Cập nhật ngành Ngân hàng

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi big_hand, 04/07/2025.

848 người đang online, trong đó có 339 thành viên. 22:42 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1524 lượt đọc và 3 bài trả lời
  1. big_hand

    big_hand Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/12/2014
    Đã được thích:
    32.291
    I. Tình hình nợ xấu ngành Ngân hàng trong 1Q25
    1. Nợ xấu nội bảng quay đầu tăng mạnh:
      • Tăng hơn 37 nghìn tỷ đồng, tương đương +16% QoQ, sau khi đã giảm 25 nghìn tỷ đồng trong 4Q24.

      • Quy mô nợ xấu nội bảng cuối 1Q25 đạt 265 nghìn tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ xấu 2,16% (so với 1,92% cuối 2024).
    2. Nợ xấu hình thành ròng (gross NPL formation):
      • Đạt 64,5 nghìn tỷ đồng, tăng gần 6 lần so với 11 nghìn tỷ đồng quý trước.

      • Trong đó:
        • Nhóm ngân hàng (không gồm công ty tài chính tiêu dùng): 57,5 nghìn tỷ đồng.

        • Tập trung ở 4 ngân hàng: BID, CTG, VPB, MBB (chiếm 69%).
    3. Nợ nhóm 2 tăng nhẹ:
      • Tăng 7 nghìn tỷ đồng, chấm dứt chuỗi 3 quý giảm liên tiếp.

      • Nếu phần lớn nợ xấu 1Q25 phát sinh từ nợ nhóm 2 thì quy mô nợ nhóm 2 ước tính tăng hơn 70 nghìn tỷ đồng (~0,6% nợ nhóm 1 cuối 2024).
    II. Phân hóa giữa nhóm ngân hàng
    1. Ngân hàng quốc doanh (BID, CTG):
      • Nợ xấu 1Q25 chủ yếu từ các khoản cơ cấu lại trước đó, liên quan đến doanh nghiệp vật liệu xây dựng.

      • Các khoản này vượt thời gian thử thách và sẽ quay lại nhóm nợ đủ tiêu chuẩn trong 2Q25.
    2. NHTMCP (VPB, MBB...):
      • Nợ xấu mới chủ yếu từ khách hàng cá nhân vay BĐS tại các dự án vướng pháp lý, chậm bàn giao.

      • Rủi ro vẫn cao trong 2Q25 do chưa giải quyết xong vấn đề pháp lý.
    III. Lãi, phí dự thu tăng mạnh trở lại
    1. Tăng 20% QoQ, lên hơn 163 nghìn tỷ đồng, vượt tốc độ tăng tài sản sinh lãi (chỉ 2,7%).

    2. Nguyên nhân:
      • Dồn tích lãi do kéo dài thời gian trả nợ.

      • Thu hồi lãi phải thu từ khoản nợ quá hạn nội bảng.

      • Yếu tố mùa vụ (quý đầu năm thường tăng mạnh).
    3. Tỷ lệ lãi dự thu/TTSL vẫn ở mức thấp 1,0%, so với thời Covid (1,3%) và 2015–2019 (1,8%).
    IV. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) giảm đáng kể
    1. Toàn ngành: Giảm từ 110% xuống 92%.

    2. Ngân hàng nhà nước: LLR vẫn cao, ở 132% (giảm từ 167%).

    3. NHTMCP:
      • LLR giảm xuống 56% (4Q24: 62%).

      • Áp lực trích lập dự phòng sẽ tăng mạnh do:
        • Tỷ trọng nợ nhóm 2–4 cao nhưng chưa được trích lập đủ.

        • Rủi ro phát sinh từ nợ nhóm 2.
    V. Rủi ro và triển vọng sắp tới
    1. Nợ xấu tiềm ẩn còn cao (~193 nghìn tỷ đồng):
      • Bao gồm: nợ VAMC, nợ cơ cấu theo Thông tư 02, nợ có rủi ro cao, dư nợ KH chịu tác động chính sách đối ứng.
    2. Dự kiến nợ xấu vẫn tăng trong 2Q25, nhưng:
      • Ngân hàng quốc doanh có thể được hoàn nhập dự phòng.

      • NHTMCP vẫn chịu rủi ro từ cho vay BĐS cá nhân.
    --- Gộp bài viết, 04/07/2025, Bài cũ: 04/07/2025 ---
    Cổ đông bank đâu hết rồi.
    HBAT, adam81tuan_vekavn thích bài này.
  2. HBAT

    HBAT Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    07/07/2018
    Đã được thích:
    3.167
    BID hay CTG cho 10 năm tới hả Bạn.
  3. tuan_vekavn

    tuan_vekavn Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/11/2011
    Đã được thích:
    4.408
    Cổ đông bank chắc kê cao gối ngủ, chẳng cần quan tâm Vnindex. Đầu toi dài hạn, tuần mới xem bảng 1 lần :D
    f365 thích bài này.
  4. Kimnguu2001

    Kimnguu2001 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    17/04/2010
    Đã được thích:
    591
    Chốt deal khởi động sóng bank.
    Sóng bank rất dài, rất to và rất lâu (chậm) :D

Chia sẻ trang này