Chủ đề 27/8-10/9: Thị trường theo định luật vạn vật hấp dẫn

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi lmwayrheart, 27/08/2010.

973 người đang online, trong đó có 389 thành viên. 13:45 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 841 lượt đọc và 13 bài trả lời
  1. lmwayrheart

    lmwayrheart Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    21/04/2010
    Đã được thích:
    0
    rơi chầm chậm cho các ngày cuối tháng 8 và.....
    rơi tự do với gia tốc ~10 hầu hết các ngày tháng 9

    hi vọng em sai
    >:)>:)>:)


    Link dự đoán tuần vừa rồi: http://f319.com/home/1314307
  2. IgNobel

    IgNobel Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    26/08/2010
    Đã được thích:
    2
    Không!

    Rơi chậm trong tháng 08. OK

    Nhưng tháng 9 mỗi ngày có ~10 với màu xanh, không phải màu đỏ như bác nghĩ.
  3. lmwayrheart

    lmwayrheart Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    21/04/2010
    Đã được thích:
    0
    Cũng hi vọng thế, nhưng e là ngày càng bi thảm và đang dự nửa đầu tháng 9:-w
  4. vinaplast9

    vinaplast9 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    27/08/2010
    Đã được thích:
    0
    không mua bán gì, đóng tài khoản đi Vũng Tàu chơi là thượng sách
  5. heyboy86

    heyboy86 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    23/08/2010
    Đã được thích:
    0
    Mấy tháng mùa mưa thì đừng đầu tư. Có làm ăn dc gì đâu. Tiền theo nước chảy hết đi thôi :)):)):)):))
  6. falcon

    falcon Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    23/08/2010
    Đã được thích:
    0
  7. lmwayrheart

    lmwayrheart Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    21/04/2010
    Đã được thích:
    0
    bác chuẩn

    >:)>:)>:) no comment
  8. lmwayrheart

    lmwayrheart Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    21/04/2010
    Đã được thích:
    0
    Được mất từ FDI

    Hơn 20 năm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), kinh tế nước ta tươi tắn hơn. Dễ thấy các nhà máy, cao ốc, khách sạn, trung tâm thương mại với hàng chữ Tây dát bạc, thếp vàng thi nhau mọc lên thay cho nếp nhà cũ kỹ, rêu phong.​
    Sản phẩm của FDI với nhiều mẫu mã và chất lượng cao, phần đưa về chính quốc để hoàn chỉnh, phần xuất khẩu, phần bổ sung vào quỹ hàng hoá xã hội của ta để bớt phần nhập khẩu trực tiếp. Với sự đóng góp khoảng 16-18% GDP trong những năm gần đây, FDI đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo đường hướng mới, được kỳ vọng là động lực quan trọng cho công cuộc đổi mới. ​
    Đây cũng là một trụ cột không thể thiếu của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, góp phần làm thay đổi phương thức sản xuất, phân phối, tiêu dùng và lối sống của người Việt Nam theo hướng tiếp cận với văn minh, hiện đại. Những người Việt làm nhân viên kỹ thuật và quản lý cho FDI được tiếp cận với công nghệ cao, phương thức điều hành tân tiến. Đối với một số người đó là bến đỗ mới sau bao năm cống hiến mà chẳng thể sống bằng lương.

    Song vì đây là sự tiếp máu vào cơ thể có nền tảng thể lực là nền lạc hậu, kiệt quệ vì liên miên chiến tranh, cộng với sự yếu kém về quản lý, nên đến nay mới vỡ ra nhiều vấn đề bâng khuâng.

    Hứa nhiều làm ít

    Các nhà FDI khi mới vào thường hứa hẹn với các dự án hấp dẫn song có tường tận mới thấy giật mình. Những công bố về thu hút FDI chỉ là số đăng ký, còn thực hiện thế nào xin đợi đấy. Từ 1988 đến 2009, tổng số vốn FDI thực hiện được 66,9 tỷ USD, bằng 34,7% tổng số vốn đăng ký. Năm 2008 mức vốn đăng ký kỷ lục là 71,7 tỷ USD, gấp 3 lần năm 2007, cao nhất từ trước đến nay, nhưng chỉ thực hiện được 11,5 tỷ USD bằng 16% số vốn đăng ký. Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ta lại kỳ vọng có làn sóng mới thu hút FDI. Ba năm qua, quy mô dự án tăng, nhưng tỷ lệ vốn điều lệ so với số vốn đăng ký lại giảm, giai đoạn 1988 - 2005 là 45%, gần đây chỉ còn 30%. ​

    Ăn sổi

    FDI vào công nghiệp và xây dựng đứng đầu. Kế theo là dịch vụ và sau chót là nông nghiệp. Đầu tư vào công nghiệp, các nhà FDI lại ngại công nghệ phụ trợ. Họ “bao sân” nguyên vật liệu, phụ tùng, chi tiết máy móc nhập vào lắp ráp, hoàn thiện, buộc chặt ta vào guồng máy kinh tế của họ, “ẵm gọn” chuỗi lợi nhuận tạo ra từ quá trình đó. ​
    Nở rộ khách sạn nhiều sao, nhà hàng sang trọng, khu nghỉ dưỡng cao cấp (resort), sân golf nhiều lỗ. Có khu nghỉ dưỡng chiếm luôn một khúc bãi biển. ​
    Thất vọng chuyển giao công nghệ​
    Mặt bằng công nghệ của các FDI khi mang vào cao hơn mặt bằng của ta, song ngần ấy chưa đủ để vực nền công nghiệp nhằm làm rường cột cho mộng ước “đi tắt, đón đầu”. Một số nhà đầu tư đã đưa vào máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu, thải loại. ​
    Gia công dệt may, da giày, phần mềm; lắp ráp điện tử không thể là tiêu chí của quốc gia “cơ bản là nước công nghiệp”.​

    Bấp bênh xuất khẩu

    FDI (không kể phần dầu thô) đóng góp trên dưới 20% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Nếu loại trừ phần nguyên liệu ngoại nhập rất cao trong cấu thành trị giá hàng dệt may, da giày, điện tử, phần mềm..., kim ngạch thực thụ của nó sẽ rất thấp, kéo theo tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta vốn đã đì đẹt còn lùn hơn. Họ lo cả đầu ra, nên xuất khẩu nước ta đã, đang và sẽ phụ thuộc vào bên ngoài. Được vài mặt hàng mới trong màn chào hỏi, từ đó đến nay danh mục mặt hàng xuất khẩu của khối FDI vẫn y nguyên.​
    Nền xuất khẩu của Việt Nam - dù đã được tiếp sức của FDI, so sánh với chính mình thấy rạng rỡ, nhưng chỉ cần liếc sang các nước trong khu vực thì thấy vẫn dẫm chân tại chỗ, với những đặc trưng: Gia công - manh mún - hàng thô; trung gian - giá cả - mấp mô thị trường.​

    Khấp khểnh vùng miền

    Là những nhà kinh doanh lọc lõi, họ mang vốn liếng sang không phải làm từ thiện mà để kiếm lời càng sớm, càng nhiều càng tốt. Họ chỉ chọn những thành phố, những địa phương giáp biển, có cảng hàng không, có trục giao thông huyết mạch, miền xuôi, vùng có mặt bằng lý tưởng..., đỡ phải đầu tư ban đầu. ​
    Chỉ có 21/63 địa phương có vốn đăng ký của FDI từ 1 tỷ USD trở lên, trong đó 6 địa bàn: TP HCM, Hà Nội, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Ninh Thuận đã chiếm 67% tổng số vốn đăng ký FDI trong cả nước. Các tỉnh mạn ngược đất rộng, người thưa, địa chất công trình tốt, nhưng ngổn ngang khó khăn, nên không được FDI ngó ngàng. Hố ngăn cách được đào rộng, moi sâu. ​

    Lấn sân phân phối

    Các hãng phân phối quốc tế từ lâu đã nhìn thấy Việt Nam là thị trường bán lẻ hấp dẫn vừa vì dân số lớn mà hệ thống phân phối, mạng lưới bán lẻ của Việt Nam còn non trẻ. Từ 1/1/2009 - theo lộ trình cam kết quốc tế ta phải mở cửa cho các hãng phân phối 100% vốn nước ngoài - họ xung trận với vốn liếng dồi dào, hàng hoá đầy ứ, trình độ quản lý cao, tầm nhìn chiến lược, kỹ năng tiếp thị sành sỏi, quảng cáo, khuyến mại mê hồn, phương thức văn minh. Trong khi đó, ta có 9.000 chợ các loại, hơn 70 trung tâm mua sắm, 400 siêu thị lớn nhỏ, kể ra đã là lực lượng hùng hậu so với 20 năm trước đây. Đông mà không mạnh, chẳng hợp sức để cải thiện tình hình ngoại trừ việc ngoắc tay tăng giá. ​
    Hơn thế nữa lực lượng “cổ động viên sân nhà” với tâm lý xính dùng hàng ngoại, tiền nào của ấy, không lăn tăn về mọi mặt .., sớm muộn gì cũng quay lại cổ suý cho “đội khách”. Trận đấu mới bắt đầu, song hồi kết sẽ tới với kết quả được báo trước, không cần đến chú bạch tuộc tiên tri. ​

    Căng thẳng quan hệ chủ thợ

    Từng mong muốn FDI sẽ thu hút nhiều lao động. Điều đó có nhưng không bõ bèn. Số lao động làm việc cho FDI tại thời điểm 1/7/2000 là 358 nghìn chiếm tỷ lệ 1,0% tổng số lao động trên của toàn quốc. Các cặp số liệu tương ứng của 2005 là 1,112 triệu - 2,6%. Năm 2008 là 1,694 triệu - 3,7%. Năm 2009 là 1,611 triệu - 3,4%.​
    Nhưng một số doanh nghiệp bộc lộ nhiều nhược điểm như trả lương chậm - chậm tăng lương - bớt xén tiêu chuẩn bảo hiểm, an toàn lao động - sa thải - cúp phạt... ​
    Các nhà FDI xuất xứ từ nền công nghiệp phát triển nên họ thừa hiểu việc xây dựng cơ sở sản xuất bao giờ cũng gắn liền với bảo vệ môi trường. Song với lý do “tế nhị” quy chuẩn tối thiểu này khi đầu tư vào Việt Nam đã không bị bắt buộc, mà Vedan chỉ là ví dụ điển hình. Kiện, họ bồi thường, nhưng chất độc hoà vào dòng nước, thâm sâu lòng đất, bao người dân được thụ hưởng hàng chục năm nay, chỉ có bệnh viện K, nghĩa trang, đài hoá thân hoàn vũ mới giải quyết triệt để. ​

    Cơ chế bất cập

    Kể từ khi ban hành lần đầu tiên vào năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi tới 4 lần vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000. Đến năm 2005, với việc Ban hành luật đầu tư chung đã sáp nhập Luật đầu tư nước ngoài với Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Qua 5 năm thi hành Luật mới - được xem là đánh dấu phát triển đặc biệt của hệ thống pháp luật của Việt Nam - song đã sớm bộc lộ nhiều khiếm khuyết: mục đích không rõ rằng, nhiều khái niệm mù mờ, không ít quy định trùng lặp, mâu thuẫn với chuyên ngành khác.​
    Vì nóng lòng tăng trưởng GDP, muốn có thứ hạng cao về chỉ số năng lực cạnh tranh, muốn có số thu ngân sách vượt trội, nên khi được phân cấp “làm việc” với các nhà FDI, cấp dưới đều háo hức trải thảm đỏ, đua nhau săn đón , đãi đằng hậu hĩ, chiều chuộng, chăm sóc hết lòng, không dám ràng buộc, cũng chẳng tinh tường để ràng buộc, nên đã nhanh chóng bộc lộ những bất cập, lúc bung bét ra sân gôn, cho thuê rừng, đào quặng... lại đổ tội cho cơ chế. Khi phân quyền còn hàm ý bớt sách nhiễu, phiền hà, song những chiêu này được cấp dưới tiếp thu và vận dụng sáng tạo. Nhà FDI chả chịu thiệt mà “kính chuyển” tắp lự vào giá thành.​

    Gian nan quản lý

    Toàn bộ quá trình từ đưa máy móc vào - cung ứng nguyên liệu - tổ chức sản xuất, gia công đến thu xếp đầu ra đều được khép kín, phía Việt Nam không được phép biết. Vì vậy họ thoải mái dùng các thủ pháp thổi giá vật tư, máy móc để tâng giá trị dự án và tăng tỷ lệ góp vốn trong liên doanh, khai khống giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào, tạo giá thành ảo, hạch toán vờ, trốn thuế thật. Năm 2009 gần 60% số doanh nghiệp FDI tại thành phố Hồ Chí Minh báo cáo lỗ. Tựu chung đóng góp vào ngân sách nhà nước của Khối này đáng thất vọng, trong các năm 2005 -2008 chỉ xung quanh 9-10% tổng thu ngân sách quốc gia. Năm 2009, vin cớ khủng hoảng, đóng góp của họ giảm 11,25%, trong khi khu vực tư nhân chỉ giảm 4,4%, còn doanh nghiệp nhà nước vẫn tăng 6,2%.

    Nguyễn Duy Nghĩa
  9. lmwayrheart

    lmwayrheart Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    21/04/2010
    Đã được thích:
    0
    Đất Ba Vì: Bắt đầu làn sóng bán tháo?
    Cập nhật lúc 12:35, Thứ Sáu, 27/08/2010 (GMT+7)
    ,

    Sau khi Hà Nội có kiến nghị không dời trung tâm hành chính lên Ba Vì, một làn sóng bán tháo đất tại đây bắt đầu xuất hiện, dù những khoản lỗ của nhiều nhà đầu tư là không hề nhỏ.



    [​IMG]
    Những lô đất trên trục đường chính thôn Phú Cát này giờ được rao bán với giá giảm hơn một nửa so với hồi sốt nóng nhưng vẫn không có ai hỏi mua - Ảnh: Bảo Anh.
    Giá đất tại Ba Vì đã chững lại và giảm từ vài tháng nay. Tuy nhiên, kỳ vọng về một trung tâm hành chính trong tương lai tại đây vẫn đè nặng lên quyết định "cắt lỗ" của nhiều nhà đầu tư, ít nhất là đến thời điểm trước khi kiến nghị của lãnh đạo Hà Nội được gửi lên Thủ tướng.

    Vạn người bán, không người mua
    Trở lại Ba Vì sau gần 4 tháng, mọi chuyện nơi đây xem ra đã có nhiều thay đổi so với thời “sốt đất”. Nói là đất ở khu vực Ba Vì, song tại thời điểm đầu tháng 5, những khu vực lân cận như Phú Cát (Quốc Oai), Thạch Hòa (Thạch Thất) hay Cổ Đông (Sơn Tây)... mới là những khu vực “hot” nhất, và được giới săn đất quan tâm nhất.
    Dọc tuyến quốc lộ 32 Xuân Mai - Sơn Tây, vẫn còn lác đác các văn phòng môi giới, các trung tâm nhà đất, tuy nhiên cảnh tượng mua bán đã không còn được rôm rả như 4 tháng về trước.
    Thấy người ghé vào hỏi mua đất, bà Lê Thị Tám, chủ văn phòng nhà Đất Đăng Khang nằm ngay ngã từ Quốc Oai - Sơn Tây vẫn vui vẻ tiếp khách, giới thiệu về mảnh này, mảnh nọ như bà vẫn làm từ hồi hồi sốt đất.
    Tuy nhiên, bằng trực quan cũng có thể nhận thấy, sự nhiệt tình trong môi giới và “quảng cáo” về các lô đất của bà Tám đã “giảm lửa” đi nhiều so với thời sốt nóng.
    “Sau khi giá đất giảm từ hồi tháng 6, tôi không kiếm nổi đồng nào từ nghề tay trái này. Toàn người hỏi lên, hỏi xuống, nhưng không ai mua. Tôi cũng đoán nhiều người đến hỏi là nhà báo, hay cán bộ thanh tra trên huyện, thành phố xuống, nhưng không tiếp thì không được chú ạ”, bà Tám nói.
    Để mô tả thêm về sự trầm lắng mua bán nơi đây, bà Tám nói, phần lớn đất được mua bán từ hồi sốt đến giờ vẫn thuộc sở hữu của những người từ nơi khác đến đầu tư. Hồi tháng 5, tháng 6, khi giá bắt đầu giảm, họ vẫn còn quyết “vứt đấy” chứ số người chấp nhận bán lỗ là không nhiều.
    Thế nhưng, không hiểu sao từ gần một tháng nay, ôtô biển xanh, biển trắng lại bắt đầu vào làng ngày một nhiều. Rồi dần dần, có nhiều người đến nhờ bà Tám bán miếng này, miếng kia thì mới biết họ bắt đầu bán đất nơi đây và hứa trả công môi giới cao hơn nhiều hồi sốt đất.
    Còn trên đường vào thôn 6, 7 của xã Phú Cát, những “cò” đất nơi đây có vẻ như lại được tiếp tục công việc của mình sau vài tháng tạm nghỉ. Nhưng trái ngược với lúc sốt đất, khi họ chủ yếu kiếm tiền từ người mua, thì nay họ lại được người bán “chăm sóc”, thậm chí có người còn được ứng tiền trước.
    Một “cò” tên Trọng tại thôn 7 Phú Cát, nói cả tuyến đường chính liên thôn của xã này, 100% là đất của các chủ đầu tư dưới Hà Nội lên, và họ đang rất cần bán từ khoảng 3 tuần nay.
    “Thằng em tôi nó làm trên huyện bảo rằng, họ không chuyển cơ quan của Chính phủ lên đây nữa đâu. Hủy rồi! Giờ bán cũng không ai mua. Tôi lượn suốt trên trục đường này cả tháng nay, mà không có một mống nào hỏi hạn chuyện đất cát, trong khi chủ đất thì liên tục gọi điện hỏi tình hình”, Trọng nói.
    Tại trụ sở UBND huyện Ba Vì chiều 26/8, Phó chủ tịch UBND Nguyễn Văn Hải cho biết, cũng giống như một số khu vực lân cận, phần lớn đất trên địa bàn được bán từ khi sốt đất đến nay đều nằm trong tay của những nhà đầu tư từ nơi khác, gần như không có dân địa phương tham gia đầu tư, lướt sóng.
    Tuy nhiên, theo ông Hải, kể từ đó đến nay, những khu đất thuộc quyền của giới đầu cơ, ôm đất đã hoàn toàn “bất động”, không có giao dịch, vì không ai bán và cũng không có người mua. Gần đây, đã bắt đầu xuất hiện một số nhà đầu tư có ý định bán đất và chấp nhận lỗ, nhưng số người mua vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay.
    Có nên bán tháo?
    Trong chuyến khảo sát giá đất tại khu vực Quốc Oai, Sơn Tây, Ba Vì ngày 26/8, chúng tôi tình cờ có cuộc tiếp xúc với một nhóm đầu tư từ nội thành Hà Nội lên tìm mối bán đất.
    Anh Thành, một trong số những người đang cần bán đất, cho biết anh đang có gần 15 mét dài đất mặt tiền tại thôn Kim Sơn, khu vực dẫn vào trung tâm xã Yên Bài, nơi trước đây được trù tính sẽ đặt trung tâm hành chính quốc gia. Tại thời điểm sốt nóng, nhà đầu tư này đã phải chi gần 2,3 tỷ đồng để mua lô đất trên, tương đương với gần 150 triệu đồng/mét dài.
    Chỉ sau đó một tháng, khu đất của anh đã giảm gần 20 triệu đồng/mét dài, tức là anh “mất đứt” khoảng 300 triệu đồng cho lô đất trên. Khi đó, dù có lỗ anh cũng nhất quyết không bán vì tin rằng, dù sao dời trung tâm hành chính và xây trục Hồ Tây - Ba Vì vẫn có nhiều khả năng sẽ được thông qua.
    Tuy nhiên, ngay từ cuối tháng 7 vừa qua, sau khi nắm được thông tin Hà Nội sẽ từ bỏ ý định dời trung tâm hành chính lên Ba Vì, ngay lập tức anh đã thay đổi quan điểm theo hướng chấp nhận lỗ để “cắt đứt” với khái niệm... đất Ba Vì.
    “Nghe bạn bè xúi giục đầu tư đất Ba Vì sẽ thu lợi tiền tỷ, vợ chồng tôi cũng liều “ném” vào đấy hơn 2 tỷ đồng. Thế nhưng, giờ tôi rao bán có 1,8 tỷ, rồi 1,5 tỷ cả tháng nay cũng không ai mua”, nhà đầu tư này nói.
    Song cũng theo anh Thành, cũng nắm thông tin như anh nhưng một số đồng nghiệp có đất ở khu Ba Vì, Quốc Oai vẫn chưa có ý định bán. Bởi lẽ, họ tin rằng, việc thành phố tập trung đầu tư hạ tầng cho khu vực phía Tây trong thời gian qua chắc chắn phải có mục đích gì đấy.
    Hơn nữa, theo những người này, qua thông tin trên báo chí thì hiện Bộ Xây dựng vẫn theo đuổi ý tưởng xây dựng trục Hồ Tây - Ba Vì, cho dù đường Láng - Hòa Lạc (nay là Đại lộ Thăng Long - PV) đã quá đủ cho một khu vực vốn chưa mấy phát triển như Sơn Tây – Ba Vì.
    Anh Thành nói, những người quyết ôm đất đến thời điểm này vẫn tin rằng, việc Hà Nội kiến nghị không dời trung tâm hành chính lên Ba Vì cũng chỉ là đề xuất hiện tại. Không có gì khẳng định rằng, nay mai mọi chuyện lại không thay đổi. Đó là chưa kể đến chuyện quan trọng này phải do Chính phủ và Quốc hội quyết định.
    Theo ông Nguyễn Thành Sơn, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Vì, thực tế “cơn sốt đất Ba Vì” chỉ diễn ra trong vòng khoảng 1 tháng rưỡi, tức là chỉ từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 6 là bắt đầu lắng xuống. Còn từ cuối tháng 6, đầu tháng 7 hầu như không có giao dịch.
    “Với tư cách là những người lãnh đạo, quản lý đất đai trên địa bàn huyện, chúng tôi vẫn khuyên các hộ dân không nên bán đất ngay cả khi giá đất sốt cao, nếu không có mục đích rõ ràng và có lợi lâu dài. Cả hai năm nay, chúng tôi không tiến hành đấu giá đất được bởi không thể nắm được chính xác giá đất tại các khu vực, vì không có nổi một mẫu khảo sát”, ông Sơn nói.
    Cũng theo ông Sơn, về lâu dài, với sự quá tải ở khu vực đô thị thì các khu vực ngoại thành sẽ là những địa điểm được nhiều người lựa chọn. Tuy nhiên, vị này cũng thừa nhận, trong ngắn hạn, những khu vực như Ba Vì sẽ rất khác các khu đô thị vì giá trị sử dụng thực không cao.
    “Hiện nay chưa mấy ai nghĩ đến chuyện đến ở Ba Vì để đi làm Hà Nội, trong khi người dân ở đây thì họ không thiếu đất ở. Nếu ai đó có khuấy động lên để hâm nóng thị trường cũng khó, vì không nhiều giá trị thực”, ông Sơn nói.
    (Theo VnEconomy)
  10. lmwayrheart

    lmwayrheart Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    21/04/2010
    Đã được thích:
    0
    Ẩn số luồng tiền vay, ủy thác


    [​IMG]
    Trên thực tế, luồng ngoại tệ vào Việt Nam không phải ít. Cán cân tài chính và vốn vẫn thặng dư cao, cao hơn thâm hụt vãng lai khoảng 3 tỉ Đô la Mỹ cho đến cuối quý 2/2010, như nhận định của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia.


    12:00 (GMT+7) - Thứ Năm, 26/8/2010
    Từ nay đến cuối năm liệu tỷ giá có ổn định quanh mốc 19.500 đồng/Đô la Mỹ? Việc giữ mức này phụ thuộc nhiều vào yếu tố tâm lý


    Suốt bao năm nay, mỗi khi tỷ giá có vấn đề, nghĩa là cung cầu ngoại tệ căng thẳng, thường là cầu lớn mà cung không đáp ứng đủ, Ngân hàng Nhà nước đưa ra hai cách thức giải quyết: hoặc bán ngoại tệ can thiệp từ nguồn dự trữ ngoại hối; hoặc tạo ra một mức tỷ giá tiền đồng - Đô la Mỹ mới nhằm đạt đến một điểm cân bằng.

    Lần điều chỉnh tỷ giá gần đây nhất diễn ra ngày 17/8/2010 cũng không nằm ngoài hai phương thức đó.

    Chủ động trong sự đột ngột

    Xét trên bình diện cung cầu, bề ngoài tỷ giá chưa đến mức căng thẳng như những lần trước. Thứ nhất, tỷ giá ngoài thị trường tự do dù có cao hơn giá niêm yết mua bán của ngân hàng, nhưng mức chênh lệch không đáng kể, khoảng 100-150 đồng/Đô la Mỹ (tỷ giá chính thức 19.100 đồng, tỷ giá tự do 19.200-19.250 đồng/Đô la Mỹ).

    Thứ hai, tỷ giá mua bán tiền mặt, chuyển khoản của các tổ chức tín dụng đã lên kịch trần, nhưng thời gian đứng ở mức kịch trần đó chưa kéo dài. Các nhà xuất nhập khẩu vẫn tự xoay xở được bằng cách gặp nhau để thỏa thuận giá cả Đô la Mỹ thông qua sự giới thiệu của ngân hàng.

    Vậy thì tại sao Ngân hàng Nhà nước lại đột ngột điều chỉnh tỷ giá, nhất là sự điều chỉnh ấy xảy ra đúng hai tuần sau khi Thống đốc Nguyễn Văn Giàu tuyên bố trên báo chí ngày 4/8/2010 là “tỷ giá sẽ ổn định”?

    Đã có những ý kiến cho rằng Ngân hàng Nhà nước chủ động đi trước một bước, chủ động dẫn dắt thị trường, một khi nhận thấy từ 5-6 tháng nay tỷ giá khá ổn định, nhưng gần đây đã giao dịch vượt trần (do cộng thêm một số loại phí). Sự nhận thấy đó là chính xác.

    Trong ba tháng của quý 2 năm nay, tỷ giá đã có một khoảng lặng bình yên, khoảng lặng trên bề mặt được tạo ra từ cơ chế “tạm ứng tương lai”. Doanh nghiệp đã “núp” vào ngoại tệ để tránh “cơn bão” lãi suất tiền đồng cao, họ bán Đô la Mỹ vay được cho ngân hàng lấy tiền đồng, tạo nên nguồn cung dư thừa ngoại hối. Nay nguồn cung ấy không còn, tỷ giá lên. Chủ động điều chỉnh để chặn sự lên đó, không cho nó đi quá xa có thể là hành động đúng!

    Sự đổi chiều của huy động và cho vay ngoại tệ

    Tuy nhiên sự đột ngột có lý do của nó!

    Vào cuối năm 2009, theo nhiều số liệu tính toán, tổng vốn huy động bằng ngoại tệ của các ngân hàng đạt khoảng 390.000 tỉ đồng, trong khi dư nợ cho vay ngoại tệ chỉ khoảng 315.000 tỉ đồng. Các tổ chức tín dụng thừa một lượng vốn ngoại tệ lớn.

    Nhưng đến cuối tháng 3/2010, tình hình đã đổi khác, tổng vốn huy động ngoại tệ, theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ tăng hơn 0,21% so với cuối năm 2009, nhưng dư nợ cho vay ngoại tệ lại tăng mạnh, tới hơn 14,07%.

    Chênh lệch tuyệt đối giữa huy động và cho vay ngoại tệ tụt xuống nhanh chóng. Trong tháng 4 và 5, vay ngoại tệ lên đến đỉnh điểm. Trong báo cáo tình hình tiền tệ sáu tháng đầu năm đăng tải trên website, Ngân hàng Nhà nước nhận xét: “Từ giữa tháng 4/2010 các ngân hàng không có nhu cầu mua ngoại tệ từ Ngân hàng Nhà nước. Nhiều ngân hàng đã bán ngoại tệ thừa cho Ngân hàng Nhà nước”. Đó cũng là thời điểm mà giá Đô la Mỹ trên thị trường tự do thấp hơn cả giá giao dịch của ngân hàng.

    Tháng 4/2010 khiến người ta nhớ lại thời điểm tháng 3 và 4/2008, Đô la Mỹ thừa mứa trên thị trường do đầu tư gián tiếp nước ngoài vào nhiều. Tỷ giá rớt xuống 15.500 đồng/Đô la Mỹ cả trong và ngoài ngân hàng trong khi tỷ giá chính thức là 16.000 đồng/Đô la Mỹ. Chính phủ phải lên tiếng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước ưu tiên mua ngoại tệ cho những nhà xuất khẩu, rồi sau đó ưu tiên mua ngoại tệ cho những nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài… Thế mà chỉ một tuần sau đó tỷ giá đổi chiều…

    Lần này tỷ giá không đổi chiều sau một tuần. Đến tận cuối tháng 6/2010 nó vẫn tương đối ổn định. Chỉ có điều vốn huy động ngoại tệ của ngân hàng vẫn không tăng như mong đợi dù các ngân hàng đã nâng lãi suất tiết kiệm Đô la Mỹ lên mức phổ biến 4,5%/năm, thậm chí một số ngân hàng ở kỳ hạn dài là 5%/năm. Ngược lại dư nợ ngoại tệ vẫn tăng đều cho đến tháng 7/2010.

    Đến nay, theo Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, dư nợ cho vay ngoại tệ của toàn hệ thống ngân hàng vượt tổng huy động ngoại tệ khoảng 40.000 tỉ đồng, tương đương 2,05 tỉ Đô la Mỹ.

    Ẩn số 40.000 tỉ đồng

    Khoảng 40.000 tỉ đồng này từ đâu ra?

    Rõ ràng một luồng ngoại tệ từ bên ngoài đã đổ vào các tổ chức tín dụng trong nước dưới hình thức ủy thác để cho vay lại nhằm hưởng lãi suất Đô la cao ở Việt Nam (một dạng carry trade). Phần lớn số tiền trên chảy vào các ngân hàng nước ngoài và được họ cho doanh nghiệp Việt Nam vay.

    Ngoài ra, các ngân hàng Việt Nam cũng được các ngân hàng nước ngoài cấp hạn mức tín dụng, ít thì 10-20 triệu, nhiều thì trên dưới 50 triệu Đô la Mỹ/ngân hàng với lãi suất thấp chừng 2%/năm. Một ngân hàng nội địa cho biết hiện mức vay ngân hàng nước ngoài của họ bằng 16-17% tổng vốn huy động ngoại tệ.

    Các khoản vay hoặc ủy thác cho vay lại kể trên thông thường có kỳ hạn sáu tháng. Nếu tháng 3, 4/2010 là tháng dòng vốn ủy thác và cho vay từ nước ngoài đổ vào Việt Nam nhiều, thì tháng 9, 10 sẽ là thời điểm đáo hạn.

    Trong trường hợp các chỉ số vĩ mô của nền kinh tế lạc quan, tốc độ tăng trưởng GDP cao và lãi suất huy động ngoại tệ của các ngân hàng Việt Nam không giảm, dòng vốn trên sẽ có thể được gia hạn, ở lại thêm một thời gian. Nhưng một khi biến động vĩ mô không thuận lợi, nó sẽ nhanh chóng rút ra. Một số khoản vay và ủy thác được thực hiện trong tháng 2/2010 và đáo hạn vào tháng 8/2010.

    Đề phòng, chặn trước sự biến động của dòng tiền này có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến động thái điều chỉnh tỷ giá giữa tháng 8 vừa qua.

    Từ nay đến cuối năm liệu tỷ giá có ổn định quanh mốc 19.500 đồng/Đô la Mỹ? Việc giữ mức này phụ thuộc nhiều vào yếu tố tâm lý. Trên thực tế, luồng ngoại tệ vào Việt Nam không phải ít. Cán cân tài chính và vốn vẫn thặng dư cao, cao hơn thâm hụt vãng lai khoảng 3 tỉ Đô la Mỹ cho đến cuối quý 2/2010, như nhận định của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia. Số tiền này tản vào mục sai số trong bảng cân đối ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước, thực chất nó nằm trong túi người dân.

    Làm thế nào để ngoại tệ trong túi người dân chảy vào kênh giao dịch chính thức? Chỉ có niềm tin mới làm được điều đó. Nếu toàn bộ kiều hối và tiền của người lao động ở nước ngoài gửi về được bán cho ngân hàng, hẳn kênh ngoại tệ chính thức sẽ dồi dào. Tạo niềm tin thì khó, nhưng làm mất nó lại quá dễ. Chúng tôi nhờ một nhân viên giao dịch tại quầy ở một ngân hàng trao đổi với khách hàng đến gửi tiền, và kết quả là hai cách trả lời đều đáng suy ngẫm.


    Một phía khách hàng bán ngoại tệ tiết kiệm hoặc kiều hối nhận được cho ngân hàng nói: Ngân hàng Nhà nước mới tăng tỷ giá, chắc chưa thể tăng ngay nữa, bây giờ gửi tiền đồng hưởng lãi suất cao vài tháng, sau mua lại ngoại tệ vẫn kịp. Phía khách hàng vẫn duy trì tiết kiệm ngoại tệ thì lập luận: Ngân hàng Nhà nước mới tuyên bố ổn định tỷ giá, mà lại điều chỉnh, chắc Nhà nước không giữ được, thôi cứ gửi ngoại tệ cho chắc ăn.

    Chính sách điều hành tỷ giá gần đây hình như đang thử thách niềm tin của người dân có ngoại tệ hơn là củng cố và làm cho nó bền vững!

    Hải Lý (TBKTSG)

Chia sẻ trang này