Có nên cho 2 chỉ số VNINDEX và HAINDEX vào giỏ CPI kể từ nay ko?

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi tungtuhu, 21/03/2008.

1228 người đang online, trong đó có 491 thành viên. 22:30 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 368 lượt đọc và 3 bài trả lời
  1. tungtuhu

    tungtuhu Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    17/08/2005
    Đã được thích:
    7
    Có nên cho 2 chỉ số VNINDEX và HAINDEX vào giỏ CPI kể từ nay ko?

    Các bác cho ý kiến nhé, có hay ko để chính phủ xem xét áp dụng tính chỉ số lạm phát từ nay tới cuối năm 2008
  2. ProNumber1

    ProNumber1 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    30/03/2007
    Đã được thích:
    1
    có thể cho vào tính rồi cho nên CPI giảm rùi đó bác
  3. WarrenBuffetWTO

    WarrenBuffetWTO Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/05/2006
    Đã được thích:
    1
    Chính phủ cho 2 chỉ số này vào là lạm phát giảm ngay đấy.Như thế chính phủ lại được khen là giỏi.
  4. sieuthiotc

    sieuthiotc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    05/12/2006
    Đã được thích:
    10
    19/3: Nạn lạm phát thử thách mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
    Nạn lạm phát thử thách mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    Andrew Symon. Asia Times 17/03/08.
    Khánh Ðăng lược dịch. TK hiệu đính.

    Mô hình chuyển tiếp của Việt Nam từ một kế hoạch kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường đang phải đối diện với một số các thử thách vì nạn lạm phát phi mã tạo ra. Tuỳ thuộc vào khả năng đáp ứng khéo léo của các chuyên gia kinh tế và tài chính, các động thái của họ có thể xây dựng hoặc phá vỡ chương trình cải cách kinh tế quốc gia, cho đến bây giờ vẫn được coi là thành công.

    Mức lạm phát tiêu dùng chính thức của Viêt Nam cả năm nay đã tăng 15.7% chỉ trong tháng 2, là con số lạm phát lớn nhất trong hàng chục năm qua và hiện thời là tỷ lệ cao nhất trong các nước công nghiệp hoá ở vùng Ðông Nam Á. Nạn lạm phát hàng năm đã nhảy vọt lên hai chữ số trong vòng 5 năm qua, đe dọa sẽ làm suy yếu đi nền kinh tế vĩ mô và sự ổn định xã hội, vốn đã từng hỗ trợ cho sự tăng trưởng của tổng sản phẩm nội địa (GDP) được nhanh chóng, mà trong vòng 5 năm qua trung bình đã đạt được trên 8%.

    Ðiều đặc biệt là sự bất mãn về gia tăng lạm phát đang tăng lên trong ngành công nghiệp, ngành xương sống của nền kinh tế chuyên về xuất khẩu của Việt Nam. Ðiều đó đã được nhìn thấy qua một số các vụ bất đồng và đình công của công nhân để đòi tăng lương và điều kiện làm việc tốt hơn. Cho đến hôm nay các vụ đình công này đã xảy ra rải rác tại các công ty vốn đầu tư nước ngoài.

    Vào giữa tháng Hai, hơn 5000 công nhân đã xuống đường đình công đòi tăng lương, tăng trợ cấp, và giảm giờ làm việc tại công ty Yazaky Eds Viet Nam Ltd của Nhật Bản, chuyên sản xuất phụ tùng xe hơi để xuất khẩu tại thành phố công nghiệp Hải Phòng ở miền Bắc. Báo chí địa phương tường thuật rằng những người công nhân cho biết lương trung bình hàng tháng của họ từ 1.1 triệu đến 1.2 triệu đồng (68.75 USD đến 75 USD), tuy nằm trên mức lương tối thiểu, nhưng không đủ để trang trải chi phí cho đời sống hàng ngày.

    Theo Bộ Lao động cho biết, trong hai tuần lễ đầu tiên của năm nay, 50 vụ đình công đã xảy ra trên toàn đất nước đang nhanh chóng công nghiệp hóa này. Hồi đầu tháng Ba, khoảng 10.000 công nhân đã đình công tại công ty Tae Kwang Vina của Hàn Quốc chuyên về sản xuất giày cho hãng quần áo thể thao Nike của Mỹ, nằm ở ngoại ô tp HCM. Những công nhân của hãng này cũng đòi hỏi tăng lương cao hơn để bắt kịp với giá cả đang gia tăng.

    Theo thống kê của chính phủ cho biết: từ năm 1995 đến cuối tháng Giêng 2006, có hơn 1000 vụ đình công đã xảy ra tại Việt Nam, so với 387 vụ đình công cùng kỳ năm ngoái, tương ứng với vấn đề giá cả gia tăng tại địa phương. Trong các vụ đình công này thì có 300 vụ xảy ra tại các công ty vốn đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài tỏ ra ngao ngán khi nhà nước năm ngoái đã cho tăng mức lương tối thiểu cho thành phần lao động kỹ thuật lên khoảng 25%. Nhưng khi giá tiêu dùng tăng ồ ạt thì bất ổn trong giới lao động cũng tăng theo.

    Việt Nam không phải là nước duy nhất tại châu Á đang đối diện với áp lực của nạn lạm phát, nhưng cái tỷ lệ lạm phát hàng đầu của Việt Nam cao gần gấp đôi tỷ lệ của những nước đối thủ chính của Việt Nam trong khu vực: Trung Quốc có tỷ lệ quanh quẩn ở con số 7.1% và Indonesia là 7.4%. Vấn đề lạm phát nổi lên của Hà Nội chỉ có thể đổ thừa một phần cho các thế lực của thị trường toàn cầu, bao gồm giá cả thực phẩm và dầu thô gia tăng nhanh chóng.

    Tổng cục Thống kê thông báo: tỷ lệ lạm phát trong năm nay đã lên tới 15.7% chỉ trong tháng 2, phần lớn do giá cả thực phẩm tăng 25.2% và giá cả nhà cửa và vật liệu xây dựng tăng 16.4%, phản ánh một sự nhảy vọt quá nhanh trong ngành xây dựng.

    Nền kinh tế phát triển quá nóng cũng làm nghiêng cả cán cân thanh toán, với một mức bội chi ngân sách kinh khủng vì nhập khẩu gia tăng. Trong hai tháng đầu năm của 2008, mức thâm thủng là 4.2 tỷ USD, so sánh với 12.4 tỷ USD cho cả năm 2007. Con số thống kê này là một sự nhảy vọt khi so sánh với 4.8 tỷ USD cho cả năm 2006.

    Những áp lực đó càng ngày càng chồng chất trong trường hợp đặc biệt của Việt Nam, do hàng loạt những sự kiện xảy ra trong nước, trong đó là do nguồn vốn đầu tư nước ngoài đổ vào ào ạt, đưa đến hậu quả là lưu lượng tiền tệ trong thị trường địa phương gia tăng nhanh chóng. Rõ ràng là nhà nước không có những kinh nghiệm trong việc quản lý các thách thức tầm cỡ vĩ mô như vậy.

    Nhà nước trong những năm vừa qua đã tìm cách hiện đại hóa Ngân hàng Nhà nước để trở thành một cơ quan có khả năng về các chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái, như một phần của chương trình cải cách tài chính do WorldBank đề nghị. Ðây đúng là những cải cách kinh tế quen thuộc mà trong vài năm vừa qua đã biến Việt Nam thành một địa điểm đầu tư hấp dẫn trong khu vực đối với các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp quốc tế chuyên về sản xuất.

    Bây giờ với sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô đang có nhiều rủi ro, cho nên sự hấp dẫn đầu tư đó đang phai nhạt dần. Sự lo lắng lộ rõ khi chính phủ bất ngờ yêu cầu tạm hoãn một cuộc hội thảo đầu tư quan trọng của EuroMoney dự trù cho đầu tháng ba. Tại cuôc hội thảo này trong năm trước đã thu hút hơn 1,500 phái đoàn đến từ 30 quốc gia khác nhau, đưa đến kết qủa là một số những hợp đồng đầu tư hợp tác làm ăn mới trị giá hàng triệu USD.

    Lúc đó những lời ca ngợi cho nền kinh tế tiến triển mạnh mẽ của Việt Nam và các chính sách ủng hộ kinh tế thị trường và ủng hộ đầu tư của nhà nước được tung hô rộng rãi. Bây giờ thì nhà nước hình như là lại phần nào chui trở lại vào cái vỏ bọc cô lập của thời kỳ bao cấp, nhằm tránh né những chỉ trích có thể xảy ra về các chính sách mới hạn chế hơn. Ban tổ chức của EuroMoney cho biết rằng cuộc hội thảo sẽ được tổ chức lại vào tháng chín.

    Cho đến khi nào thì sự ổn đinh của nền kinh tế vĩ mô sẽ được tái lập? Câu hỏi vẫn chưa có lời đáp rõ ràng. Nạn lạm phát và giá cả tăng vọt được các nhà phân tích giải thích vì nền kinh tếcủa Việt Nam đang phát triển ?oquá nóng?. Điều này cho thấy sự thử thách to lớn đầu tiên về kỹ thuật quản lý xã hội của nhà nước cũng của như Ngân hàng Nhà nước kể từ khi mở cửa thu hút vốn nước ngoài đổ vào.

    Ngân hàng Nhà nước trong vài tháng qua đã chặn đứng sự gia tăng của lưu lượng tiền tệ ngoài thị trường, trong một hành động khá rõ để giảm bớt thanh khoản [liquidity: là cổ phần chứng khoán hay các tài sản ? có thể chuyển sang thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay chi tiêu - lời người dịch] đổ vào hệ thống tài chính qua đầu tư trực tiếp của nước ngoài và dòng tiền đầu tư chứng khoán. Ngân hàng Nhà nước từ lâu đã duy trì một tỷ giá hối đoái nhất định khá thấp so với thực tế để thúc đẩy xuất khẩu. Bây giờ thì tỷ giá trong ngày 13/03 là 15,865 đồng/USD, và tiền đồng sẽ còn tăng giá nữa.

    Các doanh nghiệp nước ngoài trong ngành xuất khẩu bị ảnh hưởng nặng nề nhất vì sự can thiệp của mới đây của Ngân hàng Nhà nước. Những nỗ lực của Ngân hàng Nhà nước nhằm thắt chặt lưu lượng tiền đồng càng ngày càng gây khó khăn cho các công ty muốn đổi ngoại tệ, chủ yếu là từ đô la Mỹ sang tiền Việt.

    Cùng lúc đó, nhà nước đã chỉ thị cho Ngân hàng Nhà nước và các Bộ đưa ra thêm các biện pháp hạn chế, bao gồm các điều khoản khắt khe hơn về việc cho vay mượn, nâng cao lãi suất, gia tăng nguồn vốn dự trữ tối thiểu, và nới rộng việc phát hành công trái để thu vào bớt lượng tiền đồng đang lưu thông. Tín dụng gia tăng qua hệ thống ngân hàng cũng bị chỉ thị của nhà nước bắt buộc phải giới hạn xuống 30%, thấp hơn mức tăng trưởng 40% trong năm 2007.

    Nhà nước ngần ngại khi cho phép tỷ gía hối đoái được đánh giá đúng mức, với mức dao động hiện tại từ 0.75% đến 2% so với tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước đưa ra và quản lý. Nhà nước đang hy vọng một tiền Việt nam đồng mạnh sẽ giúp làm thuyên giảm nạn lạm phát bằng cách làm cho nhập cảng được rẻ hơn, nhưng cũng tạo ra các lo ngại rằng việc đánh giá đúng giá trị tiền nội tệ sẽ làm cho ngành xuất khẩu không cạnh tranh được với Trung Quốc, là nước cũng vừa mới cho phép tỷ gía hối đoái nhất định của họ được gia tăng với tỷ lệ không đáng kể.

    Chính sách thắt chặt tiền tệ mới đề ra của Hà Nội cũng làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các cơ sở có nguồn thu nhập bằng ngoại tệ rất đáng kể hoặc lấy từ ngân quỹ nước ngoài để thanh toán các khoản chi phí nội địa. Có một số các báo cáo càng ngày càng nhiều về chuyện các công ty đầu tư ngoại quốc đang gặp phải việc thiếu hụt tiền mặt tại các ngân hàng địa phương, đưa đến hậu qủa là một số công ty không có tiền mặt để trả lương cho nhân viên cũng như trả tiền thuê mướn mặt bằng. Với các nhà băng phải hoạt động dưới những chỉ thị gắt gao để lưu giữ nguồn tiền mặt dự trữ, nhiều doanh nghiệp bây giờ phải hoạt động bên ngoài hệ thống ngân hàng chính thức để lấy đủ tiền mặt thanh toán.

    Thị trường chứng khoán còn non trẻ của Việt Nam, vốn đã bị mất đi sự hấp dẫn trong vòng 12 tháng qua, lại bị quất một đòn mạnh bởi nạn lạm phát và phản ứng hạn chế của nhà nước. Chẳng hạn như việc bán đổ bán tháo các cổ phần của giới đầu tư cá thể tại địa phương, là thành phần chiếm ưu thế trong thị trường chứng khoán trị giá 20 tỷ Mỹ kim của sàn chứng khoán tpHCM. Ðược biết là trong một dự tính để xoa dịu các nhà đầu tư đang hốt hoảng, bộ phận đầu tư của nhà nước đang mua thêm nhiều cổ phần để làm cho giá tăng lên.

    Mối rủi ro lớn hơn là tình trạng thắt chặt hơn về tiền tệ gây nhiều khổ sở cho ngành ngân hàng, mà có nhiều tranh cãi trước khi áp lực của nạn lạm phát xâm nhập vào ngành tài chánh. Các nhà phân tích đã tiên đoán rằng, các kẽ hở đó có thể xuất hiện đầu tiên trong cái gọi là các công ty liên doanh cổ phần chứng khoán ngân hàng, do sự cạnh tranh để hút vốn từ người dân càng lúc càng nghiêng về phía các ngân hàng lớn do nhà nước làm chủ, vì họ đảm bảo hơn, ít ra là về mặt hình thức. Cơ quan đánh giá khả năng tín dụng Standard & Poor''s (S&P) của Mỹ đã cảnh báo trong một báo cáo hồi tháng Hai rằng, ?omột sự siết chặt thanh khoản lâu dài sẽ làm trầm trọng hơn sự yếu kém cố hữu trong cấu trúc của hệ thống ngân hàng Việt Nam?.

    Trong khi đó, ngân hàng đầu tư Hoa Kỳ, JPMorgan Chase, cho rằng con số tỷ lệ lạm phát sẽ đạt tới mức trung bình 16.1% trong năm nay, gần gấp đôi tỷ lệ 8.5% trong năm 2007. Dù sao, những quan điểm về tình trạng lạm phát sẽ lợi hại như thế nào đối với toàn bộ nền kinh tế thì khác nhau. Cơ quan Standard & Poor''s cho biết rằng họ không nghĩ là tỷ lệ lạm phát cao sẽ đưa đến hậu quả có một định mức tín dụng đi xuống trong vòng hai hay ba năm tới, trừ khi lạm phát bắt đầu gia tăng nhanh chóng hơn.

    Ðó là sự an ủi tạm thời cho tầng lớp nhân dân lao động đông đảo của Việt Nam, khi sự gia tăng giá cả của thực phẩm đã làm họ càng ngày càng gặp nhiều khó khăn để kiếm cho đủ sống. Ông Jonathan Pincus, một chuyên viên kinh tế cao cấp của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại Hà Nội, mới đây đã cho giới truyền thông báo chí biết rằng nhà nước Viêt Nam cần phải đặt ra chỉ tiêu đưa tỷ lệ lạm phát xuống dưới con số 10%, để các doanh nghiệp có thể vững tin đưa ra những kế hoạch sản xuất và đầu tư, ngành xuất khẩu có thể duy trì tính cạnh tranh và đời sống người nghèo không bị ảnh hưởng.

    Chuyên gia kinh tế này còn ghi nhận rằng tỷ lệ lạm phát của Việt Nam bây giờ cao gấp hai lần tỷ lệ của các nước khác trong khu vực, trong đó có cả Trung Quốc. Ông Pincus nói, ?oSẽ rất tai hại nếu lạm phát ở trên con số 10%. Nhà nước Việt Nam phải nhìn nhận rằng mặc dù là có những vấn đề khó khăn trên toàn cầu, nhưng cũng có những vấn đề khó khăn rất đặc thù Việt Nam và cần phải được giải quyết tại Viêt Nam?. Còn bây giờ thì sự phán quyết vẫn còn tuỳ thuộc vào các chuyên gia về quản lý kinh tế và xã hội của Việt Nam có khả năng làm nổi việc hay không.

Chia sẻ trang này