/2014
    Đã được thích:
    128
    ngon múc xúc all in full margin
    dongtay79 thích bài này.
  9. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Còn 7% cổ tiền, dù hỗ trợ mạnh nền kinh tế theo chủ trương chung nhưng BID vẫn kinh doanh tốt (chia bằng tiền đã chứng minh tài chính lành mạnh) và khi được đền đáp lại công sức mấy năm qua thì BID sáng nhất nhưng trước mắt chờ gió đông....
  10. pine872003

    pine872003 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    10/05/2003
    Đã được thích:
    3.381
    Thường vụ quốc hội thông qua nghị quyết là chắc. CTG BID mà múc

Chia sẻ trang này