FPT - mềm mãi mà không cứng

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi Dao_Duy_Anh, 30/08/2006.

225 người đang online, trong đó có 90 thành viên. 06:13 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 107523 lượt đọc và 855 bài trả lời
  1. Dao_Duy_Anh

    Dao_Duy_Anh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2005
    Đã được thích:
    1
    FPT - mềm mãi mà không cứng

    Vào năm 1997, tôi tham gia mạng TTVN của công ty FPT lập lúc bấy giờ. Và rất ngạc nhiên là các VIP của FPT lúc đó cũng tham gia mạng TTVN rất ác liệt. Và trong số đó, anh Nguyễn Thành Nam (mà hồi đầu tôi cứ tưởng anh là "Nữ Thành Nam"), hiện là Tổng Giám đốc FSoft có tham gia và viết rất khoẻ, viết nhiều bài và ở nhiều nơi.
    Trong số đó có một bài viết, có thể là một ký sự của anh về quá trình làm phần mềm ở FPT, và được anh đặt tên là "Lịch sử phần mềm FPT".

    Cho dù gần 10 năm đã trôi qua từ ngày anh Nam viết bài viết đó và đến năm 2004 (năm tôi có dịp làm ở FPT), anh có viết thêm một chút và đổi tựa đề thành FPT - Mềm mãi mà không cứng.
    Đến nay, FPT đã là 1 trong Top 20 Công ty hàng đầu Việt Nam, cổ phiếu FPT là 1 trong những cổ phiếu có giá trị nhất Việt Nam (gấp 12,7 lần mệnh giá tính đến thời điểm này)...

    Quả là thời gian đã làm thay đổi nhiều thứ. Để các bạn hiểu rõ hơn về lịch sử FPT (trước khi tôi đề cập đến FPT hiện tại), tôi đem bài viết này giới thiệu với mọi người, để cùng chia sẽ những đam mê cũng như khó khăn trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của FPT. Cho dù đa số câu chuyện đã rất cũ nhưng cũng có những điều vẫn còn rất mới.

    Tôi xin mạn phép anh Thành Nam (namnt@fpt.com.vn) đăng tải lại bài viết của anh để cùng chia sẻ với mọi người những kinh nghiệm và câu chuyện của anh.


    MỀM MÃI MÀ KHÔNG CỨNG ​
    (Nguyễn Thành Nam - FSoft)​

    Lời nói đầu​

    Mới đó mà đã hơn 8 năm, từ một nhóm nhỏ 12 chiến sĩ "không quần, không áo", FPT đã trở thành một cái tên không thể thiếu được trong các báo cáo về hiện trạng hay thực tại tin học Việt nam. Khó có thể nói được FPT bắt đầu như một công ty tin học. Tại thời điểm đó, đơn giản là phải làm một cái gì đó để bắt kịp với xu hướng đổi mới lúc đó đang manh nha thành hình. Và các anh Bình, Trung Hà, Hùng Râu... đã lập ra Công ty Công nghệ Thực phẩm FPT.
    [​IMG]

    Ngồi viết lại những dòng này tôi vẫn như thấy rõ ràng trước mặt cảnh Hùng Râu hai tay đầy sơn đang quùa quạng bôi lên những rọ sắt của toà nhà 224 Đội Cấn, và còn tự hào rằng mình đã phát minh ra công nghệ tiên tiến.

    Trong tất cả những người đã bắt đầu FPT, tôi giật mình nhận ra rằng mình là người duy nhất còn theo đuổi phần mềm. Tự nhiên thấy trách nhiệm hơn hẳn. Tôi không có ý định khoe khoang những thuật toán, công trình. Cũng chẳng có gì mà khoe. Đã có thời chúng ta quá tung hô những thuật toán, những công trình mà chẳng đếm xỉa đến ứng dụng của chúng cũng như cuộc sống của những ngời sáng tạo ra chúng. Đơn giản là chỉ muốn kể lại những gì mà bọn tôi đã phải trải qua để hôm nay có FPT và FSS. Sai, đúng tôi xin chịu phần trách nhiệm cá nhân. Các bạn trẻ có thể tin rằng đó thật sự là một cách nhìn của 8 năm lịch sử. Không quảng cáo. Đơn giản là nhớ đâu viết đấy, nói chung là không theo trình tự thời gian, mong các bạn trẻ thông cảm. Cũng phải nói trước, đây không phải là toàn bộ lịch sử phần mềm của FPT mà chỉ là những phần mà tôi được chứng kiến, trực tiếp tham dự và còn nhớ.


    Chương 1: Khởi đầu​

    Như bất cứ một công ty tham vọng khác, ngay từ khi thành lập FPT đã nung nấu mục tiêu trở thành những người khai phá cho công nghiệp phần mềm tại Việt nam. Để đạt được mục tiêu đó, anh Trương Gia Bình đã cất công mời những chuyên gia hàng đầu về phần mềm của Việt nam lúc đó.

    [​IMG]
    Anh Nguyễn Chí Công
    Chuyên gia nổi tiếng uyên bác về UNIX và Mạng, lãnh đạo phòng Tin học FPT. Anh Công dễ nhớ nhờ luôn đòi hỏi ở nhân viên hai việc:

    - Nhân viên mới đến làm việc phải quét nhà, pha nước, bưng bê.

    - Số lượng sách đọc được phải tính bằng cân.

    Chính theo sự hướng dẫn đặt hàng và chỉ đạo của anh, FPT đã lắp đặt thành công mạng cục bộ đầu tiên vào giữa năm 1989. Đó là mạng theo kiểu nocentric chạy hệ điều hành 10Net và là niềm tự hào của Viện Công nghệ Quốc gia thời đó.

    Nhắc đến anh Công, không thể không nhắc đến dự đoán của anh là năm 1993, nửa Việt nam sẽ dùng UNIX. Đã có lúc tưởng như đó là một dự báo buồn cười, nhưng thực tế cho thấy anh Công cũng có lý khi TCP/IP, hạt nhân của UNIX đang tràn ngập ở không những ở Việt nam mà cả thế giới. Và tất nhiên những chuyên gia về UNIX có nhiều ưu thế hơn trong cuộc mạng hóa đất nước.

    Anh Công là người đã cài đặt SCO Unix và terminal tại FPT cùng thời điểm đó. Sau đó một số chương trình chạy Foxbase cho UNIX đã được Trần Ngọc Trí phát triển.

    [​IMG]
    Anh Đỗ Cao Bảo

    Chuyên gia lập trình Pascal số 1 lúc đó. Chuyện kể rằng, có một tay Việt kiều tự xưng là chuyên gia hàng đầu đến xin hợp tác tại một cơ quan, khi trả lời không biết Đỗ Cao Bảo là ai đã bị từ chối thẳng thừng. Anh Bảo lúc đó đang là chủ chốt của nhóm lập trình nhận dạng chữ của Viện Tính toán và Điều khiển (Viện CNTT hiện nay).

    [​IMG]
    Anh Nguyễn Trung Hà
    Chuyên gia về Fortran của Viện Cơ học. Từ khi còn đi học ở Liên xô, anh đã nổi tiếng về tài nhìn trộm và phá khóa trong hệ điều hành của máy mini CM-4 của Nga. Tại Viện Cơ, công trình đáng kể của anh là thiết kế bộ thư viện đồ họa cho Fortran. Các chương trình Fortran vẽ được đồ thị tại thời điểm đó cũng gây ấn tượng không kém gì Emotion của Nguyễn Minh bây giờ.

    [​IMG]
    Anh Bùi Quang Ngọc
    Lúc đó là người có bằng cấp cao nhất về Tin học chính cống, một ngôi sao trẻ đầy hứa hẹn của nền Giáo dục và Đào tạo Tin học Việt nam. Lúc đó anh Ngọc đang là Phó khoa Tin học của Đại học Bách khoa Hà nội, không thiếu tham vọng lên Bộ trưởng.

    [​IMG]
    Anh Võ Mai
    Chuyên viên của Viện Vũ Khí, đã từng tham gia thiết kế hệ thống bỏ phiếu cho quốc hội Việt nam. Anh là chuyên gia về Assembler. Anh cũng là người đầu tiên lập trình truyền tin cho UNIX tại FPT

    [​IMG]
    Anh Nguyễn Thành Nam
    Người viết những dòng này khi đó như một con cừu non giữa bầy sói. Hồi đó, mặc dù chưa thành lập, nhưng Trung tâm dịch vụ Tin học (ISC) của FPT đã được bác Vũ Đình Cự tin cậy gọi lên giao phó nhiệm vụ chế tạo siêu máy tính. Và kỳ lạ thay, anh Công đã nhận lời. Tối về trong căn phòng chật hẹp của vợ chồng Trung Hà tại Hàng Bông, anh Công họp cả hội lại triển khai làm siêu máy tính. Vì mọi người chưa quen biết nhau, nên phải tự giới thiệu. Anh Bảo tự nhận là siêu nhân về Pascal, Trung Hà điêu luyện về Fortran, anh Mai demo assembler liên tục. Còn mỗi anh Nam ngồi im chẳng nói gì. Khi anh Công ép: "Thế mày biết ngôn ngữ gì?", anh bẽn lẽn nhận là có biết tiếng Việt và tiếng Nga!!!

    Năm 1988, nói chung khi nói đến Tin học, ai cũng nghĩ là sẽ làm phần mềm. Một không khí sáng tạo hừng hực khắp nơi. Viện tính toán điều khiển có các chương trình nhận dạng và trí tuệ nhân tạo, AIC có CAMAP miêu tả các lục địa trôi trong tiếng nhạc véo von, Tô Thành (ĐHBK) có chương trình hoa thơm **** lượn,.... Tiếc thay trào lưu đó đã không được nâng đỡ nên đã bị xu hướng mua đi bán lại đánh bại dễ dàng. Nhiệm vụ phát hiện ra Bill Gate Việt nam đành bị lùi lại cho lớp đàn em những thế hệ sau. Thật tiếc thay.

    Thật tình mà nói buổi ban đầu chẳng ai giao cho chúng tôi việc gì ngoài việc chế tạo siêu máy tính, do đó tha hồ mà thử mà mày mò. Cả hội chỉ có một máy tính XT Foremost (máy này hiện nay vẫn còn ở nhà 224 Đội Cấn) và một máy ổn áp Đức mỗi khi có khách tham quan lại bốc khói mù mịt.

    Ngồi chán anh Bảo quyết định chuyển toàn bộ các mã nguồn của chương trình nhận dạng sang Turbo C, một quyết định mà bây giờ mới hiểu hết tính đúng đắn của nó. Như trên đã nói, tôi chỉ biết tiếng Việt và tiếng Nga, do đó thấy các đàn anh làm gì đều ra sức học hỏi. Chương trình đầu tiên mà tôi làm được cũng khá gây ấn tượng. Đó là việc dùng debug để đổi hết các message trong command.com sang tiếng Việt. Trong máy tính của FPT lúc đó khi bạn gõ một lệnh không tồn tại, máy sẽ trả lời: "Lam quai gi co file nay". Khó nhất là đổi câu hỏi: "Y/N" sang "C/K?.

    Đến bây giờ đôi khi tôi vẫn nghĩ mình là một người lập trình giỏi, (Mặc dù thực tế còn xa mới như vậy. Đơn cử là hồi đó anh Bảo có hướng dẫn tôi làm 1 chương trình kiểu Star Field Screen Saver cho NC. Chương trình của anh Bảo thì sao nở rất đều bất luận chạy trên máy nào AT hay XT. Chương trình của tôi chỉ chạy được trên AT, còn trên XT bầu trời sao trông cứ như một đám hắc lào vậy )

    Tôi thì tôi biết tại sao. Bí quyết chính là phải may mắn rơi vào mắt xanh của 1 người nổi tiếng, rồi sau đó ra đi đúng lúc. Tất nhiên được một vĩ nhân chú ý thường là rất khó khăn. Có một con đường dễ hơn nhưng không chắc chắn bằng là demo cho thằng bạn của mình. Sau đó nếu nó nổi tiếng thể nào mình cũng có lợi. Đó là trường hợp của tôi với Trung Hà. Hôm đó 2 đứa được phân đi gõ tài liệu vào máy tính cho một cuộc hội thảo quan trọng giữa Viện Hàn lâm khoa học Nga và Việt nam. Trung Hà gõ tiếng Nga rất siêu bằng một chương trình soạn thảo gọi là Beta, các bác chưa kịp phát biểu dứt lời hắn đã gõ xong rồi. Cuối buổi, anh Đạo (cha nuôi của FPT, lúc đó là Viện trưởng Viện Cơ) đề nghị in hộ ra thật đẹp. Anh em luống cuống, vì máy laser hồi đó rất khó kiếm, fonts chữ Nga cho nó còn khó hơn. May quá Mr. Thế thông báo Viện TTĐK (Tính toán và Điều khiển) có máy in và fonts. Sẵn trong máy có Turbo C 1.0, tôi viết ngay một chương trình để chuyển mã từ beta sang bộ font máy in. Cả hội phi gấp sang Đồi Thông. Đến nơi mới biết là họ không có font hiển thị, trên màn hình là một mớ giun dế loằng ngoằng. Anh em bụng bảo dạ thế này thì chỉnh sửa bằng tay biết bao giờ mới xong. Kỳ lạ và may mắn thay, in ra lại đúng phóc không sai sót gì.

    Mr. Thế cũng là một tay rất gây ấn tượng cho tôi về khả năng làm việc và sự hiểu biết về máy PC lúc đó. Sau này tôi có gặp lại anh và được biết anh đang thực hiện một chương trình rất hấp dẫn về thiết kế mẫu thảm đay cho Nhà máy nào đó. Hiện tại không biết anh đang ở đâu.

    Việc ấy rồi cũng qua đi, cho đến một hôm anh Việt tròn, vốn là thầy của tôi về máy tính khi làm luận án ở Nga, bỗng dưng cứ năn nỉ dạy cho lập trình. Tôi ngạc nhiên cho đến tận lúc anh bảo: "Thôi đi, thằng Hà nó đã phải khen mày cơ mà".

    Tóm lại, tôi có mấy cái may: Thứ nhất là anh Bảo đi công tác vắng nên tôi đi với Trung Hà. Thứ hai là Trung Hà không thạo C, Thứ ba là Trung Hà lại quen với Việt tròn và cuối cùng không hiểu sao cả hai tay này đều trở nên nổi tiếng.

    Sau một thời gian chẳng thấy siêu máy tính tiến triển gì cả, Trung Hà thường bỏ đi giúp các anh Kỳ, Tiến trong việc bán máy tính đổi hàng cho Viện Hàn lâm Nga. Về chuyện này, anh Tiến cũng thường tâm sự trong các buổi nói chuyện. Trong các chuyện của anh đáng nhớ nhất là chuyện về Đức béo (hiện Giám đốc Trung tâm Bảo hành FPT). Đức béo hồi đó chưa làm cho FPT. Anh và Đinh Thế Lam (hiện Giám đốc của Thiên nam tin học) làm thành một cặp rất ăn ý để kiếm thêm. Chúng thường hoạt động trong lĩnh vực tiếng Việt. Chiếc máy tính đầu tiên của FPT cũng do bọn chúng cài tiếng Việt. Gây ấn tượng nhất là có một cái công tắc, bật một cái là màn hình chuyển sang tiếng Việt, cái nữa là tiếng Nga, cái nữa là tiếng Anh. Thật là thuận tiện, hơn hẳn các kiểu Shift phải trái vớ vẩn của ABC và VNI bây giờ. Trong trí tưởng tượng của anh Trương Gia Bình lúc đó, cặp này cũng ngang với khu công nghệ cao bây giờ. Đó là nói tại sao Đức béo được anh Tiến nhắc đến. Anh Tiến nói: "Khi đó FPT bán máy Olivetti sang Nga bị hư hỏng nhiều, phải mời chuyên gia Đức sang giúp đỡ. Hôm đó thấy Đức bệ vệ đến, mấy chú Tây hì hụi bê máy ra. Chẳng thấy ông Đức chữa gì chỉ thấy hai tay đút túi quần, đi đi lại lại, bắt các chú Tây xoay ngang xoay dọc, đập đập vào máy tính, rồi lại bắt mang vào. Thế mà cái máy lại tự nhiên chạy. Tây phục lắm, còn anh em ta thì ngạc nhiên. Đến lúc lên xe về mới vỡ lẽ là hôm đó thế nào mà cúc quần của anh lại đứt mất, thắt lưng lại không có do đó hai tay anh cứ phải đút trong túi quần để giữ cho nó khỏi tụt xuống. Anh em vẫn gạn hỏi, sao mày biết hỏng chỗ nào mà bảo nó vỗ tài thế. Anh thú nhận: "Biết đ. đâu, mình cứ phán bừa đấy chứ"
  2. Dao_Duy_Anh

    Dao_Duy_Anh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2005
    Đã được thích:
    1
    Chương 2: Demo​

    Xu hướng demo là xu hướng dominate trong các sản phẩm phần mềm của Việt nam. Người demo công nghệ, kẻ demo thuật toán, có công ty thì chỉ đơn giản là demo người. FPT cũng không tránh khỏi trào lưu đó. ***** của các sản phẩm demo (ngày nay người ta còn hay gọi là presentation & presenter) là anh Đỗ Cao Bảo tức BảoDC@fpt ngày nay.

    Vào năm 1989, các loại chương trình như PowerPoint, ScreenCam còn chưa tồn tại. Tuy nhiên IBM có một chương trình tương tự rất độc đáo, gọi là StoryBoard. Chương trình này có nhiều điểm hay mà cho đến nay các chương trình tiên tiến kể trên vẫn không có, tỉ dụ như khả năng định nghĩa một màn hình ảo trong một phần bất kỳ của màn hình máy tính, và cho các chữ, hình chỉ thể hiện trong đó. Anh Bảo là người đầu tiên thiết kế bộ chữ tiếng Việt cho StoryBoard. Các màn trình diễn độc đáo do anh Bảo thiết kế lúc đó thường là quả đấm thép của Công ty trong việc đi ký các hợp đồng. Hơn thế nữa chúng còn được dùng cho các mục đích khoa học và ngoại giao. Thông thường là màn hình được mở ra với hai bàn tay đang nắm chặt và dòng chữ chạy: "Hoan hô đồng chí ...". Trong các đồng chí được hoan hô phải kể đến các Ông Đồng Sĩ Nguyên, bộ trưởng GTVT, Ông Vũ Đình Cự, Viện trưởng Viện công nghệ, Giáo sư thủy lực Obermayer của Viện Max Plank-Đức, Ông Trần Lâm, Tổng Giám đốc THVN,... nhiều khôn xiết. Tiếp theo là từng đoàn ô tô, máy tính và các kiểu chữ uốn lượn, cụp xòe miêu tả các hoạt động của FPT liên quan đến vụ việc. Kết thúc thường là một cành đào, hoặc một bức tranh phong cảnh.

    Tôi còn nhớ lúc đầu, khi chưa làm được bộ font tiếng Việt, anh Bảo đã bỏ công ra viết hẳn 1 chương trình tương tự như StoryBoard. Không hiểu có bạn trẻ nào bây giờ có ý tưởng viết lại PowerPoint chỉ vì nó chạy chậm quá không?!

    Chương trình demo nổi tiếng thứ hai của FPT mà anh Bảo lại là nhân vật chính là chương trình "Đèn đường". Số là hồi đó (1989) AIC có một chương trình rất nổi tiếng gọi là CAMAP. Khi chạy, bản đồ năm châu bốn biển hiện lên và trôi dạt theo điệu nhạc rất du dương. Khi kích chuột vào các vị trí trên bản đồ ta có thể thu nhận được những thông tin về khu vực đó. Phải nói rằng AIC vào quãng năm 1989-1992 là một Công ty rất tập trung vào công nghệ phần mềm, đặc biệt là đồ họa và cũng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Họ còn được mời sang tận Pari để thực hiện một hợp đồng cho kinh thành ánh sáng. Tôi thỉnh thoảng cũng mò sang chỗ họ chơi và rất lấy làm khâm phục khi thấy anh Phạm Tiến Dũng có trong tay đến hơn 20 cô thiếu nữ xinh đẹp ngày đêm di digitize, vào số liệu bản đồ thành phố Pari. Không hiểu vì sao về sau không còn thấy nhắc đến AIC nữa.

    FPT, cụ thể là anh Bảo, cũng không phải là tay vừa. Vừa may, lúc đó có Mr. Nguyễn Viết Tuyển giám đốc Xí nghiệp đèn đường Hà nội đến để đặt vấn đề làm chương trình quản lý hệ thống chiếu sáng công cộng của Hà nội. Lúc đó FPT chẳng có ai thành thạo về Fox cả, nên chỉ có một ý tưởng là làm kiểu GIS. Ban chuẩn bị đề án được cấp tốc thành lập gồm có anh Công chủ trì, anh Bảo lo phần vẽ và xử lý bản đồ, tôi lo phần quản trị và thể hiện các đèn sáng-tối, anh Ngọc lo phần âm nhạc. Chương trình được hoàn thành trong hai tuần, mở đầu bằng cảnh bản đồ Hà nội trôi trong tiếng nhạc "Trùng trùng quân đi như sóng ...". Tiếp đến là sơ đồ nối các bốt đèn gọi là mạch vòng, các đường phố,... Tóm lại rất ấn tượng. Tiếc rằng khi đến trình bày cho Xí nghiệp, anh Công lại chỉ ra quá rõ sự yếu kém về chuẩn bị của đội bạn, do đó đội bạn sợ chạy mất. Giả sử lúc đó chúng tôi có đôi chút kinh nghiệm về thương mại hay láu cá hơn một chút thì có lẽ sự phát triển phần mềm của FPT đã đổi sang hướng khác và biết đâu ngày hôm nay nước Việt nam đã có một Bill Gates ?!

    Tuy nhiên chương trình "Đèn đường" - 4D thực sự đã có một tác dụng demo tích cực và được chạy đi chạy lại hàng trăm lần cho các quan khách khắp nơi xem. Cũng có thể coi 4D là sản phẩm Multimedia đầu tiên của FPT.

    Mr. Nguyễn Viết Tuyển quả là người có tầm nhìn xa trông rộng. Tất cả những kiến thức sơ đẳng về GIS mà chúng tôi học được hồi đấy giờ đây vẫn tỏ ra còn có tác dụng. Tiện đây cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới anh cùng gia quyến.

    Nếu tôi không nhầm, chương trình vẫn còn được lưu trữ trong server FPT_SS. Thiết tưởng các nhóm GIS và Multimedia khắp nơi của FPT cũng nên ngó qua tí chút cho các bậc đàn anh được mát lòng thỏa dạ.
    [​IMG]
    Tiêu biểu cho trường phái lập trình lãng mạn của FPT là chương trình "Flight Simulation" - "Mô phỏng bay". Cuối năm 1992, anh Tô Dũng, PTS Hàng không Kiev về, đã tìm đến Thành Nam đặt vấn đề: "Xí nghiệp sửa chữa máy bay A76 quyết định trình lên chính phủ duyệt đề án xây dựng cabin tập lái máy bay TU134, do đó A76 muốn tìm các cộng sự mạnh về tin học, toán và điều khiển". Không một chút do dự, FPT nhận lời ngay. Cùng tham gia dự án còn có các nhóm chế tạo đầu đo của Viện Vật lý, nghiên cứu tên lửa của Không quân, AIC.

    Bài toán khá phức tạp, đòi hỏi phải thể hiện được sự thay đổi của không gian 3 chiều xung quanh người lái dựa trên các tham số đầu vào đo được như độ cao, tốc độ, hướng gió, hướng bay, vị trí bay,.... dự tính sẽ chi 400.000 USD, một con số khổng lồ đối với thời bấy giờ và có lẽ đối với mọi thời đại.

    Để được tham gia chính thức vào đề án, FPT phải làm một chương trình demo và dự án. Nam, Bảo, Hữu được giao lo chuẩn bị. Dự án có 3 phần, anh Hữu viết về các phương trình khí động học, anh Bảo viết về việc thể hiện những cảnh 3 chiều. Nam lo phần thiết kế mạng và các máy tính. Đối với tôi, đó quả là một nhiệm vụ hết sức nặng nề bởi vì chúng tôi hiểu rằng phải đưa các trạm làm việc (WorkStation) đồ họa vào mạng, mà tại thời điểm đó lại không có một tí thông tin nào về chúng cả. Nghe người ta mách, tôi mò lên Trung tâm Thông tin Khoa học của UBKHKT (ngay đối diện với FPT 25 Lý Thường Kiệt cũ). ở đấy quả là có một lô các đĩa CD với đầy đủ thông tin về máy tính. Sau một hồi tán phét, anh Nguyễn Khắc Sơn, giám đốc Trung tâm đã cho tôi ngồi để chọn ra tất cả các thông tin có chữ "WorkStation". Nhờ thế trong bản dự án lúc đó, FPT mới có thể chào được cả máy SunSpac và RS/6000. Nói thêm đôi chút về anh Sơn. Anh luôn băn khoăn tìm cách sử dụng kho thông tin vô giá trong tay. Vừa có lợi cho xã hội, tập thể và bản thân. Vậy mà không được. Lúc đó anh nổi tiếng hơn về cung cấp các bộ font tiếng Việt cho Ventura, PageMaker. Theo như anh khẳng định, đa số các loại fonts tiếng Việt khác đều có nguồn gốc từ anh. Sau đó tôi được biết Sở Khoa học & Công nghệ & Môi trường Tp HCM chổ anh Nguyễn Trọng đã triệt để thương mại hóa được nguồn thông tin tương tự.

    Lại nói về phần demo của chương trình, theo thiết kế chung sẽ có 2 modules chạy trên hai máy khác nhau. Một để tính toán ra các thông số về tốc độ và độ cao dựa trên các phương trình khí động học lúc máy bay cất cánh. Các thông số tính được sẽ được truyền qua cổng COM sang máy thứ hai chạy chương trình mô phỏng visual cảnh máy bay cất cánh. Chương trình tính toán do anh Lê Quốc Hữu chịu trách nhiệm, vì phải tính toán nhiều nên được ưu tiên chạy trên chiếc máy 486 duy nhất lúc đó: NipponTech. (Máy này hiện vẫn còn trong danh sách tài sản cố định của FPT. Xuất xứ của nó khá buồn cười: hồi đó FPT muốn kinh doanh máy ĐNA, tìm được một hãng cung cấp cực củ chuối, thậm chí còn đồng ý cho mình đặt mark máy luôn, nhãn hiệu NipponTech là do Trung Hà đưa ra làm người ta dễ nghĩ rằng đây là một loại máy cao cấp do Nhật sản xuất).

    Chương trình truyền/hứng dữ liệu qua cổng COM do Phan Minh Tâm viết. Chương trình máy bay cất cánh do Đỗ Cao Bảo viết cũng thấy đường băng chạy giật lùi và máy bay ngóc đầu lên trời mây. Kỳ lạ thay là cả hệ thống phức tạp như vậy đã hoạt động. Hôm bảo vệ đề án, quân ta đã dùng máy chiếu chiếu lên tường toàn bộ cảnh tính toán và máy bay cất cánh, rất gây ấn tượng. Tiếc rằng sau đó đề án không được lãnh đạo Hàng không phê duyệt. Chẳng hiểu tại sao, có lẽ tại Việt nam đang muốn vứt TU134 đi. Giá dụ như mà chúng tôi mạnh dạn theo phương hướng đổi mới của Đảng và nhà nước mà đặt béng tên đề án là "Buồng lái Boeing 767", thì không khéo đã được chấp nhận.



    Được Dao_Duy_Anh sửa chữa / chuyển vào 13:52 ngày 30/08/2006
  3. Dao_Duy_Anh

    Dao_Duy_Anh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2005
    Đã được thích:
    1
    Lễ hội 1993

    Năm 1993 là năm quan trọng với tôi, cũng là năm FPT kỷ niệm 5 năm ngày thành lập. Cho đến bây giờ tôi vẫn thấy rằng đó là một năm thành công nhất với FPT cả về kinh doanh, công nghệ, văn hóa cũng như SờTiCô.

    [​IMG]

    Sở dĩ quan trọng đối với tôi vì năm đó tôi được đi nước ngoài. Tôi được cử đi Hong Kong học về PB (Platform for Banking) của Olivetti. Đây là lần đầu tiên FPT cử một cán bộ kỹ thuật đi học không nhằm mục đích kinh doanh trực tiếp gì cả. Có thể coi đó như một cam kết của công ty với công nghệ. Mặc dù trước đó đã học hơn 8 năm ở Nga, và cũng đã đi khá nhiều nước như Bun, Ru, Tiệp, Hung, Đức song Hong Kong là nước tư bản đầu tiên mà tôi đặt chân đến.

    Theo dự định có 2 người đi là tôi và Hùng xoăn. Tuy nhiên khi đội bạn gửi chương trình sang thì thấy toàn học phần mềm nên Hùng xoăn phải ở lại. Hình như lúc đó anh cũng hơi buồn. 20 ngày ở HongKong một mình thật là đáng nhớ. Bài học đầu tiên mà tôi rút ra được là mọi thứ cũng không đến nỗi đắt như mình nghĩ. Sau khi đi xe buýt đến tận khách sạn, phát hiện ra khách sạn quá sang (sau khi xài thử video đen) tôi vội vàng gọi điện nhờ anh Thăng hiện là giám đốc Đồng Nam tìm cho chỗ ở khác rẻ hơn. Hiếm thấy anh Việt kiều nào nhiệt tình như anh Thăng. Mặc dù trước đó không hề quen biết tôi và hết sức bận bịu, anh đã tận tình giúp tôi trong việc ổn định chỗ ăn ở. Anh có mời tôi đến nhà chơi, lấy thuyền đưa tôi đi thăm cảnh chèo thuyền truyền thống ở Discovery Bay . Bây giờ anh vẫn là người bạn tốt của FPT.

    Học trên lớp được 3 ngày, tôi đã cảm thấy chán. Mặc dù PB là một môi trường rất hấp dẫn và hứa hẹn, nhưng cách dạy của Tây rất chậm. Tốt hơn hết là copy hết tài liệu mang về mò sau. Sau một tuần tôi quyết định không tham gia tiếp khóa sau mà nhờ Angelo Canepa (hiện là giám đốc Olivetti Việt nam) giới thiệu cho cấu trúc và các bộ phận của Olivetti Hong Kong. Sau đó tôi tìm cách đi đến các Công ty như Microsoft, Novell, Sun,... những tên tuổi lẫy lừng của công nghệ thông tin thế giới mà lúc đó ở Việt nam vẫn chưa có dấu vết. Đến Hong Kong, tất nhiên không thể không đến Golden Center, trung tâm mua bán các thiết bị vi tính và phần mềm sao lậu. Bây giờ tôi vẫn nhớ cảm giác như mình lạc vào thiên đường vậy, thấy cái gì cũng quý. Chỉ nhớ lúc về xách cho anh Đức bảo hành hai thùng đủ các loại cable, board và copy hàng trăm đĩa mềm khác nhau. Sau này tôi còn ghé lại Golden Centre nhiều lần nữa, nhưng chẳng bao giờ thu hoạch được như lần đầu.

    Sau hơn 1 tuần đấu tranh tư tưởng, tôi đã quyết định mua một bộ Multimedia đầy đủ của Creative: Sound Blaster và Video Blaster gồm đủ cả Video-in và Video-out, giá chính xác là 995 USD. Cũng được các xếp khuyến khích vì năm đó là năm kỷ niệm lần thứ Năm thành lập Công ty. BGĐ quyết định sẽ tổ chức đại lễ hội cực kỳ ầm ĩ. Để góp vui ISC và STC quyết định sẽ liên doanh để cống hiến một chương trình Super Multimedia đặc biệt.

    Nhóm Hùng xoăn và Đức béo được giao nhiệm vụ thiết kế một hệ thống tương tự như truyền hình cáp trong khuôn viên phòng họp lớn của Khu biệt thự Hồ Tây. Mục tiêu là để replicate lại chương trình trên nhiều màn hình. Sau một hồi thử nghiệm, thất bại chán chê, bọn chúng quyết định nhờ anh Võ Mai (lúc đó đang ở Singapore) mua 4 bộ Commandor là thiết bị Multidisplay có thể nhân hình ra nhiều màn hình. Tất cả các TV của cán bộ FPT ở khu Thủ lệ đều bị trưng dụng.

    Nội dung chương trình được giao cho tôi và anh Bảo. Lại một lần nữa anh Bảo thể hiện là một chuyên gia lập trình xuất sắc, bất kể ngôn ngữ nào. Hồi đó, trong bộ Video for Windows của Creative có một chương trình thương mại là Action, không hiểu thế nào hỏng béng đĩa setup, tìm mua cuống cả lên không thấy. Anh Bảo quyết định dùng một chương trình khác có tên là Tempra cũng đi kèm nhưng là miễn phí. Đó là một kiểu ngôn ngữ lập trình đơn giản cho phép người dùng có thể điều khiển các ob jects multimedia như bài hát, âm thanh, ảnh và băng video. Phải thừa nhận là tuy có khó sử dụng nhưng Tempra rất giàu về tính năng và mềm dẻo. Và anh Bảo đã nhanh chóng thành thạo.

    Để có nguồn dữ liệu chế biến, anh Bảo xách máy quay video (của anh Bình) đi quay lung tung: khách hàng, công ty, các hoạt động STC. FPT cũng đã có sẵn một số băng. Chúng tôi cũng phát minh ra một phương án đưa các bức ảnh lịch sử vào máy tính mà không cần scaner màu: kê một cái bệ thật chắc cho camera (cho nó khỏi rung), dí ảnh cần lưu vào. Sau đó play băng đó trên máy tính và capture ảnh. Tuy có vất vả một chút nhưng vẫn đưa được hầu hết các cảnh lịch sử vào máy tính. Chẳng hạn như chiếc xe máy nổi tiếng của Hùng râu có cuộn dây trong hộp đèn pha. Chỉ có điều là những ảnh đó có palette màu đối lập với Windows nên khi show nó, những thứ xung quanh có màu không giống cũ nữa. Nguồn âm thanh rất đơn giản, về nhạc có bạn Hưng đỉnh, trong nhóm Hoa sữa vác Organ đến và ghi lại tất cả các bài hát truyền thống của STC. Về lời, Mr. Bảo ra sức luyện giọng để đọc lời bình, song câu "Vỗ tay..." với âm lượng kéo dài the thé có dáng dấp của một Công Công là thành tựu nhất. Lại còn thuê cả một hội vỗ tay rào rạt để chêm vào trong những chỗ quan trọng. Khẩu hiệu "Vỗ tay..." nổi tiếng của anh Bảo được phát kiến chính trong dịp này. Sau khi đã hoàn tất các phụ kiện, chúng tôi ngồi lắp ghép. Đầu tiên cũng định play ra màn hình và ghi hết vào một băng. Sau đó phát hiện ra rằng, ngay cả với cái đầu ghi hiện đại nhất của anh Ngọc, cũng không có cách nào ghép các băng lại thành một băng duy nhất mà không bị ngắt đoạn ở giữa. Đành quyết định ghép nối bằng tay tại sàn diễn. Anh Bảo lập tức dựng lên một menu để nhắc nhở tôi là người điều khiển khi nào phải ấn cái gì. Kịch bản được dàn dựng khá công phu, theo đó thì các cảnh video và nhạc nền sẽ thay đổi liên tục để khớp với bài phát biểu tổ hợp của anh Bình, Tiến, Ngọc, Trản

    Cuối cùng thì cũng đến ngày công diễn. Hội trường này trước đó chỉ dành cho các cuộc họp của TW Đảng. Thật là một cảnh ấn tượng. Các đại biểu (kể cả quân ta) được tiếp đón từ dưới thềm, hoa cài ngực. Mỗi bộ phận được phân một góc khoe khoang những thành tựu của mình. Góc Sotico đông như kiến cỏ vì là nơi trưng bày tờ báo ảnh nổi tiếng do Tú Huyền và Khánh hói làm tổng biên tập (hiện không hiểu tờ báo này lưu lạc ở đâu?) Tuy nhiên nếu bạn muốn xem đầy đủ thì có thể xem lại bức ảnh chụp lại trong Album của STC, còn nguyên bản đã bị chú Đào Vinh xóa mất bức ảnh gây ấn tượng nhất.
    Cả một hội trường rộng lớn bày la liệt các màn hình máy tính và TV thể hiện cảnh sông Đà hùng vĩ (đề án Thủy điện) trong tiếng nhạc "Đoàn FPT". Được một lúc thì có sự trục trặc, đúng lúc anh Bình đang hùng hồn cao giọng thì tôi lại ấn nhầm vào nút vỗ tay, tiếng vỗ tay trong máy được phóng to nghe cũng rất ấn tượng. Quan khách ngơ ngác, rồi cũng theo đà vỗ tay ầm ĩ. Luống cuống tôi lại bồi thêm nhạc bài "Công ty sáng tác". Từ đó trở đi ảnh, hình một nơi, nhạc một nơi, người phát biểu một nơi, không còn khớp với nhau như kịch bản nữa. Tuy nhiên sau đó mọi người đều có nhận xét: "như thế FPT hơn". Đó là câu nhận xét mà tôi rất tâm đắc và thường xuyên đem ra kiểm nghiệm mỗi khi có dịp.

    Toàn bộ hệ thống demo đó về sau còn được trưng bày tại trụ sở ISC ở 146 Nguyễn Thái Học, đặc biệt là được đem sử dụng trong dịp khai trương Ngân hàng Chinfon (lúc đó gọi là Cathay Trust), ông khách sộp của SIBA. Về sau chỉ còn mỗi Cù Huy Minh Tuấn là nhớ cách chạy demo. Sau mấy lần chuyển qua chuyển lại, giờ không thấy đâu nữa. Thật đáng tiếc cho một sự nghiệp khởi đầu hứa hẹn nhưng đã nhanh chóng mai một, để bây giờ Hùng Râu không kiếm đâu ra người lập trình Multimedia cho các trường phổ thông.

    Lễ hội năm 1993 thực sự là một ngày hội vĩ đại. Ngoài việc kích thích công nghệ multimedia phát triển, còn phải kể đến cuộc đua xe đạp xuyên Hà nội do Hùng Râu đứng ra tổ chức. Cuộc đua gay go và căng thẳng không kém gì Tour de France. Mở màn bằng cảnh pe-dan bị gẫy gục dưới sức dướn của TGĐ Trương Gia Bình và anh phải dắt xe chạy bộ đoạn của mình. Kết thúc bằng pha lâm ly: em Bình (hiện ở phòng kế toán FPT), buông tay lái ngất xỉu trong lúc Hùng kều (Zodiac) bật sampanh mừng chiến thắng. Nếu hồi đó ISC có thêm một số nữ nữa thì chắc đã thắng cuộc. Chặng cuối, từ Láng Hạ về Giảng Võ, Vũ Mai Hương đã dẫn trước cả ki-lo-met. Các chàng trai kiểu Tiến béo, Hải kều,Thắng còm, Nam béo,... phi xe máy bám theo đông như kiến, anh nào cũng cố sờ tay vào xe của nàng vừa để lấy danh vô địch, vừa để lấy oai với người đẹp. Chẳng hiểu bọn chúng ghét nhau hay tay chân loạng quạng thế nào mà em Hương tự dưng ngã lăn đùng, xe thành hình số 8, người đầy xây xước. Về sau họp kiểm điểm, Hương chỉ khóc mà không nói được câu nào. Bí mật đấy coi như bị đi vào quên lãng.
  4. Dao_Duy_Anh

    Dao_Duy_Anh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2005
    Đã được thích:
    1
    Client/Server

    Một chương trình ấn tượng khác là chương trình Ngân hàng Client-Server. Hồi năm 1993-1994, thuật ngữ "Open System" rất được ưa chuộng. Trong các cuộc khẩu chiến, cánh UNIX, ORACLE thường thắng thế. Chúng tôi được IBM xúi rằng, "Open System" là cái đinh, Client-Server mới là ác chiến.

    Sau khi Nam đi học về PB (Platform for Banking), một môi trường C/S của Olivetti, FPT quyết định mua một bộ các công cụ demo ngân hàng của Oliveti, trị giá tới hơn 7000 USD. Có lẽ đây là một trong những đầu tư quan trọng, phức tạp và tốn kém nhất của công ty. Bộ công cụ bao gồm:

    * Máy chủ Olivetti LSX 5010, to đùng, tráng kiện, có cài UNIX SVR4 và LanManager
    * Cơ sở dữ liệu Informix
    * Card X.25, cho phép ghép nối mạng LAN với mạng X.25
    * Máy đọc thẻ từ
    * Máy ghi thẻ từ
    * Máy in sổ có đầu đọc và ghi thẻ từ
    * PB for UNIX
    * PB for Windows
    [​IMG]

    Tóm lại là một mớ những phần mềm và thiết bị đầy công nghệ. Để thấy mức cao của công nghệ, xin kể một chuyện: Hồi đó FPT đang còn duy trì việc thi chuyên môn cho những nhân viên mới. Phải thừa nhận đó là một cuộc thi khá phức tạp, thậm chí có phần khó hơn luận văn tốt nghiệp. Tỷ dụ như câu hỏi ưa thích của Đức béo là: "Làm thế nào để cắt đôi con 8866?" (hoặc con gì đó, tôi không nhớ rõ). Của Trần Ngọc Trí là: "Hãy viết một chương trình bat có 500 dòng lệnh để tìm được file cần thiết" (tương tự như find file của Word bây giờ). Nhiều chí sỹ đã có kinh nghiệm hẳn hoi mà vẫn phải ngậm ngùi nhận 0 điểm. Đình Anh khi đó vì mới vào nên cũng phải thi. Hắn là một tay láu cá, biết có học cũng trượt bèn dùng võ cùn. Khi được hỏi đang làm gì, hắn dõng dạc tuyên bố: "Đang lập trình PB" và nhìn các vị giám khảo một cách rất thông cảm. Quả nhiên không ai dám hỏi gì và hắn được nhận vào cho đến tận ngày nay.

    PB là một môi trường lập trình phân tán được thiết kế khá mềm dẻo, cho phép người lập trình có thể tạo ra và sử dụng các services không phụ thuộc vào services đó đang được cài đặt ở máy nào. Đại loại có thể viết các chương trình như print server, com server một cách không phức tạp lắm. Đội quân thiện chiến nhất của ISC gồm Phương và Đình Anh được tung vào cuộc. Bọn chúng mày mò cài đặt, sử dụng non-modem cable để giả lập đường X.25 và lập một chương trình thực sự, chương trình quản lý tiết kiệm cho Ngân hàng. Khách hàng được cấp một sổ tiết kiệm có băng từ, khi đến Ngân hàng thì máy sẽ tự động đọc và update sổ đó, và nhiều features khác tựa như thay vì gõ password thì cầm thẻ kéo xoẹt một cái qua. Bản thân tôi thấy rất ấn tượng. Vậy mà không hiểu sao các bọn Ngân hàng mà chúng tôi đem đi demo chẳng có phản ứng gì và chương trình Client-Server đầu tiên mãi mãi vẫn chỉ là demo. Tuy nhiên việc nghiên cứu môi trường PB cũng đã đặt những nền móng đầu tiên cho việc xây dựng NICS và sau này là TTVN. Chỉ tiếc rằng ngoài Phương và Đình Anh ra chỉ có 2 tay thạo PB khác là giáo sư Văn và Hưng K34 đều không ở lại FPT cho đến bây giờ.

    Bây giờ nhìn lại mỗi chương trình demo đều thực sự là những thử nghiệm lớn, đã mang lại cho những người lập trình và thiết kế những kinh nghiệm kỹ thuật hết sức quý báu. Tiếc thay những kinh nghiệm, những kết quả đúc kết được đã không được đem sử dụng triệt để mà dần dần bay hơi theo thời gian. Bây giờ thì tôi hiểu rằng chúng tôi đã bỏ qua một khía cạnh quan trọng của việc phát triển phát mềm: thương mại hóa. Nghe có vẻ như xủng xoẻng hơi hướng tiền bạc. Làm sao lại có thể là động lực khoa học. Vâng, tiền tôi nghĩ không phải là yếu tố quyết định lúc đó. Thương mại ở đây phải hiểu rằng khả năng áp dụng vào cuộc sống. Chính cuộc sống mới là thước đo cao nhất đánh giá các phần mềm máy tính.

    Có lẽ việc sớm nhận ra điều đó và kiên quyết coi phần mềm như một doanh nghiệp độc lập chứ không phải là công cụ trợ giúp cho việc kinh doanh đã giúp cho chúng ta vẫn giữ được đội ngũ như hiện nay.
  5. easternlight

    easternlight Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    07/05/2006
    Đã được thích:
    0
    Em xin lỗi vì hơi nhiều truyện nhưng bác post thế này thì cái diễn đàn thành phòng truyền thống của fpt mất.
  6. thientan18

    thientan18 Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    14/08/2006
    Đã được thích:
    16
    Rất khâm phục ý chí lập nghiệp của các bác FPT. Tuy nhiên xin hỏi vài câu:
    1/ Tỷ trọng doanh số bán phần mềm của FPT trong tổng doanh số của các bác là bao nhiêu? Hình như là dưới 5%.
    2/ Chủ yếu bây giờ buôn Điện thoại di động (thay chổ cho Đông nam của Ô. Thiều vào tù)
    3/ Đây là chiến dịch chuổn bị cho FPT lên sàn hay sao?
    Nếu các bác đi theo con đường Công nghệ thực phẩm thì Massan bây giờ làm sao lên sàn trước FPT đuợc...
  7. beginner

    beginner Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    23/07/2002
    Đã được thích:
    646
    Bài viết hay quá. Bác viết tiếp đi. Em mới thấy đến giai đoạn 1994 thôi mà. Đọc đến đấy thì hết phí quá. Nếu được bác gửi cho em file word vao email: binh_cic@yahoo.com với.
    Cảm ơn bác!
  8. i1u

    i1u Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    08/07/2003
    Đã được thích:
    0
    Các bác nên đọc để biết khi nào cp FPT về "giá trị thực 6-7x "


    Được i1u sửa chữa / chuyển vào 15:19 ngày 31/08/2006
  9. ntvonline

    ntvonline Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    27/03/2006
    Đã được thích:
    0
    Báo DDA tiếp đi bác!
    Nội dung rất và cũng mang tính hài hước!
    Anh em có thể học hỏi được nhiều từ các bài viết đó!
    ok!
  10. Dao_Duy_Anh

    Dao_Duy_Anh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2005
    Đã được thích:
    1
    Chương 3: Thương mại​
    Nếu như hiểu chương trình có khả năng thương mại là chương trình có thể bán được ra tiền thì chương trình thương mại đầu tiên của FPT là chương trình tính dự toán công trình do anh Bảo, Nam và Hùng râu làm cho anh Nhuận. Lúc đó FPT còn có một xí nghiệp Cơ-Điện-Lạnh do anh Nguyễn Đức Nhuận làm giám đốc chuyên nhận các công trình thiết kế hệ điều hòa. Thấy các kỹ sư cặm cụi tính toán các dự toán rất phức tạp, nhất là mỗi khi phải thay đổi kinh phí hay Nhà nước thay đổi các thông tư nghị định cho xây dựng cơ bản, Hùng Râu nảy ra ý định tự động hóa. Khi nghe hắn trình bày xong, anh Bảo cười khẩy, rồi cặm cụi lập trình luôn. Tôi khi đó đang học nghề cũng mon men xin một chân viết chương trình đọc các file tham số để truyền cho chương trình tính và in của anh Bảo.
    Khi in ra được một tập giấy dày, anh Nhuận phấn khởi lắm. Hùng Râu khẳng định là anh có trả cho 3 chúng tôi 1.000.000 đồng (một số tiền khá lớn vào năm 1989 khi lương của chúng tôi chỉ là 30.000/tháng) và hắn đã chia đều cho 3 người. Tuy nhiên tôi chẳng nhớ là mình đã nhận được đồng nào cả. Có lẽ vợ đã thu hết từ lúc nào mà không biết. Không biết chương trình của chúng tôi có giúp được gì không, nhưng anh Nhuận đã thắng thầu đề án lắp đặt hệ thống thông gió cho Đài truyền hình Việt nam trị giá hơn 1 tỷ đồng. Một cuộc đấu thầu có tính chất lịch sử đầu tiên của FPT, mở màn cho seri thắng lợi của anh Ngọc và anh Bảo sau này. Tôi vẫn còn nhớ là được dự liên hoan ở Nhà hàng Quốc Tử Giám cực kỳ sang trọng. Về sau này cũng có nhiều công ty chuyên về làm và bán các phần mềm dự toán này. FPT không hiểu sao không quan tâm nữa.
    Sau vụ này anh Nhuận trở thành nhân viên tiếp thị máy tính đắc lực. Câu nói cửa miệng của anh là "Máy tính hay lắm, ấn một cái là nó in ra lung tung cả", rất có ấn tượng với khách hàng. Sau một thời gian, anh Nhuận tách ra khỏi FPT lập thành Emeco, nghe nói làm ăn cũng phát đạt. Rất lâu sau đó, chiếc máy tính Foremost lịch sử đầu tiên của FPT vẫn còn chạy ở văn phòng xí nghiệp. Đã có lúc nghe nói FPT sẽ mua lại để làm kỷ niệm nhưng chẳng thấy ai thực hiện cả.

    Typo4
    Không hiểu những người khác thế nào, đối với tôi, đề án có tính chất quyết định trong việc trưởng thành như một người lập trình và quản trị dự án là đề án với mật danh là Typo4. Chắc là tôi phải dành nhiều trang hơn cho đề án này.
    Số là trong thời gian du học tại Grenoble, Pháp, anh Ngọc có quen được với một anh Việt kiều tên là anh Long, cũng là một fanatic trong lập trình. Chắc chắn là đã nghe không ít hơn một lần bài giảng của anh Ngọc về sự thông minh của các lập trình viên Việt nam, anh Long ôm mộng về nước tổ chức lập trình làm ăn lớn. Và anh làm thật.

    [​IMG]

    Lần đầu tiên tôi gặp anh là khoảng giữa năm 1989, trong buổi họp đầu tiên với các lập trình viên "tài năng và giàu kinh nghiệm" của Việt nam. Tôi còn nhớ là rất ngạc nhiên, quái lạ ông Việt kiều này còn gầy hơn cả mình. Vâng một người nhỏ thó, nhưng kế hoạch của anh thì không hề nhỏ. Thửơ đó Windows còn là một thuật ngữ hết sức xa lạ. Bản thân tôi mới nhìn thấy một lần bản Windows 1.0 tại Viện nghiên cứu Khoa học Giáo dục, và thấy nó hết sức không thân thiện. Tuy nhiên, anh Long đã nhìn thấy trước tương lai tươi sáng (?) của Windows, anh quyết định bỏ tiền túi, về Việt nam chiêu mộ quân sĩ. Typo4 là code name của chương trình lên trang chuyên nghiệp chạy trên Windows mà anh Long định thực hiện. Nói chuyên nghiệp là để phân biệt với chương trình Ventura lúc đó đang rất thông dụng. Theo anh Long, Typo4 không nhằm mục tiêu đại trà mà chỉ để dành cho các nhà in chuyên nghiệp. Tôi còn nhớ sở dĩ gọi là Typo4 là để nhấn mạnh khả năng tách làm 4 màu của mỗi bản in chứ không phải là version xiếc gì !
    Qua anh Ngọc, anh Long liên kết với khoa Tin học BK để thuê địa điểm và tuyển mộ quân sỹ. Do có chân trong FPT, vả lại hồi đó chúng tôi cũng chưa có việc làm, anh Ngọc kết nạp tôi với anh Bảo vào đội. Anh Bảo thì rõ vì lúc đó anh đã tham gia vào rất nhiều đề án lập trình và đã là một người nổi tiếng. Còn đối với tôi đó là một sự may mắn. Trong mấy tháng đầu tôi toàn lo bị đuổi. Có đến hơn 10 người tham gia vào đề án. Sau đó rơi rụng bớt chỉ còn có a. Ngọc, tôi, a. Bảo, Mr. Vũ Đức Vợng, Mr. Nguyễn Văn Lợi, Mr. Tô Thành. Sau này có thêm Trần Ngọc Trí viết về truyền tin và Mr. X chuyên dịch các lệnh in của Windows sang dạng Postscript.
    Cũng muốn nói thêm một chút về những đồng nghiệp này. Thực ra thì tôi cũng nhận bừa là đồng nghiệp vì lúc đó chưa thể dám coi mình là lập trình viên.
    GS Đại học Bách khoa Tô Thành hồi đó có một chương trình rất ấn tượng mà chúng tôi hay gọi là Hoa thơm **** lượn (tôi có nhắc tới lúc đầu). Chương trình này có thể coi như là chương trình Multimedia đầu tiên giới thiệu những khúc thơ tình trong cảnh một đàn **** và chuồn chuồn dập dờn với tiếng nhạc réo rắt. Bây giờ tôi thấy vẫn còn có chỗ dùng chạy demo. Hay nhất là cách anh vẽ những bông hoa bằng các đường Sin ngẫu nhiên, rất đẹp.
    Vũ Đức Vượng, học ở Bungari về, về sau còn có một thời gian dài hợp tác với FPT để làm các chương trình lễ tân khách sạn và kế toán. Có thể nói không ngoa là anh có mặt trong buổi ban đầu của Balance. Hiện nhà tôi còn có cái tủ do anh môi giới một người đóng hộ.
    Nguyễn Văn Lợi là một trong số ít những người Việt nam được học ở Bỉ. Đó là lứa năm trước chúng tôi, cả một khóa được phân đi Rumani, vì lý do gì đó bọn Ru từ chối, thế là lại được sang tư bổn. Đúng là Tái ông mất ngựa. Anh Lợi làm ở Viện Điện tử, cũng là một địa chỉ Tin học nổi tiếng thời bấy giờ.
    Lại nói về Typo4. Việc đầu tiên chúng tôi phải làm là lăn ra học Windows và MS C. So với Turbo C đang rất phổ biến hồi đó, lập trình MS C là cả một cực hình: vừa chậm, vừa không có WorkBench, không có debug. Tuy nhiên đổi lại MS C có khả năng Link thành file to để load từng đoạn và hơn nữa tương thích với Win. Để nghiên cứu, anh Long mua hẳn bộ SDK của Win 2.1 rất tân tiến. Và chúng tôi bắt đầu làm quen với WinMain, GetMessage, GetDC, BitBlt,... Tất nhiên so với các bạn làm Visual Basic bây giờ, chúng tôi trông giống những ông thợ xây chứ không phải nhà kiến trúc. Còn nhớ, điều làm tôi rất bất mãn lúc bấy giờ là Win không có hàm OpenFile() standard. Mỗi đứa viết một kiểu.
    Như một người thiết kế tổng thể, anh Long đã bỏ ra rất nhiều thời gian để quy định các phương thức để mọi người có thể làm việc với nhau. Một trong những cách đó là hàm của ai viết phải có tên của người đó ở đầu, chẳng hạn Vdv_MenuX() hiểu ngay là hàm của Vũ Đức Vượng. Chúng tôi còn học cách chia sẻ và chuyển các cấu trúc dữ liệu. Rất bổ ích. Chỉ riêng có một điều anh Long không thành công, đó là bắt chúng tôi làm tài liệu một cách có bài bản. Không hiểu là tự chúng tôi dốt hay thực sự việc đó cũng không cần thiết.

    [​IMG]
    Làm được một thời gian, anh Bảo được hội làm nhận dạng mời đi Pháp dài hạn. Chúng tôi chính thức còn 5 người. Anh Ngọc chuyên lo vẽ và lập trình các loại DialogBox, trong Win 2.x còn khá phức tạp. Anh Lợi chuyên trách về Editor. Vượng về menu và các hàm khung. Tôi và Tô Thành làm việc khá chặt chẽ với nhau. Theo thiết kế, trang in sẽ là một tổ hợp các hình hình học có chứa text hoặc image ở bên trong. Kiểu như Frame trong Word. Tô Thành chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ các ob-jects đó bao gồm các hình chữ nhật, elip và zigzag. Nhiệm vụ của anh là thông báo cho tôi trên một line, chỗ nào là chỗ trống cho text. Nhiệm vụ của tôi là đọc text từ buffer của Editor và fill vào những chỗ trống đó theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của typography. Thiết kế đòi hỏi rất cao, các hình là tùy ý và có thể quay, chồng chéo lên nhau, có thể transparent hoặc solid. Về mis en page (lên trang) cũng rất khắt khe. Tôi còn nhớ chúng tôi phải phân biệt đến 8 loại space (ký tự trắng) thể hiện như nhau trong điều kiện bình thường nhưng khác nhau cơ bản khi co giãn để lên trang. Một ví dụ để nói lên sự đòi hỏi đó: thửơ đó, Win chưa có font true type. Để thể hiện đúng kích thước của từng chữ, tôi phải dùng các font scalable như Roman. Tuy nhiên chúng có nhược điểm là display rất chậm. Một hôm tôi mới láu cá, tính sẵn từng dòng và play cả dòng kiểu máy in dòng. Tốc độ được cải thiện đáng kể. Phấn khởi, hôm sau gọi anh Long đến demo, không dè anh chửi cho té tát. "Tôi không cần các anh làm nhanh, mà cần các anh làm đúng. Anh phun ra từng dòng, thì ai đảm bảo khoảng cách giữa các chữ là đúng" Vậy đó, chúng tôi phải tính chi li khoảng cách giữa các chữ cái trong bảng font để đảm bảo phân bố text một cách tối uư nhất theo yêu cầu của người dùng.
    Tất nhiên không phải chỉ có được. Chúng tôi cũng đã bao nhiêu lần kéo nhau ra quán, đòi đập chén bỏ việc vì chẳng hiểu vì sao làm mãi vẫn thối. Chẳng hiểu vì sao ông Long vẫn không hài lòng. Lòng tự trọng nhiều lúc cao ngùn ngụt. Mâu thuẫn chủ yếu là cách đánh giá công việc giữa cá nhân từng người và anh Long. Sau này khi có dịp phụ trách thiết kế tôi mới hoàn toàn thông cảm với những lo toan của anh Long.
    Cũng may là hồi đó tôi chưa biết gì, nên toàn ngồi im, vả lại anh Ngọc luôn luôn là người đứng ra hòa giải. Vì thế anh em tôi vẫn đi được đến cùng mà không sứt mẻ.
    Sau chín tháng 10 ngày, sản phẩm cũng được ra đời. Vì in là in ra file Postscript nên phải mang sang tận Bộ Nội vụ có một máy LaserWriter mới in được. Khi anh Long mang bản in thử về, anh em chúng tôi ai cũng thấy sướng. Đến bây giờ tôi vẫn chưa biết một chương trình khác có thể lên được những trang đẹp như vậy. Không hiểu anh Ngọc còn giữ mẫu nào không.
    Tuy như anh Long nói, định 10 mới chỉ làm được 3, Typo4 thực sự đã là trường học lớn đầu tiên cho tôi. Lần đầu tiên tham gia một chương trình lớn tôi đã gặp may khi được tiếp xúc với những công nghệ hiện đại nhất, được làm việc dới sự chỉ huy của một người giàu tham vọng và biết cách thực hiện nó, được làm việc đòi hỏi tính đồng đội cao trong một môi trường gần gũi và thoải mái. Cám ơn anh Long và Typo4 rất nhiều.
    Bài học Typo4 cũng chỉ ra rất rõ những điểm mạnh và yếu của những người lập trình trong nước. Rõ ràng chúng ta có những lập trình viên giỏi, sáng tạo, có khả năng thực hiện được những công việc đồ sộ, phức tạp. Nhưng chúng ta thiếu những người có tầm nhìn xa hơn, đoán được trước xu hướng phát triển, đi vào lĩnh vực mới. Trong số ít ỏi những người có khả năng đấy, than ôi, hầu như không ai có đủ sự dũng cảm và tự tin để chọn đó làm sự nghiệp của đời mình. Các đề án xuất sắc của 3C, AIC, Viện Tin học mãi mãi chỉ là những kỷ niệm đẹp vì không có người dám đặt cược sự thành đạt của mình vào những sản phẩm đó.
    Năm tháng trôi đi, càng ngày chúng ta càng nhận thức được rằng tiềm năng duy nhất của Công ty và Đất nước chỉ là con người. Và công nghệ phần mềm dường như đã thuyết phục được các chính khách như là con bài chủ đạo trên con đường Việt nam tiến lên xã hội mới. Ngày nay chúng ta ngậm ngùi nhớ lại những cơ hội đã bị bỏ qua để bắt tay vào làm lại từ đầu?!





    Được Dao_Duy_Anh sửa chữa / chuyển vào 15:54 ngày 31/08/2006

Chia sẻ trang này