Đồng VND mạnh: Mấu chốt giải toả nền KT Việt???

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by futureprecedor, Mar 15, 2008.

2771 người đang online, trong đó có 1108 thành viên. 09:51 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. futureprecedor

    futureprecedor Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 11, 2006
    Likes Received:
    467
    Đồng VND mạnh: Mấu chốt giải toả nền KT Việt???

    Đồng USD đang mất giá mạnh, NHNN VN lại duy trì chính sách tỷ giá như trước tới nay vô hình chung tạo ra 1 đồng VND yếu với hậu quả là:
    1.Siêu lạm phát (do chúng ta nhập siêu)
    2. Ứ đọng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng, lãng phí vốn

    trong khi cái chúng ta thu được chỉ là duy trì tỷ giá để tạo thuận lợi cho XK. Nhưng hiện tại VN lại đang là nước nhập siêu (12tỷ USD năm 2007).

    Thế nên cái lợi ở đây dường như nhỏ bé hơn rất nhiều so với những cái hại ở trên.

    Vì lẽ đó CP đã đồng ý mở rộng biên độ tỷ giá là 2%. Trong một bối cảnh như hiện nay thì giải pháp ngắn hạn trước mắt có lẽ phải hy sinh tỷ giá để cứu lấy nền móng của nền KT đó là lạm phát. Ở cái nhìn trực tiếp, đồng VND mạnh gây khó cho XK nhưng ở góc độ chi phí đầu vào nếu lạm phát giảm lại tạo điều kiện thúc đẩy sx trong đó có cả xuất khẩu. Dòng vốn ngoại được lưu thông cũng sẽ thúc đẩy sx.

    Khi nào đồng USD trên thế giới tăng điểm trở lại, lúc đó chúng ta cũng quay lại chính sách tỷ giá như trước đây.

    Dưới đây là bài viết tham khảo từ TBKTSG
    Cập nhật 12:15 15/03/2008

    Hồi kết đã được báo trước

    Đồng USD vẫn trong chuỗi ngày sụt giá và chưa có dấu hiệu sẽ dừng lại.



    Vay nợ để tiêu

    Đồng đô la Mỹ, được sử dụng như đồng tiền chính thức trong thương mại quốc tế, đã đem đến cho nước Mỹ những lợi ích to lớn. Đô la Mỹ từng được ưa chuộng khắp nơi; theo tờ The Atlantic, hiện nay có khoảng 750 tỉ đô la tiền mặt lưu hành, với một tỷ lệ rất lớn nằm ở bên ngoài nước Mỹ. Khi một người lái tắc xi ở Bangkok nhận tờ 10 đô la Mỹ từ một du khách Mỹ, anh ta đã đổi công sức và chi phí chở du khách này đi một đoạn đường nào đó lấy một tờ giấy, không hơn không kém.

    Ở bình diện thương mại quốc tế cũng vậy, khi một công ty xuất một container hàng sang Mỹ để nhận về một khoản tiền đô la nào đó, công ty này cũng đã đổi nguyên vật liệu, phí nhân công... để lấy một cọc giấy. Với các nước khác, ?ocọc giấy? đó được dùng để nhập khẩu trở lại từ nước phát hành nhưng nước Mỹ trong nhiều năm liền nhập siêu ngày càng nhiều. Năm 2006, Mỹ nhập siêu lên đến 763 tỉ đô la. Điều đó có nghĩa ngày càng nhiều công ty, quốc gia, cá nhân... trở thành chủ nợ của Mỹ, được chứng nhận bằng những tờ giấy bạc màu xanh quen thuộc. Và đổi lại, nguồn tài nguyên, nhân lực của thế giới cứ thế đổ vào nước Mỹ.

    Trên thế giới tài chính, đồng đô la Mỹ cũng hoạt động với nguyên tắc tương tự với quy mô lớn hơn nhiều lần. Trái phiếu của Chính phủ Mỹ, tức là một loại giấy vay nợ tính bằng đô la Mỹ, được chính phủ nhiều nước khác mua làm dự trữ ngoại tệ. Hiện nay nước Mỹ là con nợ lớn nhất của thế giới, đến tháng 2-2008, số nợ này lên đến 9.300 tỉ đô la, với mức tăng bình quân 1,7 tỉ đô la mỗi ngày! Nợ nhiều mà người dân Mỹ không hề quan tâm nên nhiều thành phố bèn lập các đồng hồ ngoài trời ghi rõ số nợ đang tăng dần, nổi tiếng nhất là chiếc đồng hồ nợ ở quảng trường Times Square, thành phố New York. Nhưng chủ nhân chiếc đồng hồ này đang lo vì khi số nợ lên đến 10.000 tỉ đô la (dự kiến vào tháng 9-2008) thì mặt chữ số không đủ chỗ để ghi!

    Trong tình hình bình thường, nước nào nợ nần như thế chỉ còn biết tuyên bố phá sản nhưng nước Mỹ nhiều năm liền vẫn bình chân như vại, lạm phát không tăng, lãi suất trả nợ cũng không cần tăng. Chủ nhân các món nợ này lo ngại, nếu đồng đô la giảm giá, chính họ là người bị thiệt hại đầu tiên.

    Ví dụ, Chính phủ Trung Quốc đang nắm giữ khoảng 1.500 tỉ đô la trị giá các loại nợ của Mỹ, trong đó khoảng một phần ba là trái phiếu chính phủ Mỹ. Nếu quy đổi sang euro hay vàng, khoản tiền này đang mất giá từng ngày. Ở các cuộc khủng hoảng như khủng hoảng nợ các nước châu Mỹ Latinh thập niên 1980 hay khủng hoảng tài chính châu Á cuối thập niên 1990, khi đồng tiền của các nước bị mất giá, nợ của các nước này tăng vọt.

    Nhưng giả dụ, đồng đô la Mỹ sụp đổ như đồng baht hay đồng peso, khoản nợ của nước Mỹ không thay đổi vì nước Mỹ đi vay bằng đô la chứ không vay bằng đồng tiền của các nước cho vay. Chính vì vậy, sự mất cân đối của hệ thống tài chính Mỹ dù đã được cảnh báo từ lâu, nhưng vẫn không đưa đến những dự báo về sự sụp đổ của đồng đô la Mỹ như dự báo.
    Chủ nợ loay hoay nhưng không dám làm dữ

    Cũng nhiều năm liền Trung Quốc kháng cự áp lực buộc đồng nhân dân tệ lên giá so với đô la Mỹ, một mặt vì không muốn khoản dự trữ (tức khoản nợ cho nước Mỹ vay) mất giá; mặt khác, đồng nhân dân tệ yếu sẽ giúp Trung Quốc tiếp tục tận dụng lợi thế nhân công rẻ để xuất hàng giá rẻ đi khắp thế giới.

    Nhưng dĩ nhiên, Trung Quốc không thể không lo ngại trước khả năng đống giấy nợ 1.500 tỉ đô la mình đang nắm giữ có nguy cơ trở thành đống giấy vụn, họ phải dần dần chuyển dự trữ ngoại tệ của mình từ đô la Mỹ sang các ngoại tệ khác như đồng euro. Chính phủ Nhật Bản, chủ nợ lớn nhất của Mỹ đã thực hiện quá trình chuyển đổi này từ mấy năm trước.

    Thế là chuỗi ngày đồng đô la Mỹ sụt giá bắt đầu và không dừng lại. Khủng hoảng tài chính địa ốc của Mỹ năm ngoái càng làm cho quá trình này diễn ra nhanh hơn vì người ta thấy nước Mỹ khôn quá, chuyển ngay cả nợ mua nhà trong nước mình thành chứng khoán để bán nợ loại này lên thị trường tài chính thế giới.
    Hiện nay các nhà phân tích tài chính không còn nói về nguyên nhân đồng đô la Mỹ mất giá nữa. Họ bàn về các khả năng có thể xảy ra trong ngắn hạn và trung hạn. Chắc chắn thế giới đang đi theo hướng sẽ có nhiều đồng tiền được sử dụng trong giao thương và tài chính. Chỉ có điều, giả sử Trung Quốc bán tống bán tháo khoản dự trữ 1.500 tỉ đô la Mỹ của mình, đồng đô la sẽ sụp đổ, nước Mỹ sẽ không đến nỗi phải tuyên bố phá sản nhưng sẽ rơi vào tình trạng siêu lạm phát, lãi suất sẽ tăng vọt và nhiều công ty Mỹ sẽ đóng cửa.

    Nhưng như đã nói ở trên, bất kỳ sự suy sụp nào của đồng đô la Mỹ sẽ gây thiệt hại cho chủ nợ trước tiên. Vì thế, cuối tuần trước, bà Hồ Hiểu Luyện, Phó thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, người phụ trách chính sách ngoại hối đã tuyên bố việc đồng đô la Mỹ mất giá là ?otiêu cực? cho nền kinh tế toàn cầu và kinh tế Trung Quốc chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. Bà Luyện cho biết Trung Quốc sẽ quản lý dự trữ ngoại tệ theo định hướng đã đề ra, tức sẽ nâng giá đồng nhân dân tệ từ từ chứ không đột ngột. Họ cũng sẽ phải tiếp tục mua đô la Mỹ có lẽ với tốc độ chậm lại vì ngưng mua đột ngột hay chuyển sang ngoại tệ khác, tài sản tính bằng tiền đô la đang có của họ sẽ bị mất giá theo. Bộ trưởng Thương mại mới của Trung Quốc Chen Deming trước đó cũng nhấn mạnh việc đô la Mỹ mất giá đáng lo hơn chuyện đồng nhân dân tệ lên giá.

    Còn Mỹ thì sao? Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson tuần trước hai lần nhấn mạnh nước Mỹ sẽ theo đuổi chính sách đồng đô la mạnh và cho rằng các yếu tố căn bản của nền kinh tế Mỹ vẫn vững vàng nên đồng đô la, theo ông, sẽ phục hồi trong dài hạn. Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu hoan nghênh tuyên bố này vì chính các nước sử dụng đồng euro cũng đang gặp khó khăn khi đồng euro lên giá.

    Điều đau đầu với ngân hàng trung ương các nước là thị trường tài chính thế giới không tin tưởng vào những phân tích dài hạn này. Đồng đô la sụt giá làm cho giá dầu, giá nguyên liệu, giá vàng tăng cao. Lạm phát ở nhiều nước cũng tăng ở mức báo động.

    Và một khi giới tài chính chuyển tài sản của họ tính theo đô la Mỹ sang dạng khác như vàng, xu hướng này đang làm cho nỗ lực giảm sự sụt giá đồng đô la không mang lại kết quả. Sức mua của thị trường Mỹ lên đến 9.000 tỉ đô la mỗi năm, nay tính theo đô la sức mua này sút giảm thì các nước sẽ khó lòng bán hàng sang Mỹ một cách dễ dàng như trước.

    Chỉ có nước Mỹ, dù nền kinh tế sắp rơi vào vòng suy thoái, vẫn khá ung dung: họ sẽ lại bán hàng được nhiều hơn và giảm được sự mất cân bằng ngoại thương một cách rẻ nhất.

    Nguồn tin TBKTSG
  2. futureprecedor

    futureprecedor Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 11, 2006
    Likes Received:
    467
    Nếu thực hiện chính sách đồng VND mạnh trong ngắn hạn ta sẽ có dòng chảy sau:

    VND mạnh---> Lạm phát ngắn hạn giảm, USD lưu thông---> thúc đẩy tiêu dùng---->thúc đẩy sx---> tăng cung hàng hoá---->lạm phát dài hạn giảm---->đầu tư NN gia tăng---->xuất khẩu tăng---->xuất siêu--->thịnh vượng.
  3. futureprecedor

    futureprecedor Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 11, 2006
    Likes Received:
    467
    Neo tỷ giá sẽ bóp méo thị trường
    Thứ sáu, 14 Tháng ba 2008, 14:31 GMT+7

    Tags: sản phẩm phái sinh, ngân hàng nhà nước, Đồng Việt Nam, xuất nhập khẩu, của thị trường, doanh nghiệp, tỷ giá, thực hiện, lãi suất, chuyên gia, bóp méo, USD, mua, neo

    Thu mua ngoại tệ tại ngân hàng - Ảnh: TBKTSG
    USD liên tục rớt giá cùng với việc các ngân hàng hạn chế mua khiến cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu "sống dở, chết dở". Một chuyên gia tài chính cho rằng, đây là hệ quả tất yếu của việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện "neo" tỷ giá nhiều năm nay.


    Cũng vì chính sách neo tỷ giá mà thị trường các nghiệp vụ phái sinh đã không có cơ hội để phát triển. Hậu quả là doanh nghiệp đã không được sử dụng những sản phẩm có thể bảo hiểm rủi ro trong các hợp đồng làm ăn, trong đó có rủi ro về tỷ giá.

    Nghịch lý thị trường

    Anh Hùng, chủ một doanh nghiệp nhập khẩu ô tô tại Hà Nội than vãn, những doanh nghiệp như anh đang "sống dở, chết dở" vì USD! Chỉ riêng những ngày qua, với các lô hàng mới nhập khẩu về, doanh nghiệp của anh đã bị thiệt hại một số tiền không nhỏ do phải bù chênh lệch tỷ giá.

    "Với lô hàng nhập khẩu 3 chiếc Camry ngày 12/3, chúng tôi phải bù chênh lệch do tỷ giá để tính nộp thuế cho Nhà nước là 16.020 đồng/USD, trong khi đó giá đô la mua vào tại thị trường tự do lại chỉ có 15.600 đồng/USD.

    Như vậy, cứ 100 USD là phải bù 42.000 đồng. Đó là chưa kể, khi chúng tôi thực hiện thanh toán hợp đồng với bên công ty xuất khẩu qua ngân hàng mở LC, ngân hàng không nhận USD mà bắt doanh nghiệp bỏ tiền đồng Việt Nam ra mua lại USD của ngân hàng với giá 15.870 đồng/USD", anh Hùng bức xúc.

    "Ở thị trường Việt Nam, tiền đồng bị kiểm soát bởi NHNN theo chính sách "neo" một biên độ. Biên độ này lại không bao giờ phản ánh đúng theo thị trường, trong khi cung USD quá lớn mà cầu lại ít.

    Điều này đã dẫn đến việc giá USD giao ngay không bao giờ phản ánh đúng theo giá của NHNN. Các ngân hàng thương mại (NHTM) vì vậy không thể niêm yết giá sản phẩm phái sinh đúng theo thị trường được bởi giá gốc là giá giao ngay không phản ánh đúng thị trường", ông Đỗ Ngọc Quỳnh, Phó Giám đốc Ban Nguồn vốn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho biết.

    Vì thế, theo ông Quỳnh, qua gần 3 năm kể từ khi NHNN cho phép thực hiện các sản phẩm phái sinh đầu tiên, đến nay các NHTM vẫn chưa thể triển khai được đa dạng các nghiệp vụ, nhất là sản phẩm phái sinh phòng chống rủi ro tỷ giá VNĐ/USD.

    Cũng theo ông Quỳnh, ngay cả khi NHNN đã thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá cũng vẫn chưa phản ánh đúng được giá của thị trường vì hiện nay người ta vẫn giao dịch dưới giá "sàn" của NHNN khoảng hơn 200 đồng.

    Xu thế điều hành tỷ giá của NHNN, vì thế, là quá rõ ràng theo kiểu một chiều và biên độ cụ thể. Với xu thế này, tâm lý chung của các doanh nghiệp là không muốn giao dịch. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu muốn bán USD để phòng ngừa xuống giá nhưng chẳng ai muốn mua.

    Chấp nhận đến bao giờ?

    Các chuyên gia cho rằng, thị trường Việt Nam không như các thị trường khác bởi đồng tiền của ta chưa được tự do chuyển đổi. Hơn nữa, NHNN không mua vào trong khi USD thừa nên xu hướng "ép" đồng Việt Nam tăng giá là quá rõ.

    Điều này đã dẫn đến tình trạng, trong trường hợp cầu lớn hơn cung thì giá sẽ vượt trần, còn nếu cung lớn hơn cầu thì giá đó nằm dưới giá sàn của NHNN.

    Đó là chưa kể đến việc các doanh nghiệp mua USD ở bên ngoài để thanh toán là một hành động vi phạm pháp luật. Theo quy định, các cửa hàng thu đổi ngoại tệ trên thị trường tự do (kể các đại lý của các ngân hàng) chỉ được phép mua chứ không được phép bán ngoại tệ cho bất kỳ ai, trừ NHTM.

    "Vấn đề nằm ở chỗ thực thi pháp luật của các doanh nghiệp mình quá kém. Vì vậy, ngân hàng đã có quy định, nếu tiền ngoại tệ dùng để thanh toán ra nước ngoài phải có nguồn gốc hợp pháp, nếu không chứng minh được thì chỉ có thể gửi tiết kiệm", một chuyên gia nhấn mạnh.

    Bởi vậy, theo các chuyên gia, ở những thị trường mà đồng tiền tự do chuyển đổi hoặc ngân hàng trung ương can thiệp một cách chủ động (có người mua, người bán), thì tính thanh khoản của thị trường sẽ cao.

    Phân tích sâu hơn về thị trường, ông Quỳnh cho biết, hiện nay, những doanh nghiệp vay bằng đô la đang có lợi vì đồng tiền này ngày càng mất giá, nên khi trả nợ, doanh nghiệp quy đổi từ đồng Việt Nam sang USD sẽ được lợi.

    Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp nào khi vay USD đã thỏa thuận lãi suất cố định với mức lãi suất cao của thời điểm đó (4,5%) thì nay sẽ bị thiệt hại lớn vì hiện tại FED đã cắt giảm xuống còn 2,7% (mà xu hướng là sẽ tiếp tục cắt giảm xuống còn khoảng 1,5-2%).

    "Những đối thủ của họ trước đây nếu chỉ phải vay theo lãi suất thả nổi hoặc mới vay chịu một mức lãi suất thấp hơn nhiều. Do vậy, chi phí của họ sẽ thấp hơn và giá thành sản phẩm vì thế sẽ rẻ hơn", ông Quỳnh lý giải.

    Vì thế, ông Quỳnh cho rằng, nếu doanh nghiệp nào tỉnh táo và làm tốt công tác dự báo về xu hướng của thị trường thì có thể chuyển đổi sang lãi suất thả nổi, 6 tháng định giá lại một lần thay vì chốt một mức lãi suất cho suốt thời gian vay. Như thế, doanh nghiệp sẽ giảm bớt được rủi ro về tỷ giá và thiệt hại sẽ ít hơn.

    Theo Khánh Chi
    Thời báo Kinh tế Sài Gòn
  4. bmwz8z8z8

    bmwz8z8z8 Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Likes Received:
    0
    Vấn đề thứ nhất phải đặt ra là liệu việc tiền đồng tăng giá khiến giá hàng nhập khẩu khi tính bằng tiền đồng rẻ đi có giúp ích gì cho kiểm soát lạm phát hay không? Chưa hẳn. Chúng ta cần chú ý là không phải cứ giá nguyên liệu, máy móc nhập vào rẻ thì giá bán hàng hóa tiêu dùng đầu ra cũng sẽ rẻ đi. Khi mà hệ thống phân phối bán lẻ trong nền kinh tế còn nhiều bất cập và cạnh tranh thực sự còn chưa tồn tại trong nhiều ngành kinh doanh tại Việt Nam thì không thể nói chắc được điều này. Trong điều kiện người dân kỳ vọng lạm phát còn cao, người bán vẫn có thể duy trì một mức giá bán cao cho sản phẩm đầu ra, khiến mặt bằng chung giá cả xã hội không giảm xuống. Cứ nhìn mặt bằng giá sữa và giá thuốc cũng có thể thấy tín hiệu của vấn đề này.
  5. futureprecedor

    futureprecedor Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 11, 2006
    Likes Received:
    467
    Việt Nam đang "nhập khẩu" lạm phát
    Thứ sáu, 22/2/2008, 07:26 GMT+7
    Chuyên gia IMF cho rằng, với chính sách hiện nay, Việt Nam đang nhập khẩu lạm phát từ bên ngoài. Việt Nam cần có một cách tiếp cận mới, linh hoạt hơn, thích ứng với biến động thị trường để cuối 2008 lạm phát có thể trở về một con số.

    Việt Nam có thể đối mặt với cơn bão giá

    Không chỉ trăn trở trước thực trạng lạm phát hai con số, điều khiến các chuyên gia lo ngại về lạm phát ở Việt Nam chính là con số lạm phát cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực, dù cùng chịu những tác động bên ngoài như nhau. Cụ thể, mức trung bình các nước đang phát triển là thành viên của ADB là 3,4% năm 2005 và 3,3% năm 2006.

    Theo chuyên gia IMF Bennedict Bingham, tình trạng chưa tiến xa đến mức không thể kiểm soát nhưng lạm phát ở mức 10% là con số cần phải được tính toán, cân nhắc và xem xét cẩn thận. Nếu xu hướng này tiếp tục kéo dài, Việt Nam có nguy cơ đối mặt với cơn bão giá, rất khó thích ứng.

    Nếu Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước tiến hành các hoạt động điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái và lãi suất, đầu tư vào lĩnh vực công, lạm phát sẽ giữ ở mức ổn định như hiện nay. Các chuyên gia hy vọng lạm phát của Việt Nam sẽ quay trở lại 1 con số vào cuối năm 2008.



    Mức tăng cung tiền của Việt Nam lớn hơn rất nhiều so với các nước khác trong khu vực


    Lạm phát kỉ lục, người nghèo dễ bị tổn thương

    Truy tìm nguyên nhân của tình trạng tăng giá, có thể thấy đó là sản phẩm của sự kết hợp các nhân tố bên ngoài cùng với những cú sốc cung khu vực và trong nước, phản ánh một dấu hiệu của sự tăng trưởng nóng trong nền kinh tế. Sự phát triển với tốc độ cao làm tăng tiêu dùng và nhu cầu đầu tư công trong nước là một nhân tố đẩy mạnh lạm phát bên cạnh ảnh hưởng của nhân tố bên ngoài như sự tăng giá hàng hóa quốc tế và yếu tố sốc cung trong khu vực như các bệnh dịch, thiên tai...

    Cách đây vài năm, năm 2004, Việt Nam cũng đặt trong chỉ số lạm phát của Việt Nam ở mức 9,4%. Tuy nhiên, so với thời điểm đó, tình hình lạm phát năm nay có nhiều điểm khác.

    Một là, đồng USD bị mất giá trên toàn cầu, đòi hỏi có những tính toán, cân nhắc về việc có nên tiếp tục cố định tỷ giá tiền đồng so với tiền USD không.

    Hai là dòng vốn từ nước ngoài đổ vào Việt Nam nhiều hơn rất nhiều so với trước. Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò điều tiết buộc phải đóng vai trò người mua ngoại tệ cuối cùng và đưa thêm tiền đồng vào lưu thông. Tốc độ tăng cung tiền của Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực, đặc biệt mức chênh lệch giữa tăng trưởng GDP và tăng cung tiền của Việt Nam dãn rộng trong 3 năm qua.

    Đối với một nước dân số đông và tăng nhanh như Việt Nam, số người nghèo có thể tăng lên cùng với lạm phát. Ứng phó trước tình trạng này, chỉ một bộ phận người Việt có thể đầu tư vào lĩnh vực tài chính, bảo vệ chính mình. Người nghèo không có được công cụ bảo vệ đó. Họ phụ thuộc vào thu nhập hằng ngày. Họ có thể bị đói trong "cuộc đua" mua hàng hóa trong cơn lạm phát. Họ không có nơi nào để đi nhằm được bảo vệ, chuyên gia IMF Benedict Bingham phân tích.

    Trước đó, ADB từng khuyến cáo, ảnh hưởng lạm phát sẽ giảm sức mua của người nghèo và làm tăng bất bình đẳng về thu nhập, có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng. Khi lạm phát vượt qua ngưỡng nhất định thì nó sẽ làm ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của nền kinh tế.

    Việt Nam đang nhập khẩu lạm phát


    Quản lý kinh tế vĩ mô một cách thận trọng là then chốt để phát triển kinh tế bền vững... Với những nước như Việt Nam, kiểm soát áp lực lạm phát không phải dễ vì có nhiều nhân tố nằm ngoài khả năng kiềm chế của Việt Nam. - Chủ tịch Ngân hàng Phát triển Á châu ADB Haruhiko Kuroda nói.


    Nhìn ra khu vực, cùng chịu tác động của cú sốc cung, của tăng giá hàng hóa nhưng tình trạng lạm phát của các nước rất thấp, ngay cả Trung Quốc có tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn nhiều so với Việt Nam.

    Chuyên gia IMF cho rằng, một trong những lí do tại sao lạm phát ở Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan thấp hơn Việt Nam nằm ở chính sách tỷ giá hối đoái.

    Việt Nam ràng buộc tỷ giá vào một điểm so với đồng USD trong khi đồng tiền này biến động trên thị trường tiền tệ toàn cầu. Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam đã nhập khẩu một phần ảnh hưởng lạm phát của việc đồng USD mất giá.

    Trong khi đó, các nước khác trong khu vực đã cho phép tỷ giá biến động phù hợp với những biến động của đồng USD trên thị trường. Đồng USD đã giảm giá 9% so với euro, 7% so với đồng yên. Điều này đồng nghĩa với giá hàng hóa trên thế giới tính theo tiền USD tăng rất nhanh. Phản ứng của các nước này giúp cho giá hàng hóa không bị tăng theo sự mất giá của đồng USD, xóa đi một số tác động xấu đối với nền kinh tế.

    Cần cách tiếp cận mới với lạm phát Việt Nam

    Các chuyên gia khuyến nghị, để kiểm soát và từng bước làm giảm tình trạng lạm phát, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần thực hiện sớm điều chỉnh trong chính sách tỷ giá hối đoái và trong chính sách tiền tệ.

    Đối với chính sách tiền tệ, cần có sự thay đổi trong hoạt động tiền tệ, để quản lí lãi suất có khả năng phản ứng tốt hơn. Nó cũng đồng thời với sự điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái. Điều mà chúng tôi tư vấn Chính phủ cần xem xét là sự cần thiết phải linh hoạt hơn. Tỷ giá của tiền đồng so với USD cần có phản ứng nhanh hơn trước sự lên xuống của đồng USD. Không nên giữ tỷ giá hối đoái cố định bất chấp những áp lực của lên xuống giá ngoại tệ.

    Việt Nam cần phải để một số những áp lực bên ngoài được phản ánh trong tỷ giá hối đoái của tiền đồng như các nước láng giềng đã làm. Điều này sẽ tạo nên hai tác động, làm giảm mức độ lạm phát, và giảm yêu cầu đối với Ngân hàng Nhà nước trong việc mua một lượng lớn tiền mặt, khiến mở rộng cung tiền.

    Cần có sự linh hoạt hơn trong tỷ giá hối đoái và lãi suất, nhờ đó Ngân hàng Nhà nước có thể phản ứng linh hoạt hơn. Nhờ đó, ngay cả khi thị trường có biến động, gây áp lực lên tỷ giá hối đoái, tỷ giá có một khoảng dịch chuyển phù hợp mà Ngân hàng Nhà nước không bắt buộc phải có sự can thiệp.

    Trên thực tế, có một khoảng trống giữa thực thi chính sách tiền tệ và tác động đối với lạm phát. Đối với Việt Nam, độ trễ của chính sách tiền tệ khoảng 15-18 tháng. Do đó, một chính sách đúng đắn và áp dụng sớm là đòi hỏi cấp thiết hiện nay đối với Chính phủ Việt Nam nói chung và Ngân hàng Nhà nước nói riêng.

    Theo Phương Loan
  6. futureprecedor

    futureprecedor Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 11, 2006
    Likes Received:
    467
    Ví dụ rõ nhất là VND lên giá thì giá xăng dầu NK tính theo VND cũng rẻ đi nhiều.
  7. huhu1220011

    huhu1220011 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 7, 2007
    Likes Received:
    0
    [​IMG]
  8. tranquyt

    tranquyt Thành viên gắn bó với f319.com Not Official

    Joined:
    Jun 18, 2006
    Likes Received:
    1,047
    quá hay!!!
  9. futureprecedor

    futureprecedor Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 11, 2006
    Likes Received:
    467
    Phải tạm thời hy sinh chú này.

    Tỷ giá, lãi ngân hàng đè nặng xuất khẩu

    Ông Phạm Thế Dũng, Vụ phó Xuất nhập khẩu nhận định chiều 14/3 ở TP HCM: "Thị trường giá cả biến động theo chiều hướng tăng cao, lạm phát chưa được kiềm chế đang tác động mạnh mẽ cản trở tốc độ tăng trưởng xuất khẩu".
    > Thắt mua USD, doanh nghiệp xuất khẩu chới với

    Tại giao ban xuất khẩu hai tháng đầu năm giữa Bộ Công thương với doanh nghiệp phía Nam chiều qua, ông Dũng cho rằng, chính những lực cản này đang khiến nhịp độ xuất khẩu của tháng 2 không chỉ chựng lại mà còn giảm so tháng 1.

    Trao đổi với đại diện Bộ Công thương, nhiều ý kiến doanh nghiệp cho rằng, thời gian qua, những quyết định của chính phủ về chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá không được thông báo rộng rãi, kịp thời. Hầu hết doanh nghiệp bị bất ngờ. Chỉ sau một đêm ngủ dậy là mọi thứ thay đổi: Ngân hàng không cho vay, lãi suất tăng chóng mặt, đồng đô la bán ra bị ép giá, bị thu phí.

    Doanh nghiệp cho rằng, mình có quyền được thông báo các chính sách kịp thời để tiên liệu tình hình trước khi quyết định ký kết hợp đồng với đối tác, tránh bị động.

    "Với áp lực tỷ giá đồng đô la, lãi suất ngân hàng như hiện nay, doanh nghiệp không còn cách nào khác phải giảm sản lượng, sa thải hoặc cho công nhân nghỉ luân phiên", đó là ý kiến của các đại diện công ty.


    Doanh nghiệp xuất khẩu đang chịu nhiều áp lực về chính sách tiền tệ khiến hoạt động kinh doanh bị ảnh hưởng. Ảnh: P.A.

    Ông Nguyễn Thái Học, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội điều VN cho rằng, các chính sách về tiền tệ, tín dụng là yếu tố tác động mạnh nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến ngành điều nói riêng và các ngành hàng khác nói chung trong thời gian qua. Tình hình này sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng nếu không có những thay đổi đáng kể.

    Theo ông Học, thời gian qua, chi phí nguyên vật liệu tăng 40%, cho lao động cũng tăng gần 40%. Doanh nghiệp đi vay ngân hàng với mức lãi suất có lúc lên đến 1,7%. Tổng chi phí giá thành so với cùng kỳ tăng 40%, trong khi giá bán sản phẩm chỉ tăng 25-26%. Ông Học nói, những lô hàng đã ký dài hạn, nếu chỉ tính riêng về giá thành đã phải chịu lỗ khoảng 15%. Cộng thêm thiệt hại khi tỷ giá USD đi xuống, doanh nghiệp không còn cách nào để xoay sở.

    Đại diện các hiệp hội hồ tiêu, lương thực thực phẩm cũng cho hay, hiện nay phải áp dụng đầu cơ hàng hóa, chờ giá cao mới bán ra thị trường. Có như vậy mới bù lại các khoản thâm hụt. Chủ tịch Hiệp hội hồ tiêu, ông Đỗ Hà Nam cho biết, các doanh nghiệp phải tìm kiếm những giải pháp khác như mua nội địa, bán nội địa để giảm thiểu tác động của tình hình giảm giá đồng đô la đang đè nặng.

    Đại diện của Hiệp hội thủy sản bộc bạch: "Đối với mặt hàng thủy hải sản thì thậm chí không thể áp dụng đầu cơ, mua dự trữ nguồn hàng". Vị này bày tỏ lo ngại giá nguyên liệu, thức ăn vật nuôi tăng cao, kéo theo giá thành cá tra tăng, doanh nghiệp không có tiền để mua vì vướng chính sách thắt chặt tiền tệ và lãi suất quá cao.

    Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Nam Việt Nguyễn Giang Nam cũng thừa nhận, không riêng doanh nghiệp xuất khẩu mà các ngân hàng trong thời gian qua cũng lâm vào thế bị động. "Áp dụng mua USD theo tỷ giá do Ngân hàng nhà nước quy định, ngân hàng thương mại chỉ còn cách cất USD vào kho. Nhà băng cũng không còn tiền để mua. Giao dịch khách hàng giảm sút trầm trọng ảnh hưởng đến hoạt động của Nam Việt", ông Nam nói.

    Vi Vi
  10. futureprecedor

    futureprecedor Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 11, 2006
    Likes Received:
    467
    Bù lại để hỗ trợ các cty xuất khẩu CP có thể :

    Cho vay ưu đãi
    Miễn, Giảm thuế doanh thu
    ...
    ...

Share This Page