Báo chí găm tin xấu để giờ mới tung ra

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi MartinStock, 21/07/2008.

660 người đang online, trong đó có 264 thành viên. 23:47 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 2544 lượt đọc và 16 bài trả lời
  1. MartinStock

    MartinStock Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/02/2007
    Đã được thích:
    2
    Báo chí găm tin xấu để giờ mới tung ra

    Dự báo lợi nhuận của các ngân hàng sụt giảm trong 6 tháng cuối năm Thứ hai, 21/7/2008, 11:24 GMT+7
    Với khó khăn trong hoạt động ngân hàng (NH) 6 tháng đầu năm 2008, mặc dù một số NH công bố vẫn đạt mức lợi nhuận cao, nhưng nhìn chung thu nhập lãi suất ròng của các NH đã sụt giảm và xu hướng này sẽ còn ảnh hưởng đến cuối năm.


    Mới khoảng 15% NH công bố lợi nhuận


    Chỉ tính 5 tháng đầu năm, chênh lệch thu nhập trừ chi phí luỹ kế của toàn hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) VN đạt trên 16 nghìn tỉ đồng, hệ số ROA (lợi nhuận sau thuế/bình quân tổng tài sản) và ROE (lợi nhuận sau thuế/bình quân nguồn vốn chủ sở hữu-quỹ khen thưởng phúc lợi) của các TCTD tương ứng là 0,84% và 8,85%. Điều đó cho thấy trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế nói chung và của hoạt động NH nói riêng 6 tháng đầu năm 2008 nhiều NH vẫn có lãi lớn.


    Nhưng lợi nhuận của NH 6 tháng đầu năm từ lãi suất đã có dấu hiệu sụt giảm, đặc biệt ở các NH mà hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỉ trọng quá cao trong hoạt động. Đến nay, mặc dù cân đối tháng 6 của tất cả TCTD đã xong nhưng mới chỉ có khoảng 15%/ tổng số NHTM trong nước thông báo lợi nhuận. Các NH khác có lẽ có những vấn đề cần phải cân nhắc trước khi công bố.


    Chênh lệch thu nhập- chi phí giảm mạnh


    Thu nhập từ lãi suất (lãi tín dụng, lãi tiền gửi, lãi đầu tư...) là nguồn thu chủ yếu của NH. Trong đó thu lãi từ tín dụng chiếm tỉ trọng lớn nhất. Trong những năm trước, khi chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và cho vay lớn thì mức thu nhập lãi suất ròng (thu nhập LS-chi phí LS) của các NH khá cao.


    Có thể thấy tình hình này qua tỉ trọng thu-chi LS trong cơ cấu tổng thu nhập của NH. Ví dụ, năm 2007, thu nhập LS của khối NHTMCP ở Hà Nội chiếm 83,4%/tổng thu, nhưng chi phí LS chỉ chiếm 74,2%/tổng chi phí. Mức chênh lệch là 9,2%. Đến cuối tháng 6.2008, thu nhập LS cũng của khối NHTMCP Hà Nội đã giảm xuống, còn chiếm 79,8%/tổng thu, chi LS chiếm 74,8%/tổng chi phí. Mức chênh lệch chỉ còn 5%.


    Phó TGĐ một NHTMCP cho biết: "Từ tháng 6 đến nay, chênh lệch thu nhập-chi phí LS tín dụng của một số NH đã giảm rất thấp". Lãi suất ròng giảm ngoài lý do LS NH phải trả cho người gửi tiền trong 6 tháng đầu năm quá cao, lãi suất cho vay bị thu hẹp lại, còn có nguyên nhân tình trạng khách hàng chậm hoặc không trả nợ đến hạn đang gia tăng. Chỉ còn có các khoản cho vay trên thị trường liên NH là có chênh lệch LS cao.


    Vì vậy, chỉ có những NH nào có thu nhập từ lãi suất cho vay trên thị trường liên NH lớn mới còn có thu nhập LS ròng lớn. Hầu hết các NH đã công bố mức lợi nhuận cao vừa qua là những NH ít phải đi vay mà chủ yếu là cho vay các NH khác trên thị trường liên NH. NH nào phải đi vay nhiều từ thị trường liên NH trong 6 tháng đầu năm nhiều khả năng thu nhập LS ròng thấp, thậm chí lỗ.


    Ngay cả đối với những NH có mức lợi nhuận lớn, một số chuyên gia tài chính vẫn cho rằng có thể có 2 yếu tố ảnh hưởng: 1/ Do nguyên tắc kế toán dồn tích (dự thu, dự chi) nên nhiều khoản chưa thu được, nhất là lãi suất cho vay nhưng vẫn được tính là thu nhập. 2/Phần trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng của nhiều NH chưa chưa phản ánh thực trạng chất lượng tín dụng (mức trích dự phòng thấp hơn so chất lượng tín dụng thực)...


    Khó khăn những tháng cuối năm


    Đây là nhận định của hầu hết các lãnh đạo NH khi được hỏi. GĐ một chi nhánh NH Công Thương nói: "Từ quý III trở đi, các DN sẽ rất khó khăn trong trả nợ NH, nợ xấu của nhiều NH nhiều tăng mạnh. Tỉ lệ trích lập dự phòng rủi ro cũng sẽ tăng. Những khoản đã dự thu không thu được sẽ buộc phải xuất toán". Các NH cũng ít điều kiện để thu lợi nhuận nhiều từ thị trường liên NH vì NHNN đang và sẽ tiếp tục tăng cường nghiệp vụ thị trường mở và hoạt động tái cấp vốn với các mức lãi suất thấp hơn nhiều so với lãi suất liên NH. Như vậy, thu nhập LS ròng từ hoạt động chính của NH sẽ khó có thể còn cao như 6 tháng đầu năm.


    Thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối (ngoại tệ, vàng) cũng sẽ không cao như đầu năm 2008. Kinh doanh vàng thì chỉ có một số ít NHTMCP của TPHCM như ACB, Sacombank, Việt AÁ... hoạt động mạnh. Còn ngoại hối, nếu tình hình tỉ giá tương đối ổn định, chênh lệch giữ thị trường chính thức và "chợ đen" không cao, cộng với sự kiểm tra thường xuyên của của NHNN về việc chấp hành các quy định về tỉ giá thì thu nhập từ kinh doanh ngoại tệ của các NH khó có thể cao như 6 tháng đầu năm.


    Có thể đưa ra một số dự đoán về lợi nhuận NH cả năm 2008 như sau: Toàn hệ thống vẫn có chênh lệch thu nhập-chi phí khá lớn, nhưng mức lợi nhuận chắc chắn sẽ thấp hơn mức kế hoạch dự kiến, nguyên nhân chủ yếu do thu nhập LS ròng giảm sút. Có sự phân hóa mạnh trong mức lãi suất của các NH. ACB, Sacombank, Techcombank, Eximbank, MB, Vietcombank (là những NH nguồn vốn lớn, tỉ trọng thu từ hoạt động dịch vụ cao hơn các NH khác) vẫn có thể đạt mức lãi lớn, nhưng một số NH, đặc biệt là các NH quy mô nhỏ mức lợi nhuận thấp và có NH nhiều khả năng chênh lệch thu sẽ nhỏ hơn chi.
  2. MartinStock

    MartinStock Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/02/2007
    Đã được thích:
    2
    Chứng khoán tăng có thực sự bền vững?
    Thứ hai, 21/7/2008, 10:23 GMT+7
    Đã qua hơn ba tuần thị trường chứng khoán Việt Nam tăng liên tục, mức tăng khó có một thị trường nào sánh kịp trong khi chứng khoán thế giới liên tục mất điểm. Đâu là yếu tố tạo nên điều kỳ lạ đó?


    Thông tin thị trường


    Khởi đầu cho sự tăng trưởng của thị trường là thông tin từ hai đối tác chiến lược của Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) là ANZ và Daiwa đăng ký mua thêm cổ phiếu thông qua giao dịch thỏa thuận và khớp lệnh. Tiếp đến là các thông tin vĩ mô có vẻ giúp thị trường ?olạc quan? hơn với chỉ số lạm phát được ?okiểm soát?, thâm hụt cán cân thương mại giảm, thị trường ngoại tệ được chấn chỉnh, cuộc đua tăng lãi suất được kìm lại...


    Tuy nhiên, trên các kênh thông tin khác, sự thật không đơn giản như thế. Tính chu kỳ của lạm phát là điều đáng để bàn và khi sức mua theo chu kỳ bị chững lại thì thâm hụt thương mại sẽ giảm. Không chỉ thế, nguồn cung ngoại tệ gặp khó khăn thì đương nhiên thâm hụt thương mại sẽ giảm đi... Thị trường ngoại tệ, vàng bị kiểm soát, ?osóng? không duy trì ở những thị trường này tất yếu sẽ tìm đến kênh tạo sóng mới. Đó chính là thị trường chứng khoán.


    Tâm lý thua lỗ từ thị trường là một yếu tố khiến cho những nhà đầu tư tham gia thị trường trước đây luôn sẵn sàng quay lại khi có những tín hiệu được cho là ?olạc quan?. Diễn biến thời gian qua là một minh chứng cho điều đó. Họ sẵn sàng quay lại thị trường để tìm kiếm khoản chênh lệch giá bù đắp cho những tổn thất trước đây chứ không chú ý đến bản chất của giá trị cổ phiếu. Nghĩa là họ cố gắng lấy tiền từ túi người khác hơn là chính công ty niêm yết chi trả cho họ. Khi mà tất cả nhà đầu tư đều cho là mình thông minh thì tiền lời sẽ đến từ đâu?


    Nếu trước đây thị trường điều chỉnh do những yếu tố vĩ mô không tốt thì nay liệu những điều đó đã cải thiện được bao nhiêu? Theo các kịch bản của Tổng cục Thống kê, trong sáu tháng cuối năm, nếu mỗi tháng chỉ số giá tiêu dùng tăng 1% thì lạm phát cả năm đạt được mức kỳ vọng của thị trường là 24,75%. Trong khi lạm phát tháng 6 còn ở mức 2,14% thì liệu kịch bản này có hiện thực? Nếu mỗi tháng chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,2% thì con số sẽ là 27,25% (vượt mức kỳ vọng của thị trường)...


    Những vấn đề này còn cần thời gian để kiểm định. Ba bốn tuần qua không phải là khoảng thời gian để khẳng định các yếu tố vĩ mô đã được kiểm soát.


    Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp


    Tình hình kinh doanh của chính các doanh nghiệp cũng sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng bởi những chính sách kiểm soát lạm phát. Một trong những kết quả được quan tâm thời gian qua chính là việc trích lập dự phòng đầu tư tài chính của các doanh nghiệp niêm yết theo công văn yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Việc trích lập dự phòng sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh.


    Một trong những doanh nghiệp được cho là thực hiện ?onghiêm túc? như REE cũng đã báo cáo kết quả thua lỗ trong năm tháng đầu năm do thực hiện việc trích lập dự phòng này. Vậy có thể nói viễn cảnh tăng trưởng lợi nhuận thật khó thành hiện thực cho tất cả các công ty niêm yết.


    Điều mà nhà đầu tư cần lưu ý chính là tính pháp lý của báo cáo hàng quí vì các báo cáo này không cần thiết phải có ý kiến của kiểm toán độc lập. Chính điều này sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng nghệ thuật hạch toán để tạo ra những con số lợi nhuận ?ođẹp? cho thị trường.


    Công ty Bông Bạch Tuyết là một minh chứng cho việc sử dụng nghệ thuật này. Từ báo cáo lãi nay trở thành lỗ là điều khó hiểu đối với trách nhiệm của kiểm toán độc lập, của ban kiểm soát trước các cổ đông của mình, trước các chủ nợ của công ty...


    Tâm lý thống trị thị trường


    Chiều hướng đi lên của thị trường khởi đầu từ sự hứng khởi của các nhà đầu tư về việc đăng ký mua cổ phiếu SSI của hai đối tác chiến lược với số lượng đăng ký lên trên 18 triệu cổ phiếu trong khi thời gian này ?oroom? của nhà đầu tư nước ngoài chỉ còn hơn 10 triệu cổ phiếu. Đồng thời giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tăng đột biến trong 10 phiên trước đó.


    Nhưng điều mà nhà đầu tư cần biết để tránh những ảo tưởng tài chính là, khi một tổ chức mua lại một công ty thông qua thị trường họ thường thực hiện thông qua việc đưa ra một mức giá cao hơn giá thị trường để đánh vào một số nhà đầu tư hiện hữu đang nắm giữ cổ phần lớn trong công ty. Vì món lợi trước mắt, một số cổ đông lớn sẽ bán lại phần sở hữu của mình.


    Một cách khác là trước khi thực hiện chiến lược nói trên, phía muốn mua sẽ chọn một đối tác để gom cổ phiếu công ty cần mua trên thị trường nhằm tránh đột biến tăng giá. Sau khi mua đủ, họ sẽ thực hiện những giao dịch thỏa thuận. Như vậy, bằng việc thực hiện chiến lược này bên mua sẽ giảm thiểu chi phí và thành công trong chiến lược mua lại.


    Một điểm đáng chú ý khác là sự bi hài ?olời hóa lỗ? của Bông Bạch Tuyết. Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty này càng trở nên khó khăn nếu không muốn nói đến nguy cơ phá sản nếu các cổ đông không góp thêm vốn. Thế nhưng giá cổ phiếu Bông Bạch Tuyết trước ngày bị ngưng giao dịch cũng tăng chung với mức tăng của thị trường!


    Hai ví dụ nói trên đã cho thấy phần nào sự chi phối của các ảo tưởng tài chính từ nhà đầu tư trên thị trường. Kịch bản của sự phát triển nóng vào cuối năm 2006 là một bài học lớn cho những ai tham gia thị trường. Thiết nghĩ nhà đầu tư nên quan tâm đến giá trị nội tại của mỗi cổ phiếu để tránh lặp lại tình hình phải bán tháo cổ phiếu những tháng đầu năm.(Nguồn: TBKTSG, 21/7)
  3. MartinStock

    MartinStock Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/02/2007
    Đã được thích:
    2
    Anh đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng Thứ năm, 10/7/2008, 10:15 GMT+7
    Điều tra kinh tế hàng quý của Phòng Thương mại Anh (BCC) công bố ngày 8/7 cho biết kinh tế Anh đang đối mặt nguy cơ suy thoái nghiêm trọng, trong bối cảnh các công ty phải đối mặt với chi phí tăng vọt và số đơn đặt hàng giảm sút.


    Theo điều tra - được tiến hành thăm dò ý kiến gần 5.000 các doanh nghiệp lớn và nhỏ, các công ty trong lĩnh vực dịch vụ trong quý II/2008 đã thông báo sự sụt giảm về số đơn đặt hàng ở mức "đáng báo động", xuống mức thấp nhất kể từ năm 1990. Đồng thời, lòng tin của các công ty dịch vụ cũng chạm mức thấp nhất kể từ năm 1990, do chi phí năng lượng và nguyên liệu thô tăng vọt.


    Bên cạnh đó, theo số liệu chính thức của chính phủ công bố đầu tuần này, sản lượng hàng chế tạo của Anh trong tháng 5 giảm 0,5% so với tháng 4 và giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2007.


    Mặc dù vậy, các nhà kinh tế dự báo rằng bất chấp điều tra không mấy khả quan trên, Ngân hàng Trung ương Anh sẽ duy trì lãi suất ở mức 5% trong cuộc họp ngày 10/7 để đối phó với lạm phát gia tăng.(Nguồn: TTX, 9/7)
  4. vuthang100

    vuthang100 Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    08/01/2006
    Đã được thích:
    3
    Có tin này thì yên tâm đầu tư lâu dài!

    Ngân hàng mà sụp thì bố thằng nào đỡ được!
  5. MartinStock

    MartinStock Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/02/2007
    Đã được thích:
    2
    Tình hình kinh tế khó khăn: Lợi nhuận NH từ đâu ra ?

    Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng bị hạn chế dưới 30%, ngừng đầu tư tài chính, chênh lệch lãi huy động và lãi vay thấp,? nhưng hàng loạt ngân hàng vẫn đạt lợi nhuận khá hấp dẫn. Vậy các ngân hàng tìm ra lợi nhuận từ đâu khi khó cả trong lẫn ngoài?

    Gần chục ngân hàng công bố lợi nhuận cuối tuần qua đều đem đến cho những người quan tâm ít nhiều bất ngờ.

    Ít ai nghĩ trong tình hình này ACB lại lãi hơn 1.000 tỷ, Sacombank trên 754 tỷ, Eximbank 723 tỷ, BIDV 604 tỷ, Đông Á hơn 400 tỷ? Ngay cả một số ngân hàng quy mô vừa và nhỏ như Quân đội, Hàng Hải, Sea Bank cũng lời hàng trăm tỷ đồng?

    Năm 2007, ACB lãi hơn 1.000 tỷ đồng từ đầu tư chứng khoán nhưng 6 tháng đầu năm 2008, ông Lý Xuân Hải, Tổng GĐ ngân hàng ACB cho biết ngân hàng này không đầu tư vào lĩnh vực này nữa và nguồn thu chủ yếu từ cho vay trên thị trường liên ngân hàng và phí từ sàn giao dịch vàng.

    Trong khi nhiều ngân hàng phải đi vay lại từ các ngân hàng khác hoặc huy động với lãi cao ngất ngưởng thì ACB luôn có nguồn tiền để cho vay tại thị trường liên ngân hàng mà lãi suất nhiều thời điểm trên 20%, còn sàn vàng thì khá nhiều phiên phí thu về 1 tỷ đồng/phiên.

    Hai nguồn thu chính này đã giúp ACB đạt lợi nhuận cao nhất trong các ngân hàng đã công bố lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2008. Trong khi đó, Eximbank trông chờ chính vào kinh doanh ngoại tệ và vàng, hỗ trợ xuất nhập khẩu, tuy chưa có con số chính thức nhưng các nguồn trên đem lại hơn 80% lợi nhuận mà Eximbank thu được trong 6 tháng qua.

    Không cao như hai ngân hàng trên nhưng con số lợi nhuận hơn 400 tỷ của Đông Á được xem là nỗ lực rất lớn như thừa nhận của Tổng GĐ Trần Phương Bình.

    Kiều hối và dịch vụ là hai mảng thu chính đem đến lợi nhuận cao của Đông Á trong thời gian qua. Các dịch vụ của Đông Á như chi trả kiều hối tại nhà, NH 24 giờ? đang hoạt động rất khả quan. Sacombank, MB, Hàng Hải? cũng chú trọng và có nguồn thu lớn từ dịch vụ để bù đắp cho hoạt động cho vay đang bị siết chặt.

    Một ngân hàng mới ra đời như ngân hàng Liên Việt cũng tung vào cho vay trong thị trường liên ngân hàng với số dư bình quân 2.500 tỷ đồng để lấy lãi suất bình quân 19%/năm, tính trung bình mỗi tháng Liên Việt lãi khoảng 40 tỷ đồng trong khi chi phí cho hoạt động chưa cao vì mới chính thức ra mắt hồi tháng 5/2008.

    Những nghi ngại như lãi suất huy động lên tới 18-19%/năm, cộng với tỷ lệ dự trữ bắt buộc, dự trữ bảo đảm thanh toán, tồn quỹ tiền mặt... trong khi lãi suất cho vay không quá 21%/năm, vậy còn lời bao nhiêu?

    Hay chứng khoán, nhà đất đều đóng băng, nguồn nào bù vào? Thật ra, lãi suất đầu vào 18-19% năm và đầu ra 21% chỉ mới có khoảng hơn 1 tháng nay. Trước đó, nhiều ngân hàng còn nguồn vốn huy động dưới 12%/năm để cho vay trên 18%/năm không phải ít, chưa kể từ 19/5 trở về trước nhiều ngân hàng còn cho vay đến 23-24% năm do không bị khống chế dưới 21%.

    Chỉ có một số ngân hàng nhỏ phải chịu chênh lệnh giữa huy động và vay thấp do thiếu vốn còn phần lớn các ngân hàng đã công bố lợi nhuận như trên đều có thanh khoản tốt và lợi nhuận có từ khoản trên cũng không hề nhỏ. Trong tình cảnh nhiều khách hàng kêu ca vì lãi vay quá cao thì lợi nhuận từ nguồn này luôn là điều tế nhị của các ngân hàng.

    Hiện nay nhiều ngân hàng vẫn hưởng lãi, thậm chí lãi cao trên 1,5%/tháng do đã điều chỉnh với những hợp đồng cho vay mua nhà, đất, tiêu dùng, mua xe hơi, du học? và những khách hàng vay dạng này những tháng đầu năm vẫn còn khả năng trả lãi. Phó Tổng GĐ phụ trách khối khách hàng cá nhân một ngân hàng cho biết: ?oLợi nhuận từ những khoản vay dạng trên không còn được như năm trước nhưng ?otích tiểu thành đại?.

    Cho đến nay số khách hàng mất khả năng trả nợ rất nhỏ và không đáng kể?. Giá chứng khoán xuống mạnh nhưng nhiều ngân hàng vẫn chưa bị ảnh hưởng nặng do giá cầm cố khá thấp, nhiều khách hàng vẫn cố trả nợ để chờ ?ongày mai tươi sáng?.

    GĐ môi giới một Cty chứng khoán nhận định: ?oPhần lớn chứng khoán chỉ được cầm cao lắm là 50% giá trị và khách hàng phải rót tiền thường xuyên trả nợ để khỏi bị giải chấp nên các ngân hàng thường nắm đằng chuôi?. Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng tỷ lệ tín dụng hạn chế dưới 30% đã được nhiều ngân hàng ?oxài? gần hết nên trong 6 tháng đầu năm có lợi nhuận cao cũng không có gì bất ngờ.

    TS kinh tế Nguyễn Quang Hưng cho rằng, 6 tháng cuối năm khi mà các khoản vay từ năm 2007 đáo hạn, nhiều khách hàng phải tìm mọi cách trả nợ thì khi đó các khoản vay trên mới bị ảnh hưởng. Ông Hưng còn đánh giá: ?oTuy nhiên với việc nhiều ngân hàng không phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động cho vay thì lợi nhuận năm 2008 có cao cũng không phải là điều khó hiểu?.
  6. MartinStock

    MartinStock Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/02/2007
    Đã được thích:
    2
    UB Thường vụ Quốc hội giám sát đầu tư XDCB sử dụng vốn Nhà nước

    Nhiều nhược điểm về chính sách lẫn quản lý, điều hànhMặc dù chương trình giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) sử dụng vốn nhà nước giai đoạn 2005 - 2007 còn chưa kết thúc, song đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã đưa ra một số cảnh báo không thể không quan tâm.

    Xu hướng tăng lên ở phần... hạn chế

    Bản báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) - được coi là bức tranh tổng thể về đầu tư XDCB của toàn xã hội - có sự xuất hiện khá nhiều của cụm từ ?ocó xu hướng tăng lên?, nhưng là ở phần... hạn chế. Số lượng và tỷ lệ các dự án vi phạm các quy định quản lý đầu tư có xu hướng tăng lên (năm 2005 có 1.822 dự án vi phạm, chiếm 14,57%; năm 2006 có 3.173 dự án, chiếm 18,19%; năm 2007 có 4.763 dự án, chiếm 16,6%); tình trạng dự án chậm tiến độ vẫn chưa được khắc phục, còn có xu hướng tăng dần lên theo các năm; các dự án phải điều chỉnh trong quá trình thực hiện có xu hướng tăng lên về số lượng cũng như tỷ lệ...

    Theo báo cáo của các cơ quan, năm 2005 có 28 dự án lãng phí, chiếm 0,1%; năm 2006 có 8 dự án lãng phí, chiếm 0,03%; năm 2007 có 17 dự án lãng phí, chiếm 0,06% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong năm. Bộ Tài chính cho biết, qua kiểm soát thanh toán giai đoạn năm 2005 - 2007, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã phát hiện nhiều khoản thanh toán sai chế độ, tính trùng lắp hoặc thừa khối lượng, áp dụng sai định mức, đơn giá và đã từ chối thanh toán hơn 1.570 tỷ đồng (trong đó năm 2005 là 554 tỷ đồng, năm 2006 là 551 tỷ đồng, năm 2007 là 465 tỷ đồng).

    TS Nguyễn Đức Kiên, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của QH, nhận xét: ?oMột tình trạng khá phổ biến là quy hoạch về vị trí và quy mô của dự án thường lớn gấp hai, ba lần khả năng thực tế. Các dự án thường ?ohoành tráng? đến mức không đáp ứng được yêu cầu về vốn, để rồi quy hoạch ?otreo?, dự án ?otreo? từ đó mà xuất hiện?.

    Thiếu vốn, khó làm đến nơi đến chốn!

    Như một minh chứng cho nhận định của ông Kiên, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Ngọc Thuật cho biết, giai đoạn năm 2005 - 2007, vốn đầu tư giao cho bộ là 6.587 tỷ đồng, kết quả thực hiện đạt 8.002 tỷ đồng, đạt 121% kế hoạch (do vốn nước ngoài giải ngân vượt kế hoạch được giao). Tính ra, nguồn vốn được giao trong giai đoạn 2005 ?" 2007 chỉ đáp ứng được 52% dự toán của bộ.

    Bên cạnh khó khăn trong giải phóng mặt bằng, thiếu vốn là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều công trình chậm tiến độ. Báo cáo với đoàn giám sát, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp công nhận, ngân sách đang phải chịu sức ép lớn vì quy hoạch của nhiều bộ, ngành vượt quá khả năng đảm bảo vốn của ngân sách nhà nước.

    Do chưa có chế tài khống chế quyền tự chủ, tự quyết của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan trong việc phê duyệt dự án đầu tư nên vẫn tồn tại tình trạng dàn trải trong phân bổ vốn, nợ đọng tràn lan; thời gian duyệt dự án cách quá xa thời gian thi công ảnh hưởng đến tiến độ thi công và làm tăng chi phí dự toán...

    Mô hình ban quản lý dự án nhiều bất cập

    Đó là phản ánh chung từ Bộ GD-ĐT và Bộ Y tế - ông Nguyễn Văn Thuận, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH, cho biết. Sự chậm trễ của chương trình kiên cố hóa trường lớp được Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận lý giải là do ?ocán bộ quản lý dự án không đủ năng lực và cơ chế quản lý không phù hợp với điều kiện cán bộ?.

    Tương tự, theo Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Chí Liêm, tiến độ thi công và giải ngân các công trình y tế đều chậm, mà năng lực hạn chế của các ban quản lý dự án là một trong những nguyên nhân quan trọng.

    Bên cạnh những khó khăn về vốn, nhân lực, đại diện các bộ ngành cũng đã nêu khá cụ thể những ?olỗ hổng? của hệ thống chính sách pháp luật. Báo cáo của Bộ Xây dựng do Thứ trưởng Nguyễn Văn Liên trình bày nhận định, Luật Đấu thầu hiện hành quá rườm rà, chi tiết về trình tự, thủ tục dẫn đến thời gian đấu thầu kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ dự án. Một số văn bản hướng dẫn công tác đầu tư XDCB chậm được ban hành, trong đó có cả trách nhiệm của Bộ Xây dựng.

    Thứ trưởng Bộ GTVT Ngô Thịnh Đức kiến nghị xem xét, sửa đổi khá nhiều nội dung của Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng.

    Ông Nguyễn Văn Thuận, cho biết, đoàn giám sát sẽ tập trung làm rõ những bất cập nằm trong cơ chế chính sách, cụ thể như giữa các luật có liên quan đến XDCB như Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và Luật Ngân sách nhà nước đang có những vướng mắc nào, mối quan hệ giữa 3 luật đó và Luật Đất đai có gì cần tháo gỡ. Ông cũng khẳng định, các bộ ngành, địa phương cần chỉ rõ ?ođịa chỉ trách nhiệm? của những hạn chế để không chỉ điều chỉnh hệ thống chính sách mà song song với đó còn phải khắc phục cả những nhược điểm cốt tử trong công tác quản lý, điều hành.

    Theo chương trình, đoàn giám sát của UBTVQH làm việc với 8 bộ ngành (Bộ KH-ĐT, Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ GD-ĐT, Ủy ban Dân tộc, Bộ Xây dựng, Bộ GTVT, Bộ NN-PTNT) và 9 địa phương (Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phước, Cần Thơ, Tây Ninh, Tiền Giang).

    Mục đích của đợt giám sát này là đánh giá lại tính hiệu quả, mức độ phù hợp của hệ thống pháp luật về đầu tư XDCB và sử dụng vốn nhà nước trong tình hình thực tiễn. Kết quả giám sát nêu trên sẽ được báo cáo QH tại kỳ họp cuối năm, để QH có những điều chỉnh kịp thời.
  7. MartinStock

    MartinStock Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/02/2007
    Đã được thích:
    2
    EU đối mặt với khủng hoảng công nghiệp

    Những con số mà cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat) đưa ra có thể tạo ra một làn sóng bi quan về phát triển công nghiệp ở châu Âu. Sản xuất công nghiệp của châu Âu trong tháng 5 đã giảm 1,9% trong khu vực đồng euro và giảm trung bình 1,4% trong biên giới của 27 nước liên minh châu Âu (EU), trong khi mức tương ứng trong tháng 4/2008 lần lượt là 1 và 0,3%.Đối với các nước sử dụng đồng euro (eurozone), đây là mức sụt giảm cao nhất kể từ năm 1992. Theo Eurostat, so với cùng kỳ năm 2007, sản xuất công nghiệp của eurozone giảm 0,6% và EU mở rộng giảm 0,5%. Nhật báo kinh tế lớn nhất Italia "Mặt trời 24 giờ" trích dẫn nguồn Eurostat cho biết, Hà Lan và Bồ Đào Nha là 2 nước có nền công nghiệp khủng hoảng nặng nề nhất, với mức sụt giảm tương ứng 6% và 5,7%. Pháp, Đức và Tây Ban Nha giảm 2,6% trong khi Italia giảm 1,4%, mức giảm cao nhất kể từ năm 1996. Trong khi đó, chỉ có 3 nước có tỷ lệ tăng về sản xuất công nghiệp là Cộng hòa Ailen tăng 13,3%, Bungari 3,3% và Rumani 0,5%. Về từng ngành công nghiệp cụ thể, năng lượng là ngành bị khủng hoảng nhiều nhất, với sản xuất giảm 2,7% trong eurozone và 1,8% trong EU.

    Mặc dù vậy, tại Đức, nước có nền kinh tế lớn nhất châu lục, vẫn có một số dấu hiệu tích cực. Theo ông Volker Treier - người đứng đầu bộ phận nghiên cứu kinh tế của Hiệp hội các phòng thương mại Đức (DIHK), nền kinh tế Đức sẽ tăng trưởng trở lại sau khi đình đốn một chút trong quý II/08. Trong tháng 5, số người có việc làm ở Đức đã tăng 143.000, so với 5.000 trong tháng trước. Theo DIHK, nền kinh tế Đức có thể tăng trưởng 2,3% trong năm 2008, nhưng sẽ giảm xuống 1% trong năm 2009, chủ yếu là do tình trạng lạm phát gia tăng, giá nhiên liệu và lương thực tăng mạnh. Sở dĩ, nền kinh tế Đức giữ được nhịp độ, tuy có chậm hơn, là vì nước này là đối tác chính, cung cấp máy móc và thiết bị cho Trung Quốc và các nước đang trỗi dậy. Nếu người dân Mỹ giảm mua vô tuyến và các hàng hoá khác của Trung Quốc thì hậu quả dây chuyền là Trung Quốc cũng sẽ giảm nhập khẩu máy móc và thiết bị của Đức. Hiện nay, Đức đang phải đối phó với tình trạng lạm phát lên cao, gây khó khăn cho đời sống người lao động.

    Bên cạnh sự suy giảm về công nghiệp, nền kinh tế chung Châu Âu cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn kinh tế khác. Tại Ailen, tăng trưởng trong quý 1 năm nay giảm tới 1,5% so với ba tháng cuối năm 2007. Kinh tế Italia cũng trong trạng thái èo uột với mức tăng trưởng được dự báo là 0,4% cho năm nay và cả năm tới. Đáng lo ngại hơn cả là tình hình Tây Ban Nha. Kinh tế nước này có thể bị suy thoái trong năm nay do sự suy yếu của thị trưòng địa ốc. Ông Carlos Diez - kinh tế gia thuộc công ty giao dịch chứng khoán Intermoney, tại Madrid cho rằng kinh tế Tây Ban Nha sẽ đi xuống theo hướng giống như Hoa Kỳ, nhưng tốc độ suy giảm nhanh hơn nhiều.

    Tình hình tại Anh không đến nỗi tồi tệ như Tây Ban Nha cho dù thị trường địa ốc cũng ảm đạm. Tuy nhiên, mối lo ngại lạm phát đã làm tiêu tan khả năng Ngân hàng Trung ương giảm lãi suất chỉ đạo.

    Riêng tại Pháp, hôm qua, bộ trưởng Kinh tế, bà Christine Lagarde dự báo là tỷ lệ tăng trưởng trong năm nay sẽ đạt mức 1,7%. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưỏng đang trên đà giảm, 0,5% trong quý 1 và 0,2% trong quý 2 vừa qua, có nhiều khả năng tỷ lệ tăng trưởng của Pháp trong năm 2008 sẽ chỉ là 1,3%.

    Nếu như hầu hết các nhà quan sát đều dự báo là châu Âu sẽ hứng chịu những chao đảo của thị trường tài chính thế giới và các khó khăn của nền kinh tế Mỹ, thì sự suy giảm nhanh chóng của các nền kinh tế trên lục địa này đã gây ra nhiều ngạc nhiên.
  8. MartinStock

    MartinStock Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/02/2007
    Đã được thích:
    2
    Hiệu ứng domino từ Mỹ

    (ĐTCK-oline) Các NĐT đang đối mặt với bộ ba mối đe doạ (ngân hàng, lạm phát và kinh tế tăng trưởng chậm), nay lại phải lên dây cót đối phó với chuỗi hiệu ứng domino từ Mỹ. TTCK bất lực chứng kiến chuỗi phiên giao dịch ảm đạm, khi nhà đầu tư ngày càng bi quan về triển vọng kinh tế toàn cầu.
    Hiệu ứng thấy rõ


    Nhiều TTCK châu Á sụt giảm mạnh, khi NĐT tiếp tục mất niềm tin vào hệ thống tài chính Mỹ, dù nền kinh tế hàng đầu thế giới này đã chính thức công bố biện pháp hỗ trợ 2 tập đoàn khổng lồ Fannie Mae và Freddie Mac. "Nền kinh tế khổng lồ này đang tác động đến viễn cảnh của bộ ba khủng hoảng tín dụng, lạm phát cao và tăng trưởng chậm trên toàn châu Á", Sean Darby, nhà chiến lược hàng đầu về châu Á của Nomura tại Hồng Kông nói.

    Chỉ số MSCI khu vực châu Á - Thái Bình Dương (trừ Nhật Bản) giảm xuống mức thấp nhất trong 2 năm qua, mặc dù những tuyên bố trấn an của Tổng thống Bush và Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã giúp đồng USD đỡ bất ổn.

    Chỉ số Nikkei của Nhật Bản giảm xuống mức thấp nhất trong ba tháng rưỡi qua. Hãng Toyota đã cắt giảm 3,6% sản lượng toàn cầu trong năm 2008, phần lớn do ảnh hưởng của sự xuống dốc mạnh của thị trường Mỹ. Đây lại là một đòn nữa giáng vào TTCK Nhật Bản khi trước đó, Ngân hàng Dữ liệu Teikoku (TDK) của nước này cho biết, số DN phá sản ở Nhật Bản đã tăng mạnh trong nửa đầu năm 2008. Các chuyên gia của TDK nhận định, số DN phá sản tại Nhật Bản sẽ còn gia tăng với nhịp độ nhanh hơn trong thời gian tới, đặc biệt là với các DN vừa và nhỏ.



    "Trò chơi" chỉ mới bắt đầu

    Tại Nhật Bản, bầu không khí căng thẳng xuất hiện trong giới kinh doanh khi một tờ báo loan tin rằng, trong khoản nợ của Fannie Mae và Freddie Mac có tới 4,7 nghìn tỷ yên (tương đương 44 tỷ USD) thuộc về 3 ngân hàng hàng đầu Nhật Bản.

    Dư luận Mỹ còn cho rằng, trong bối cảnh giá nhà đất liên tục sụt giảm và nhiều khoản tiền cho vay mua nhà thế chấp không thu hồi được có thể khiến hàng loạt ngân hàng ở Mỹ bị phá sản.

    Cuộc khủng hoảng lần này, tuy không nghiêm trọng như cuộc khủng hoảng hồi cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nhưng với những diễn biến nhanh chóng trên thị trường tiền tệ vừa qua, nhiều khả năng khoảng 150 ngân hàng trong tổng số 7.500 ngân hàng đang hoạt động trên đất Mỹ có thể bị phá sản trong 12 đến 18 tháng tới...

    "Nếu điều này xảy ra, các quân bài domino không chỉ đơn giản là quân bài domino nữa", Sean Darby cảnh báo. Kể từ đầu năm đến nay, đã có 6 công ty cho vay thế chấp của Mỹ bị sụp đổ và cứ mỗi lần như thế, TTCK châu Á lại phải gồng mình trước một đợt chấn động mới.



    Những dấu hiệu thêm dầu vào lửa

    Có nhiều dấu hiệu cho thấy, kinh tế thế giới đang bấp bênh khi lạm phát tăng mạnh và khủng hoảng tài chính đe dọa tăng trưởng toàn cầu.

    Châu Á, châu Âu và châu Mỹ đều đối mặt với tình trạng lạm phát gia tăng và tăng trưởng đình đốn, trong khi giá dầu tăng cao kỷ lục và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trong năm qua đang tàn phá nhiều quốc gia.

    Trên thị trường tài chính, giá chứng khoán ở Mỹ và châu Âu đều hạ; giá dầu tăng bất thường và giá vàng lên vững ở gần mức cao nhất trong 4 tháng qua; tăng trưởng xuất khẩu chậm chạp của Trung Quốc và ngành công nghiệp sa sút của châu Âu là những bằng chứng thêm cho thấy, tăng trưởng toàn cầu đang bấp bênh.

    Ngay ở Nhật Bản, nước phải chống lại thiểu phát trong nhiều năm, số liệu cho thấy, giá bán buôn trong tháng trước đã tăng lên mức cao nhất trong 27 năm qua, khiến chi phí đầu vào của DN tăng và DN lại bắt người tiêu dùng phải hứng chịu.
  9. luotsong101

    luotsong101 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    25/06/2008
    Đã được thích:
    0
    Nhiệt liệt hoan nghênh cut & paste
  10. tonitoni

    tonitoni Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    22/12/2006
    Đã được thích:
    0
    Hôm qua có chú nào còn nói trăng mật cơ mà ........giờ thì vỡ mật rồi

Chia sẻ trang này