Chính phủ và Havard, bên nào đáng tin hơn?

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by dbp, Jul 7, 2008.

911 người đang online, trong đó có 364 thành viên. 07:19 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. dbp

    dbp Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Sep 25, 2003
    Likes Received:
    0
    Chính phủ và Havard, bên nào đáng tin hơn?

    Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Nói đúng sự thật mới có lợi

    Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế cao cấp, trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Người Lao Động về những vấn đề nóng của nền kinh tế hiện nay

    . Phóng viên: Nhóm các học giả và chuyên gia Đại học Harvard vừa đưa ra bản khuyến nghị chính sách với những đánh giá, phân tích khá nóng về tình hình kinh tế VN. Trong đó có một số nhận định dễ gây sốc. Ông có nhận xét gì về bản phân tích này?

    - Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Theo tôi, đó là bản đánh giá khá trung thực và khoa học về tình hình kinh tế vĩ mô của ta hiện nay. Vì lượng thông tin chính thức để có thể đánh giá thường không đầy đủ, thiếu chính xác nên họ phải phân tích rất nhiều, có những so sánh quốc tế và khảo sát thực tế. Chẳng hạn, để đánh giá về mức tăng trưởng xuất khẩu thực của VN 6 tháng đầu năm không cao, tăng kim ngạch chủ yếu do tăng giá, họ đã đến các cảng TPHCM, Thị Vải, Hải Phòng, lấy số liệu từ hải quan, thống kê số container xuất cảng, chứ không phụ thuộc vào các báo cáo của cơ quan quản lý.

    . Nhóm chuyên gia Harvard cho rằng Chính phủ VN đã bày tỏ quyết tâm kiềm chế lạm phát và khôi phục sự ổn định kinh tế vĩ mô. Nhưng những hành động hướng tới mục tiêu này nhìn chung vẫn chưa có hiệu lực, trong khi thông tin của ta đang khá lạc quan về vấn đề này?

    - Thông tin của ta hiện nay đang có độ vênh. Chẳng hạn, giữa báo cáo của Bộ Tài chính đưa ra về các tập đoàn và kiểm toán là có mâu thuẫn. Một bên kiểm toán thì nói rằng ?ođụng đâu sai đó?, bên kia thì nói ổn cả; phần lớn các tập đoàn, tổng công ty làm ăn có lãi. Đánh giá về thực trạng cho vay ngân hàng cũng vậy. Phía quản lý thì nói tỉ lệ tín dụng cho vay bất động sản và chứng khoán còn thấp và trong vòng kiểm soát; nhưng VN-Index tụt từ 1.200 điểm xuống trên dưới 400 điểm, ngân hàng nào cho vay chứng khoán thì chắc chắn là có vấn đề! Tuyên bố đã kiềm chế được lạm phát cũng dễ gây chủ quan. Vì chỉ tốc độ tăng giá tháng 6 giảm chút ít, nhưng các yếu tố lạm phát vẫn còn đó. Theo đánh giá của tôi, những ngày tháng khó khăn vẫn đang ở trước mắt. Chúng ta cần nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật mới có lợi; để có giải pháp đối phó kịp thời.

    . Theo ông, trong những bất ổn của nền kinh tế vĩ mô của ta hiện nay, bất ổn nào là lớn nhất, lĩnh vực nào cần báo động?

    - Theo tôi, cần đánh giá đúng tình hình cho vay bất động sản, chứng khoán của các ngân hàng. Tình trạng vay nợ của các tập đoàn, tổng công ty: vay bao nhiêu trong nước, ngoài nước; khả năng trả nợ, thanh toán quốc tế để có cơ chế giám sát chặt chẽ. Bởi sự bất ổn của khu vực này sẽ dẫn đến đổ vỡ và bất ổn của cả nền kinh tế.

    . Cụ thể cơ chế giám sát đó là gì, thưa ông?

    - Đó là thực hiện cải cách về thể chế, tái cơ cấu doanh nghiệp; đặc biệt là ngân hàng và các tập đoàn. Cho đến nay, thông tin về các tập đoàn, ngân hàng còn mâu thuẫn, cần có bức tranh trung thực hoạt động của các đối tượng này. Như Trung Quốc đã định ra một tập hợp những tiêu chí về tỉ suất lợi nhuận, năng suất lao động, xuất khẩu, bảo vệ môi trường, khả năng cạnh tranh để quản lý tập đoàn. Nếu không thực hiện được, tổng giám đốc phải từ chức!

    . Đánh giá của ông về khuyến nghị 10 điểm của chuyên gia Harvard?

    - Khuyến nghị 10 điểm của chuyên gia Harvard có sự trùng hướng với 8 giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế của Chính phủ VN. Nhưng những nội dung của khuyến nghị này đã vượt qua những giải pháp tình thế, bao gồm cả nội dung cải cách dài hạn hơn, cơ bản hơn, đi sâu về thể chế, tổ chức một cách hệ thống và toàn diện.

    (VN cần chuẩn bị kịch bản cho giá xăng dầu khi tăng lên 150 USD/thùng hoặc cao hơn. Hiện nền kinh tế của ta và thế giới đang chỉ chịu được giá dầu ở ngưỡng 80 USD/thùng. Nếu vượt ngưỡng này, các ngành gia công xuất khẩu của VN như dệt may, giày da sẽ không còn lợi nhuận do phí vận chuyển tăng cao. Vì vậy cần tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm tiêu dùng, tái cấu trúc sản phẩm).
  2. hobaosutucop

    hobaosutucop Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Jun 15, 2008
    Likes Received:
    0
    mọi người cùng nghiên cứu
  3. zzzzxx

    zzzzxx Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Jun 26, 2008
    Likes Received:
    0
    Bào cào cù?a Harvard thực hiẶn theo cp 'f̣t hà?ng tư vẮn chình sàch, sẮ liẶu do VN cung cẮp, thẮ thì? cò?n gì? phà?i nòi 'Ắn tình trung thực. Thà? như vẶy sèf tẮt cho trung dà?i hàn, cò?n hơn giẮu giẮm 'Ắn mẶt lùc nà?o 'ò sùp 'Ă? khĂng hay.

    http://www.viet-studies.info/kinhte/VN_Kennedy_BaoCao_2.pdf
  4. hobaosutucop

    hobaosutucop Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Jun 15, 2008
    Likes Received:
    0
    http://www.viet-studies.info/kinhte/VN_Kennedy_BaoCao_2.pdf
  5. goodluck07

    goodluck07 Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Jun 24, 2007
    Likes Received:
    0
    Đương nhiên là Havard đáng tin hơn chứ...
    Nhưng cũng chẳng quan trọng là phải tin ai mà vấn đề là ai sẽ dùng báo cáo này ?
    CP thì vẫn đa quan điểm, kô có vua trong điều hành KT thì báo cáo giời Vịt ngan vẫn chỉ là Vịt ngan mà thôi.
  6. nhathuoconline

    nhathuoconline Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 30, 2006
    Likes Received:
    0
    Câu này đâu cần hỏi?
  7. I_hate_you8x

    I_hate_you8x Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Mar 18, 2006
    Likes Received:
    1
    ĐÍu tin được thằng nào hết. Havard nó cũng kiếm xèng bỏ mẹ, viết theo yêu cầu. Chính phủ thì muốn giữ ghế cho LD nên cũng bơm thổi. Tốt nhất là tự đwua ra nhận định của chính mình qua thông tin mình tự thu thập. Thông tin tốt thì sống, ngược lại thì chết.
    Thêm nữa, cái lão LĐD này thì làm đi làm lại luận án, trình thì còi, to mồm lắm. Báo chí nó viết thì đừng ngu mà tin

    Được i_hate_you8x sửa chữa / chuyển vào 13:13 ngày 07/07/2008
  8. sieutoc3x

    sieutoc3x Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Oct 8, 2007
    Likes Received:
    1,298
    Tôi bắt Harvard..
  9. tinck24h

    tinck24h Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Jan 8, 2008
    Likes Received:
    1
    em tin CP, CP là của dân do dân và vi dân mà
  10. lehoala

    lehoala Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Mar 10, 2006
    Likes Received:
    7,695
    ?oBáo cáo Harvard? có chủ quan?



    Nhóm nghiên cứu của Đại học Harvard có những đánh giá thẳng thắn, nhưng một số kết luận dường như khá chủ quan.

    Theo ?ođơn đặt hàng? của Chính phủ Việt Nam, bản báo cáo thứ hai của nhóm nghiên cứu đã hoàn thành, dưới tiêu đề ?oVượt qua khủng hoảng và tiếp tục đẩy mạnh cải cách?.

    Bản báo cáo này có nhiều đánh giá, kết luận quan trọng, liên quan đến những vấn đề lớn của nền kinh tế Việt Nam; trong đó, chủ yếu là những bất cập và lo ngại. Nhưng, còn có một số điểm chưa thuyết phục.

    Bài viết này thử xét lại một số vấn đề xoay quanh câu chuyện lập ngân hàng mới tại Việt Nam mà bản báo cáo trên đưa ra.

    1. Theo bản báo cáo, ?ohệ thống tài chính của Việt Nam rất dễ bị tổn thương, trong đó ngân hàng hiện là khu vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất?. Nhận định này được lý giải từ 3 nguồn gốc, nhưng sự lý giải không được ?ođặc biệt nhấn mạnh? như ý của các tác giả.

    Nguồn gốc thứ nhất và cũng là khẳng định thứ nhất: ?oViệt Nam đã quá dễ dãi đối việc mở ngân hàng mới?. Một khẳng định quan trọng, nhưng không có bất cứ một thông tin phân tích, lý giải, chứng minh ?odễ dãi? như thế nào, cũng có thể vì khuôn khổ hạn chế của một bản báo cáo.

    Thay vì lý giải, chứng minh, các tác giả liên hệ sự dễ dãi đó với cuộc khủng hoảng và đổ vỡ ngân hàng tại Indonesia những năm 1980 như một sự cảnh báo; trong đó, phần chú thích lại có thêm những so sánh không đối xứng.

    Dễ dãi hay không, cần có sự phản biện của Ngân hàng Nhà nước, người trong cuộc. Còn trên thực tế, cả thập kỷ qua, Việt Nam mới cấp 2 giấy phép lập ngân hàng mới. Đó cũng là kết quả của hàng chục bộ hồ sơ xếp hàng trên bàn Ngân hàng Nhà nước. Trong số đó, có cả những trường hợp gửi công văn kiến nghị xem xét lên Thủ tướng, nhưng hiện vẫn chưa được đáp ứng?

    Kinh doanh ngân hàng, pháp luật Việt Nam không cấm. Dễ dãi hay thận trọng thể hiện ở những rào cản trong điều kiện cấp phép. Và khi quy chế thành lập ngân hàng mới ban hành (tháng 6/2007) lập tức đã có sự thanh lọc những nhu cầu từ địa phương, những nhu cầu vốn mỏng?

    Theo quy trình, hồ sơ đầy đủ thường mất 3 tháng để xem xét, 6 tháng để quyết định chính thức. Và nay, thời điểm tròn một năm quy chế mới có hiệu lực mà hơn 20 bộ hồ sơ đó mới chỉ có 2 giấy phép chính thức. Đó là sự dễ dãi hay thận trọng? Ở đây, xin nhắc lại đó là hoạt động kinh doanh pháp luật Việt Nam không cấm.

    2. Trở lại với so sánh không đối xứng của các tác giả trong chú thích liên hệ với cuộc khủng hoảng và đổ vỡ hệ thống ngân hàng tại Indonesia những năm 1980.

    Theo chú thích trong bản báo cáo, tăng trưởng tín dụng trung bình của các ngân hàng tư nhân nhỏ tại Indonesia là trên 40%/năm trong giai đoạn 1988 ?" 1996, bằng khoảng một nửa tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ ở Việt Nam trong năm 2007.

    So sánh trên có vấn đề. Tại sao lại so sánh bình quân của cả một giai đoạn với một năm? Nếu tính bình quân tăng trưởng tín dụng 5 - 6 năm gần nhất của các ngân hàng nhỏ Việt Nam để so sánh đối xứng hơn thì chắc chắn sẽ có một tỷ lệ thấp hơn 40%/năm, thay vì gián tiếp so sánh với khoảng 80% trong năm 2007.

    So sánh đó cũng quá khập khiễng khi năm 2007 là một năm đặc biệt của các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ ở Việt Nam, năm của nhiều ngân hàng có sự chuyển đổi từ ngân hàng nông thôn lên đô thị. Tính chất đặc biệt này ảnh hưởng lớn tới tăng trưởng tín dụng, khi lên đô thị, họ bước vào một ?osân chơi? rộng lớn hơn, cơ hội gia tăng khách hàng, thị phần lớn hơn.

    Trong so sánh đó, các tác giả gián tiếp cảnh báo đến khả năng đổ vỡ tương tự tại Việt Nam khi tăng trưởng tín dụng quá nóng. Nhưng trong năm 2008 này, tỷ lệ liên quan đã được Ngân hàng Nhà nước khẳng định chốt ở ?otrần? 30%; và có thể còn khống chế trong những năm tiếp theo.

    Còn nếu xét cả hệ thống, ngoài sự đột biến của năm 2004 và 2007, tăng trưởng tín dụng những năm gần đây ở mức tương đối: năm 2000 là 38,1%, năm 2001 là 21,4%, năm 2002 là 22,2%, năm 2003 là 28,4%, năm 2004 là 41,5%, năm 2005 chỉ là 19,2%, năm 2006 là 21,4%, năm 2007 là 51,39% và năm 2008 chốt tối đa 30%.

    3. Một nguồn gốc khiến hệ thống tài chính của Việt Nam rất dễ tổn thương, theo bản báo cáo, là ?oViệt Nam hiện đang lặp lại sai lầm của nhiều nước đang phát triển trong việc cho phép các tổ chức phi ngân hàng (ví dụ như các tập đoàn) thành lập ngân hàng?.

    Khác với nguồn gốc nói trên, ở nguồn gốc và cũng là khẳng định này có diễn giải. Đó là hệ lụy từ ?osự biến dạng nghiêm trọng trong việc phân bổ tín dụng khi các tập đoàn sử dụng ngân hàng của mình như những máy rút tiền tự động để cho các công ty thành viên vay, bất kể rủi ro các khoản vay này là như thế nào?.

    Không biết khi đưa ra những nhận định trên, các tác giả đã nghiên cứu quy chế cho vay của các ngân hàng thương mại hiện nay hay chưa. Và việc cho rằng các tập đoàn rút tiền ngân hàng cho vay các công ty thành viên ?obất kể rủi ro các khoản vay này là như thế nào? có chủ quan không, có phi hoạt động ngân hàng không?

    Theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, hoạt động cho vay ưu ái ?ongười nhà? bị loại trừ hoặc có những hạn chế nhất định; bởi chính lịch sử ngân hàng Việt Nam đã từng vấp phải những trường hợp đổ vỡ đó, hậu quả vẫn còn dư âm đến ngày nay.

    Cụ thể, Mục 1, Điều 19 quy chế trên quy định các tổ chức tín dụng không được cho vay đối với khách hàng là thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) của mình; các cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết định cho vay; và ngay cả bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên nói trên?

    Còn theo Điều 20 của Quy chế, tổ chức tín dụng không được ?oưu ái? cho vay không có bảo đảm, cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với các cổ đông lớn của mình; các doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.

    Ngoài ra, chính các ngân hàng phải tuân thủ yêu cầu thẩm định cho vay, hạn mức, thời hạn cho vay? theo quy định đối với các khách hàng nói chung (ngoại trừ các trường hợp đặc biệt được sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước).

    Tất nhiên, trong khuôn khổ của một bản báo cáo, nhóm nghiên cứu của Đại học Harvard khó lòng lý giải và phân tích chi tiết các trường hợp và khẳng định của mình. Nhưng, những vấn đề nêu trên đều có tầm quan trọng và ảnh hưởng nhất định đối với dư luận, nhà đầu tư, khi mà thời điểm này giới hạn thời gian hạn chế phổ biến của bản báo cáo đã kết thúc.

Share This Page