Hãy chế ngự để chiến thắng!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi buocnhay, 16/11/2007.

2701 người đang online, trong đó có 1080 thành viên. 11:19 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 5959 lượt đọc và 89 bài trả lời
  1. buocnhay

    buocnhay Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    13/04/2007
    Đã được thích:
    0
    Hãy chế ngự để chiến thắng!

    Một hiện tượng tâm lý bình thường

    Có lẽ, trên thị trường chứng khoán không ai là không biết câu ?olòng tham và nỗi sợ hãi?.

    Lòng tham ở đây được nhắc đến khi nhà đầu tư bỏ qua các quy tắc để mong chờ giá lên đến đỉnh rồi mới bán ra nhưng lại rơi vào tình trạng chỉ bán được sau khi giá đã giảm một số phiên và mức lãi vơi đi ít nhiều, thậm chí là thua lỗ. Còn nỗi sợ hãi xuất hiện khi giá giảm và nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu một cách ồ ạt khiến giá giảm quá mức cần thiết. Tâm lý này đặc biệt được thể hiện rõ nét khi cổ phiếu hay thị trường có xu hướng tăng, nhà đầu tư lao vào thị trường và giành nhau mua; còn khi cổ phiếu hay thị trường có xu hướng giảm thì lại cố hết sức để bán ra.

    Trong tháng 9, 10 vừa qua, sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội thể hiện rõ nhất điều này khi trong nhiều phiên, giá nhiều cổ phiếu liên tục tăng trần với lượng dư mua rất lớn. Nhiều khi, phiên hôm trước có lượng dư mua giá trần nhưng phiên hôm sau lại có lượng dư bán giá sàn. Ngoài ra, ngay trong một phiên giao dịch, đầu phiên thì dư bán giá sàn nhưng đến cuối phiên lại dư mua giá trần. Thị trường đảo chiều quá nhanh, quá đột ngột và quá sức tưởng tượng.

    Lòng tham và nỗi sợ hãi luôn hiện hữu trong mỗi nhà đầu tư và là hiện tượng tâm lý bình thường, phổ biến của con người. Nó không đáng bị chê trách trừ khi nó thúc đẩy nhà đầu tư có những hành động vượt quá mức bình thường, thậm chí là phi lý.

    Lịch sử đã cho thấy, lòng tham khiến thị trường bị đẩy lên quá cao, còn nỗi sợ hãi kéo thị trường xuống quá thấp. Nhiều nhà đầu tư nhanh chân đi trước, biết dừng đúng lúc thì thu được lợi, còn kẻ chậm chân phải chịu nhiều thua thiệt. Hệ quả trong những trường hợp như vậy thường là sự suy giảm niềm tin, sự hạn chế đầu tư hay rời bỏ thị trường. Đó là chưa kể những tác động xấu khác, ví dụ như hạnh phúc, chất lượng sống của những nhà đầu tư thua lỗ giảm sút?

    Cần khống chế cảm xúc đầu tư

    Một cách kinh điển và khá hiệu quả là đầu tư dài hạn theo trường phái phân tích cơ bản. Bạn nên xác định một mức giá hợp lý để mua những cổ phiếu có ngành nghề triển vọng và khả năng tăng trưởng cao rồi chờ 1 - 2 năm sau bán ra để thu lãi. Nếu trong thời gian đó giá cổ phiếu đi xuống thì đó là lúc bạn nên mua thêm chứ không phải là bán ra. Bởi trước sau gì thì thị trường cũng sẽ nhận ra rằng, cổ phiếu bạn mua là giá trị và mức giá sẽ được đưa lên vị trí xứng đáng.

    Nhưng thực tế hiện nay thì hầu hết nhà đầu tư nghiêng về đầu tư ngắn hạn theo trường phái phân tích kỹ thuật. Nhiều nhà đầu tư khôn ngoan và cẩn trọng chỉ đầu tư khi xác định được xu hướng đi lên của thị trường. Khi xu hướng tăng giá bắt đầu, việc nhập cuộc thị trường sẽ được tiến hành ngay lập tức và chỉ bán ra khi xu hướng có dấu hiệu kết thúc.

    Thị trường có câu: ?oHãy cắt giảm lỗ và để cho cổ phiếu tốt tiếp tục tăng giá?. Khi lỗ, nhất là khi thị trường có dấu hiệu đi xuống, thì nên bán ra để cắt lỗ, còn nếu đang có lãi, nên chờ cho mức lãi đạt đến đỉnh. Đây chính là lòng tham. Lòng tham đôi khi khiến ?oxôi hỏng, bỏng không?, nhưng nhiều khi cũng đem lại món lời hơn cả sự mong đợi. Cái chính là việc vận dụng quy tắc, kinh nghiệm như thế nào.

    Thị trường cũng có câu rằng: ?oMột con chim trong tay hơn hai con chim trong bụi?. Nhưng nếu bạn bán ra để ăn chắc mấy đồng lãi còm thì có thể bạn sẽ tiếc hùi hụi sau đó vì giá cổ phiếu cứ lên mãi.

    Ở đây, có lẽ phải nói đến việc khống chế cảm xúc đầu tư (EQ). Thực tế cho thấy, không phải cứ kiến thức đầy mình (hoặc chỉ số thông minh IQ cao) là sẽ đầu tư thành công. Chuyện kể rằng, sau khi thua đậm trên thị trường chứng khoán, Issac Newton đã thốt lên: ?oTa có thể tính quỹ đạo chuyển động của các vì sao chính xác đến từng giây và vài chục milimét, song không tài nào tính trước được diễn biến hàn thử biểu thị trường và sự điên rồ của công chúng?.

    Thời gian qua, cái sự điên rồ của công chúng đã khiến nhiều nhà đầu tư Việt Nam trở thành triệu phú nhờ vào việc dám mạo hiểm đầu tư, gần đây nhất là đầu tư vào ?odòng họ Sông Đà? trên sàn Hà Nội khi giá tăng gấp đôi, thậm chí gấp 3 - 4 lần. Trong số những người này, dám chắc rằng những ai không ưa mạo hiểm hay quá chú ý đến phân tích cơ bản chỉ đếm trên đầu ngón tay.

    Dường như nhà đầu tư thất bại thường phạm những sai lầm giống nhau, đó là học đầu tư cổ phiếu nhưng không biết điều khiển cảm xúc, không biết nâng cao EQ bằng những bài học thực tế mà lại quá chú trọng đến việc bổ sung kiến thức, kỹ xảo đầu tư. Bởi khi đó, bạn sẽ có hàng tá lý do để cân nhắc, sau đó là băn khoăn giữa việc bán ra hay mua vào, vì có hàng tá ưu điểm và nhược điểm của cổ phiếu đã được bạn tìm ra. Điều này sẽ ảnh hưởng đến cảm xúc của bạn, khiến bạn không thể suy nghĩ rõ ràng và khó thể ra quyết định một cách chính xác và dứt khoát.

    Ví dụ, khi giá cổ phiếu liên tục tăng cao, suy nghĩ lý tính nói với bạn rằng, giá cổ phiếu đã quá cao, khả năng thu lợi sẽ thấp trong khi rủi ro gia tăng, do đó, tốt nhất là không mua cổ phiếu này, và ngược lại. Nếu thực hiện đúng điều này thì khi giá lên cao, nhu cầu giảm bớt (khiến giá hạ), còn khi giá xuống thấp, nhu cầu sẽ gia tăng (khiến giá tăng).

    Tuy nhiên, trên thực tế thì những lúc giá cổ phiếu tăng cao, mọi người thường tranh giành nhau mua vì có được cảm giác an tâm rằng, mua vào là có lãi, và khi lãi sinh sôi sau mỗi ngày thì lòng tham trỗi dậy mạnh mẽ khiến họ quên đi nguy cơ tiềm ẩn, và tự hào là mình đã đầu tư đúng; còn khi giá xuống thấp lại không có ai đặt mua, bởi sự thua lỗ hiển hiện ngay trước mặt.
    Có thể liệt kê ra một số trường hợp khác mà hành vi đầu tư thực tế luôn trái ngược với suy nghĩ lý tính như: giá cao thì vay tiền để mua, giá thấp thì giữ nguyên hoặc bán ra; muốn phân tán rủi ro nhưng lại chỉ đầu tư vào một cổ phiếu duy nhất với mong muốn giá sẽ tăng cao và tối đa hoá được lợi nhuận; xác định đầu tư dài hạn nhưng khi thị trường hơi biến động là chuyển ngay sang đầu tư ngắn hạn, bán ra để cắt lỗ hoặc kiếm chút lãi, nhưng sau đó lại mua vào với giá cao hơn; biết rằng cổ phiếu sốt ảo nhưng vẫn lao vào?

    Tuy nhiên, nhiều khi ?olý thuyết chỉ là màu xám, còn cây đời mãi mãi xanh tươi?. Chỉ có kinh nghiệm mới giúp tránh sự ảnh hưởng của cảm xúc trong việc ra quyết định. Không vì lo sợ mà không tham gia đầu tư, và nên tham lam khi người khác lo sợ. Cái chính là không để lòng tham làm lu mờ rủi ro, niềm lạc quan trở nên mù quáng, cũng như không để nỗi lo sợ đánh mất lý trí, tạo ra sự hoảng loạn.
  2. buocnhay

    buocnhay Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    13/04/2007
    Đã được thích:
    0
    Sống chung với biến động

    Trong suốt khoảng thời gian biến động, nhiều nhà đầu tư cảm thấy hoang mang và bắt đầu đặt câu hỏi với những chiến lược đầu tư của họ, đặc biệt là những nhà đầu tư mới, chưa có kinh nghiệm.

    Cách phản ứng thông thường của các nhà đầu tư này là tránh lúc sóng gió và quay lại lúc yên ắng. Nhưng thật không may, với những thị trường mới nổi như thị trường chứng khoán Việt Nam thì sự biến động là một điều tất yếu và việc dự báo hầu như là không thể.

    Nói như vậy không có nghĩa là nhà đầu tư mới phải từ bỏ cuộc chơi vì sự bất ổn của thị trường. Làm thế nào để tồn tại trong một thị trường như vậy có lẽ là một câu hỏi mà không ít các chuyên gia đã nhận được từ các nhà đầu tư.

    Một trong những giải pháp khả quan nhất chính là cố gắng duy trì hướng đến mục tiêu trong dài hạn và cố gắng lờ đi những dao động trong ngắn hạn.

    Biến động là gì?

    Biến động là một thước đo thống kê cho thấy khuynh hướng của một thị trường hoặc một chứng khoán sẽ tăng giá hay rớt giá trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Sự biến động thông thường được đo bằng độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi - đây là một khái niệm thống kê, phản ánh mức độ sai lệch giữa kết quả thực tế với con số mong đợi hay kỳ vọng.

    Những thị trường có nhiều biến động là những thị trường mà giá cả dao động trong phạm vi rất lớn, khối lượng giao dịch nhiều. Một số người cho rằng nguyên nhân gây ra sự biến động chính là từ những yếu tố như thông tin, các báo cáo phân tích của chuyên gia, hoặc là các vụ phát hành lần đầu, phát hành thêm, chia, tách, hay các kết quả kinh doanh được công bố không như mong đợi. Một số khác đổ lỗi cho những nhà đầu cơ hay những nhà đầu tư có tổ chức.

    Thế nhưng, giải thích hợp lý nhất có lẽ chính là những nguyên nhân tâm lý gây ra phản ứng của nhà đầu tư. Đó mới chính là nguyên nhân tạo nên tính biến động nhiều nhất cho thị trường.

    Cách tiếp cận dựa trên những giải thích về tài chính hành vi dường như đã ?otấn công? mạnh mẽ vào cái gọi là lý thuyết thị trường hiệu quả. Theo lý thuyết thị trường hiệu quả, giá cả thị trường luôn phản ánh chính xác mọi thông tin có liên quan. Không một nhà đầu tư nào có khả năng tìm kiếm lợi nhuận cao hơn người khác, nhà đầu tư luôn khôn ngoan và hành động giống nhau.

    Thế nhưng tài chính hành vi cho thấy kết quả những biến động giá quan trọng nhất xuất phát từ sự thay đổi trong suy nghĩ theo một hướng nào đó của công chúng đầu tư. Rõ ràng, chẳng bao giờ chúng ta có thể tìm thấy sự nhất trí về những nguyên nhân gây ra tính biến động thị trường. Tuy nhiên dù bạn muốn hay không, thị trường vẫn biến động, vì thế chúng ta - những nhà đầu tư phải tìm cách để có thể sống chung với biến động.

    Đầu tư dài hạn

    Chiến lược hướng đến mục tiêu dài hạn, không quan tâm đến những dao động trong ngắn hạn không phải lúc nào cũng dễ thực hiện, nhất là khi những khoản lợi ngắn hạn có thể nhìn thấy rất lớn.

    Đầu tư dài hạn đòi hỏi bạn phải có những nghiên cứu kỹ lưỡng vì trong dài hạn các thị trường luôn được điều khiển bởi các yếu tố tài chính doanh nghiệp cơ bản. Một doanh nghiệp với bảng cân đối kế toán rất ?okhỏe mạnh? và doanh nghiệp đó có thu nhập bền vững sẽ tương đối miễn nhiễm trước những dao động trong ngắn hạn.

    Tất nhiên đôi khi ta vẫn có thể lợi dụng các biến động ở đó giá cổ phiếu của một công ty tốt bị đánh giá thấp để mua vào và nắm giữ cho dài hạn.

    Tranh luận quan trọng đằng sau chiến lược mua và nắm giữ chính là nhà đầu tư có thể đã bỏ lỡ mất cơ hội để bán cổ phiếu đi, tạo ra một tỷ suất sinh lợi ấn tượng trong một vài ngày thị trường giao dịch tốt nhất trong năm. Ở đây cần sự cân bằng, vì nắm liên tục cũng có nghĩa là bỏ qua được những thời điểm giao dịch không tốt. Vấn đề ở chỗ lựa chọn thời điểm cho tốt.

    Nhà đầu tư nên nhận thức rõ những rủi ro tiềm ẩn trong suốt thời gian biến động. Việc lựa chọn một chiến lược đầu tư dài hạn cũng là một ý tưởng không tồi nếu như bạn tin vào chiến lược của mình.

    Tuy nhiên, nếu bạn đã quyết định sẽ ?olướt sóng? trong suốt thời gian biến động, hãy cẩn thận và phải nhận thức rõ được thị trường sẽ ảnh hưởng đến giao dịch của bạn như thế nào.

    Ngoài ra, để sống chung được với sự biến động, người ta có thể thực hiện một số hợp đồng phái sinh nhằm quản trị rủi ro như quyền chọn chứng khoán (option), hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau? những điều này vẫn chưa được phép thực hiện trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  3. buocnhay

    buocnhay Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    13/04/2007
    Đã được thích:
    0
    Mua chứng khoán một cách khôn ngoan

    Bắt đầu hoạt động đầu tư vào thị trường chứng khoán quả là không mấy dễ dàng. Mở tài khoản ở hãng tư vấn đầu tư sẽ rất tốn kém. Mua các loại chứng khoán khác nhau cũng đòi hỏi phải xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng.

    Cách tốt nhất để bắt đầu "buôn" chứng khoán là dùng chiến lược bình quân giá chi phí đôla (dollar-cost averaging). Đây là một thuật ngữ thường dùng để thực hiện các khoản đầu tư vào một chứng khoán thường xuyên và có hệ thống mà không tính đến yếu tố giá cả.
    Các cuộc nghiên cứu đã cho thấy rằng, các nhà đầu tư theo chiến lược đó thường có khuynh hướng phải trả mức giá thấp hơn những người mua chứng khoán theo số lượng lớn. Chiến lược này khá hữu hiệu, đặc biệt đối với ngành có độ giao động cao như ngành công nghệ. Sở dĩ như vậy là bởi vì cùng 100$ một tháng có thể mua được nhiều chứng khoán hơn khi giá xuống và sẽ mua được ít chứng khoán hơn khi giá lên.

    Có rất nhiều cách để thiết lập nên những khoản đầu tư chứng khoán theo hệ thống. Cách thứ nhất có thể là thực hiện việc mua vào chứng khoán liên tục thông qua một nhà môi giới giảm giá trên mạng. Hoặc là nhà đầu tư có thể sử dụng dịch vụ của các nhóm hỗ trợ nhà đầu tư về chứng khoán.

    Nguyên tắc quan trọng nhất khi đầu tư chứng khoán là phải chấp hành nghiêm chỉnh những quy tắc đã đề ra và thiết lập những khoản đầu tư thường xuyên trong quỹ chứng khoán của bạn mỗi tháng, bất kể là khoản đầu tư ấy nhỏ đến mức nào. Sau đó, bạn hãy bình tĩnh vượt qua những "thử thách cam go" của thị trường.
  4. buocnhay

    buocnhay Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    13/04/2007
    Đã được thích:
    0
    Thời điểm mua vào cổ phiếu?

    Mục đích của các NĐT không phải là mua tại một mức giá rẻ với hy vọng là cổ phiếu sẽ có những chuyển động lớn mà mục tiêu chính xác là phải mua tại thời điểm hợp lý nhất - thời điểm mà cổ phiếu có những cơ hội tăng giá mạnh. Trong giới chứng khoán, người ta thường nói ?oSự lựa chọn đúng thời điểm là tất cả?. Biết được thời điểm để mua bán chứng khoán là một kỹ năng cực kỳ giá trị mà bất cứ ai cũng có thể học được. Một trong những mô hình phổ biến nhất trước khi cổ phiếu tăng giá là mô hình ?otách và tay cầm?. Tiếp đó là mô hình ?ođụng đáy 2 lần? và mô hình ?ođáy bằng?.

    Mô hình ?otách và tay cầm? là một trong những mô hình phổ biến nhất trước khi cổ phiếu tăng giá gấp nhiều lần. Điểm A và B nằm ở phần tay trái đi xuống của tách. B là cái đáy phình ra của tách với giá đi xuống ở bên tay trái và có dấu hiệu đi lên ở bên tay phải. Điều này sẽ diễn ra trong vài tuần tới vài tháng. Từ điểm B giá cổ phiếu bắt đầu phục hồi tới điểm C, chỉ dưới mức giá cũ cao nhất của nó. Tại đây giá hơi đi xuống tới điểm D và lên trở lại điểm E. Điểm C, D, E tạo thành chiếc tay cầm. Điểm quan trọng nhất NĐT cần biết đó là điểm mua tốt nhất. Điểm này, thường ở phần cuối của một khu vực giá cả chuyển động tốt nhất, khi cổ phiếu bắt đầu phá vỡ những mức cản để đi tới những mức giá cao hơn.
  5. lazycatcat

    lazycatcat Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    05/10/2007
    Đã được thích:
    0
    Tít hay, bài viết giá trị, cần có hình để minh hoạ ( vì không phải ai nhìn vào đồ thị cũng hình dung ra được) : thế nào là
    hình "tách+tay cầm", "cờ đuôi nheo", cờ vẫy " , .tô đậm đường đi từ điểm A đến B............ Bác có kinh nghiệm thì chia sẻ cho bà con cùng biết. Thanks.

    Được lazycatcat sửa chữa / chuyển vào 07:34 ngày 16/11/2007
  6. hn123

    hn123 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    27/01/2007
    Đã được thích:
    0
    Hay, nhưng kô hiểu lắm

  7. buocnhay

    buocnhay Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    13/04/2007
    Đã được thích:
    0
    Các bác cứ yên tâm khi nào rỗi tôi sẽ phân tích tiếp quan trọng hãy nhận định đúng thôi
  8. buocnhay

    buocnhay Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    13/04/2007
    Đã được thích:
    0
    Theo bà Lê Thị Thu, Giám đốc Đầu tư Công ty Chứng khoán Hà Nội, đầu tư chứng khoán muốn thành công đòi hỏi phải có kiến thức về tài chính. Bên cạnh đó, một yếu tố cũng quan trọng không kém là phải có cái đầu lạnh và thái độ tỉnh táo trước mọi diễn biến của thị trường. Nhà đầu tư chuyên nghiệp sẽ không vội tháo chạy khi thị trường xuống hay đổ xô mua vào khi giá đang lên mà đều có sự tính toán cẩn trọng.

    Ông Dominic Scriven, Giám đốc Quỹ đầu tư Dragon Capital cũng cho rằng, thị trường chứng khoán vốn là thị trường của thông tin nên khi có những thông tin không tốt thì sẽ rất dễ bị đi xuống. Song theo ông, sau một thời gian tăng khá mạnh, việc dừng lại để điều chỉnh là đương nhiên và điều này cũng diễn ra với các thị trường chứng khoán khác trên thế giới.

    Theo nhận xét chung của giới chuyên gia, từ nay tới cuối năm, thị trường sẽ có những thông tin tích cực hỗ trợ như tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thu hút đầu tư nước ngoài đạt kỷ lục, kiều hối về nhiều... Trong bản dự báo thị trường vừa công bố, Công ty chứng khoán Á Châu (ACBS) cũng nhận định, xu hướng tăng của Vn-Index trong 3 tháng cuối năm rất khả quan. Trong giai đoạn này có thể vẫn có những phiên điều chỉnh và đây là chuyện hết sức bình thường
  9. buocnhay

    buocnhay Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    13/04/2007
    Đã được thích:
    0
    Phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu

    Năm 1999, UBCKNN có một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ mang tên: Cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng chỉ số giá chứng khoán và một số gợi ý cho Việt Nam. Đề tài đã được hội đồng khoa học do TS.Lê Văn Châu Chủ tịch UBCKNN làm chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, đánh giá hoàn thành ở mức độ xuất sắc.

    Trong bài viết nhỏ này chúng tôi chỉ xin giới thiệu một phần của công trình nghiên cứu khoa học trên, đó là các phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu và việc vận dụng nó ở nước ta hiện nay, nhất là trong giai đoạn đầu của sự phát triển thị trường chứng khoán.

    Mục tiêu cơ bản của việc xây dựng chỉ số giá nói chung là xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh sự biến động của giá theo thời gian. Chỉ số giá cổ phiếu cũng vậy nó là chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi của giá cổ phiếu theo thời gian.

    Ý tưởng xuyên suốt trong quá trình xây dựng chỉ số giá là phải cố định phần lượng, loại bỏ mọi yếu tố ảnh hưởng về giá trị để khảo sát sự thay đổi của riêng giá. Có như vậy chỉ số giá mới phản ánh đúng sự biến động về giá. Mọi công thức, phương pháp không thực hiện được ý tưởng này đều sai với lý luận và chắc chắn chỉ số giá không phản ánh đúng sự biến động của giá.

    Để thực hiện được mục tiêu và ý tưởng trên, có 3 vấn đề cần giải quyết trong quá trình xây dựng chỉ số giá cổ phiếu, đó là:

    - Chọn phương pháp

    - Chọn rổ đại diện

    - Tìm biện pháp trừ khử các yếu tố về giá trị để đảm bảo chỉ số giá chỉ phản ánh sự biến động của riêng giá.

    1. Phương pháp tính

    Hiện nay các nước trên thế giới dùng 5 phương pháp để tính chỉ số giá cổ phiếu, đó là:

    Phương pháp Passcher:

    Đây là loại chỉ số giá cổ phiếu thông dụng nhất và nó là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết thời kỳ tính toán. Kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ tính toán:

    Người ta dùng công thức sau để tính.


    Chỉ số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị lấy quyền số là quyền số thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số (cơ cấu chứng khoán niêm yết) thời tính toán.

    Các chỉ số KOSPI (Hàn quốc); S&P500(Mỹ); FT-SE 100 (Anh) ; TOPIX (Nhật) ; CAC (Pháp); TSE (Đài loan); Hangseng (Hồng công); các chỉ số của Thuỵ Sỹ,.. và VnIndex của Việt Nam áp dụng phương pháp này.

    Phương pháp Laspeyres.

    Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy quyền số là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc. Như vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ gốc:


    Có ít nước áp dụng phương pháp này, đó là chỉ số FAZ, DAX của Đức

    Chỉ số giá bình quân Fisher

    Chỉ số giá bình quân Fisher là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá Passcher và chỉ số giá Laspayres: Phương pháp này trung hoà được yếu điểm của hai phương pháp trên, tức là giá trị chỉ số tính toán ra phụ thuộc vào quyền số của cả 2 thời kỳ: Kỳ gốc và kỳ tính toán


    Về mặt lý luận có phương pháp này, nhưng trong thống kê chúng tôi không thấy nó áp dụng ở bất kỳ một quốc giá nào.

    Phương pháp số bình quân giản đơn:

    Ngoài các phương pháp trên, phương pháp tính giá bình quân giản đơn cũng thường được áp dụng. Công thức đơn giản là lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng khoán tham gia tính toán:


    Các chỉ số họ Dow Jone của Mỹ; Nikkei 225 của Nhật; MBI của Ý áp dụng phương pháp này. Phương pháp này sẽ tốt khi mức giá của các cổ phiếu tham gia niêm yết khá đồng đều, hay độ lệch chuẩn (s ) của nó thấp.

    Phương pháp bình quân nhân giản đơn


    Chúng ta chỉ nên dùng loại chỉ số này khi độ lệch chuẩn khá cao, () cao. Các chỉ số: Value line (Mỹ); FT-30 (Anh) áp dụng phương pháp bình quân nhân giản đơn này.

    Tuy nhiên về mặt lý luận, chúng ta có thể tính theo phương pháp bình quân cộng hoặc bình quân nhân gia quyền với quyền số là số chứng khoán niêm yết.

    Quyền số thường được dùng trong tính toán chỉ số giá cổ phiếu là số chứng khoán niêm yết. Riêng ở Đài Loan thì họ dùng số chứng khoán trong lưu thông làm quyền số, bởi vì tỷ lệ đầu tư của công chúng rất cao ở đây (80 .. 90%).

    2. Chọn rổ đại diện.

    Một nhiệm vụ thứ hai quan trọng trong việc xây dựng chỉ số giá chứng khoán là việc chọn rổ đại diện. Ở Sở giao dịch chứng khoán New york có trên 3000 cổ phiếu niêm yết, nhưng chỉ số tổng hợp Dow Jone chỉ bao gồm 65 cổ phiếu. Trong đó chỉ số Dow Jones công nghiệp (DJIA) chỉ bao gồm 30 cổ phiếu, Dow Jones vận tải (DJTA) bao gồm 20 cổ phiếu và Dow Jones dịch vụ (DJUA) bao gồm chỉ 15 cổ phiếu. Tuy chỉ bao gồm một số lượng cổ phiếu niêm yết rất nhỏ như vậy trong tổng thể nhưng các chỉ số Dow Jones vẫn trường tồn qua năm tháng, vì nó phản ánh được xu thế, động thái của quá trình vận động của giá cả. Rổ đại diện này là tiêu biểu, đại diện được cho tổng thể vì họ thường xuyên thay những cổ phiếu không còn tiêu biểu nữa bằng cổ phiếu tiêu biểu hơn. Ví dụ tháng 11/1999 họ đã thay 4 cổ phiếu trong rổ đại diện, công ty IBM cũng có lúc phải loại khỏi rổ đại diện khi thị trường PC nói chung phát triển và lấn át.

    Ba tiêu thức quan trọng để xác định sự tiêu biểu của cổ phiếu để chọn vào rổ đại diện là số lượng cổ phiếu niêm yết, giá trị niêm yết và tỷ lệ giao dịch, mua bán chứng khoán đó trên thị trường (khối lượng và giá trị giao dịch).

    Đối với Việt Nam, hay bất kỳ thị trường nào khi mới ra đời, số lượng các cổ phiếu niêm yết chưa nhiều, thì rổ đại diện nên bao gồm tất cả các cổ phiếu. Tuy nhiên cũng nên chú ý đến khối lượng và giá trị giao dịch. Nếu một cổ phiếu nào đó trong một thời gian dài không có giao dịch hoặc giao dịch không đáng kể thì nên tạm loại khỏi phạm vi tính toán. Có như vậy chỉ số chúng ta tính ra mới phản ánh được động thái vận động thực sự của giá cả thị trường.

    3. Vấn đề trừ khử ảnh hưởng của các yếu tổ thay đổi về khối lượng và giá trị trong quá trình tính toán chỉ số giá cổ phiếu

    Trong quá trình tính toán một số nhân tố làm thay đổi về khổi lượng và giá trị của các cổ phiếu trong rổ đại diện sẽ ảnh hưởng đến tính liên tục của chỉ số. Ví dụ như phạm vi, nội dung tính toán của ngày báo cáo không đồng nhất với ngày trước đó và làm cho việc so sánh bị khập khiễng, chỉ số giá tính ra không phản ánh đúng sự biến động của riêng giá. Các yếu tố đó là: Thêm, bớt cổ phiếu khỏi rổ đại diện, thay cổ phiếu trong rổ đại diện; nhập, tách cổ phiếu; thưởng cổ phần, thưởng tiền, tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới; bán chứng quyền; cổ phiếu trong rổ đại diện bị giảm giá trong những ngày giao dịch không có cổ tức...

    Để trừ khử ảnh hưởng của các yếu tổ thay đổi về khối lượng và giá trị trong quá trình tính toán chỉ số giá cổ phiếu, làm cho chỉ số giá cổ phiếu thực sự phản ánh đúng sự biến động của riêng giá cổ phiếu mà thôi người ta dùng kỹ thuật điều chỉnh hệ số chia. Đây là một đặc thù riêng của việc xây dựng chỉ số giá chứng khoán.

    Để hiểu bản chất của kỹ thuật này, chúng ta hãy xem xét một ví dụ đơn giản sau: Chỉ số tính theo phương pháp bình quân giản đơn (phương pháp Dow Jones). Giá 3 cổ phiếu hình thành như sau:

    Cổ phiếu Giá ngày giao dịch 1 Giá ngày giao dịch 2 Giá ngày giao dịch 3
    A

    B

    C
    17

    13

    15

    19

    13

    16
    19

    13

    8

    Tổng giá 45 48 30

    DJA ngày 1 là 45/3 =15 (ngàn đồng, hay điểm)

    DJA ngày 2 là 48/3 = 16 (ngàn đồng, hay điểm), tăng 1 điểm hay 6.7%

    Ngày thứ 3 cổ phiếu C tách làm hai và giá coi như không có gì thay đổi (cổ phiếu C giảm còn 8 không coi là giảm giá, mà chỉ vì cổ phiếu tách đôi).

    Về nguyên tắc nếu giá không có gì thay đổi, thì chỉ số vẫn giữ nguyên. Ta không thể lấy tổng mới chia cho 3: 30/3=10 để kết luận chỉ số giá đã giảm 5 ngàn (điểm) được. Vì thực chất giá không hề thay đổi . Bởi vậy chỉ số giá mới tính ra phải bằng 15 như ngày 2. Đây là cốt lõi của kỹ thuật tính toán lại hệ số chia. Kỹ thuật hết sức đơn giản: áp dụng quy tắc tam suất mà chúng ta đã học từ lớp 4

    Cụ thể là:

    48 == ====> Hệ số chia là 3 (Do)

    30 =======> Hệ số chia là D1

    Từ đây suy ra D1 =(30 x 3)/48 = 1.875 và DJA ngày thứ 3 là 30/1.875 = 16 không có gì thay đổi. Chỉ số này phản ánh đúng động thái của giá (không đổi). Trong thực tế giá thường có thay đổi nên chỉ số sẽ có giao động. Nhưng khi tính lại hệ số chia người ta luôn giả định giá không đổi. Tức là hệ số chia của ngày giao dịch được xác định trước khi xẩy ra giao dịch.

    Chúng ta cũng có thể tham khảo thêm ví dụ sau về phương pháp tính chỉ số giá gia quyền giá trị Passcher mà nước ta đang áp dụng, công thức tính như sau:

    Chứng khoán Khối lượng niêm yết Giá đóng cửa 21/7 Giá đóng cửa ngày 31/7 Giá đóng cửa ngày 2/8
    A

    B

    C
    1000

    2000

    5000
    10

    15
    12

    16

    18
    13

    17

    20


    - Chỉ số giá ngày giao dịch đầu tiên là 100% (điểm)

    = 100x(1000x10+2000x15)/(1000x10+2000x15) = SQoPo/Do =100

    Phải nhân với 100 bởi vì chúng ta quy ước ngày đầu là 100 điểm

    Do = 1000x10+2000x15 = 40000

    - Chỉ số giá ngày 31/7 là 110 % (điểm) tăng 10% hay 10 điểm

    = 100x (1000x12 + 2000x16)/ (1000x10+2000x15) = SP1 Q1/D1 =110

    Trong trường hợp này Do =D1 = 40000 và ngày này cổ phiếu C chưa được tham gia vào việc tính chỉ số giá (vì mới có giá ban đầu chưa có thay đổi). Do đó chỉ số giá của ngày 31/7 chỉ là chỉ số giả tổng hợp của 2 cổ phiếu A và B mà thôi.

    - Chỉ số giá ngày 2/8 là 120,67 điểm tăng 10,67 điểm, phương pháp tính như sau:

    = 100x(13x1000+17x2000+20x5000)/ D2 = SP2Q2/D2 = 120,67 tăng 10,67 điểm

    Tính D2 như sau:

    ( 12x1000 + 16x2000) ==> Hệ số chia là (10x1000+ 15x2000)

    ( 12x1000 + 16x2000 +18x5000) ==> Hệ số chia là D2

    Từ đó:

    (10x1000+ 15x2000)x( 12x1000 + 16x2000 +18x5000)

    D2 = --------------------------------------------------------------------------- = 121 818,1818

    ( 12x1000 + 16x2000)


    Hệ số chia đã thay đổi từ 40 000 (Do và D1) thành 121 818,1818 (D2)

    Trong 2 phiên giao dịch ngày 21 và 31 hệ số chia không có gì thay đổi và đều chia cho gốc, vì vậy chỉ số thực sự là tính theo % so với gốc và vì thế ở hai ngày này chúng ta có thể gọi là điểm hay % cũng đúng. Đến phiên giao dịch 2/8 thì điều này không đúng nữa, bởi vì ta đã đổi hệ số chia và vì vậy kết quả tính toán lần này chỉ có thể gọi là điểm.
  10. buocnhay

    buocnhay Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    13/04/2007
    Đã được thích:
    0
    Sao nhãng khi đầu tư

    Các nhà đầu tư riêng lẻ thường không thể bắt đầu một chương trình hay kế hoạch đầu tư đơn giản chỉ bởi vì họ thiếu những kiến thức cơ bản để xem là mình nên bắt đầu từ đâu và bắt đầu như thế nào. Cũng giống như vậy, quá lười theo dõi tình hình cũng thường gây nản chí nếu đã từng bị thua lỗ lần trước đó hoặc khi thị trường đang rơi vào tình trạng suy thoái. Để chắc ăn, các nhà đầu tư nên liên tục đầu tư vào tất cả các thị trường, cho dù phải sử dụng những cách thức đầu tư khác nhau cũng như phải thiết lập một cơ chế làm việc để có thể thường xuyên để mắt tới danh mục đầu tư của mình. Các nhà đầu tư cũng nên thường xuyên xem lại những gì mình đã có để đảm bảo là mình đang làm đúng như những chiến lược tổng thể đã đề ra.

    Có một điều rất quan trọng mà bạn cũng không nên bỏ qua đó là bạn phải biết mình có khả năng chịu đựng rủi ro đến đâu. Bởi vì luôn có rủi ro trong khi đầu tư nên bạn phải thật thực tế và đánh giá mức độ chịu rủi ro của bạn để từ đó đầu tư cho thật hợp lý. Nói chung, những nhà đầu tư đã đặt ra những mục tiêu dài hạn thì cũng nên sẵn lòng đón nhận khả năng có thể có nhiều rủi ro hơn nhưng đổi lại thì họ lại có thể nhận được những phần thưởng có giá trị hơn thế

Chia sẻ trang này