Làm gì để tồn tại khi thị trường chứng khoán suy sụp?

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by stockpro, Jul 3, 2008.

1138 người đang online, trong đó có 455 thành viên. 19:23 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. stockpro

    stockpro Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Aug 15, 2006
    Likes Received:
    32
    Làm gì để tồn tại khi thị trường chứng khoán suy sụp?

    Làm gì để tồn tại khi thị trường chứng khoán suy sụp?

    Thôi không hoảng sợ khi danh sách đầu tư của bạn bị thu hẹp. Thay vào đó. Một số người nên nghĩ đến chuyện mua vào.

    Chỉ có một điều duy nhất để nói về những biểu hiện của thị trường chứng khoán hiện thời: "Ôi trời!"

    Trong thời kì khó khăn, việc bạn nên hay không nên cố gắng kiểm soát các quỹ chung, cổ phiếu, trái khoán và các cổ phần khác, phụ thuộc hoàn toàn vào bạn thuộc nhóm tuổi nào.

    Như đã sảy ra vào tháng Một và Ba, phương thức đo sự hoang mang đang bắt đầu đưa ra lời khuyên những nhà đầu tư nhỏ chịu đựng sự thôi thúc làm một việc gì đó thiếu suy nghĩ, ví dụ như đổ tất cả cố phiếu vào đĩa CD

    Và những người bị nỗi hoảng sợ ám ảnh sẽ trả lời: "Thật quá dễ để bạn nói. Tôi bị mất 20.000USD"

    Vậy là, đối với tất cả những ai mà lời khuyên "Đừng hoảng sợ" vẫn chưa đủ, hãy để tôi gợi ý phương thức đối phó một cách có xây dựng đối với thị trường đầu cơ giá hạ hiện nay. Những lời đề nghị đó được quy định bởi phạm trù lứa tuổi.

    Những người sớm thích làm giàu (tuổi từ 20 đến 35):

    Đối với nhóm này, lời khuyên thật dễ dàng: Mua thêm những cổ phiếu mới bán hạ giá.

    So với thu nhập, giá cổ phiếu hiện nay dường như thấp nhất so với giá chúng đã từng có trong suốt 10 năm qua. Xin nhớ rằng quy tắc đầu tiên của đầu tư là mua thấp bán cao, và ngay tại thời điểm này, chúng ta đang ở vị trí thấp.

    Ở giai đoạn này trong cuộc đời của bạn, bạn cần không nên lo lắng cho việc lên xuống của thị trường hàng ngày. Những mất mát duy trì trong năm nay là quá nhỏ bé so với những gì bạn cần phải tích luỹ trong suốt 30 đến 40 năm.

    Những người ở nửa quãng đường đi làm (tuổi 35 đến 50):

    Hãy gắn với kế hoạch của trò chơi, và nếu bạn không có một kế hoạch, hãy lập ra nó.

    Với những người trong nhóm tuổi này, bạn có vô số thời gian thuộc về bạn để bù lại những mất mát. Nhưng bạn không thể lãng phí thời gian cho những việc làm ngốc nghếch. Trước khi biết những điều đó, thời gian, lợi thế lớn nhất cho một nhà đầu tư sẽ trôi qua.

    Bạn cũng nên có cái nhìn cụ thể hơn đối với các tài khoản đầu tư với định hướng về việc tái cân bằng. Hãy suy nghĩ về việc cắt giảm bớt cổ phần trong lĩnh vực đã từng thành công trong vòng ba năm trở lại đây, như những thị trường mới nổi lên, những hàng hoá, và năng lượng, và có thể bị rủi ro vì sự thụt giảm trầm trọng. Chuyển số tiền đó sang lĩnh vực khác đã từng không được suôn sẻ lắm, và có thể đứng giá để chờ khả năng phục hồi.

    Đối với nhóm này, tôi xin gợi ý các bạn biết chắc rằng bạn đang nắm giữ cổ phiếu có triển vọng của các công ty cổ phần quốc tế, ở đâu đó khoảng 15% đến 25% toàn bộ danh sách vốn đầu tư của bạn.

    Nhóm sắp nghỉ hưu (tuổi từ 50 đến 65):

    Đó là những người thuộc nhóm mà tôi lo lắng nhất.

    Danh sách vốn đầu tư của bạn được hồi phục từ sau khi thị trường suy giảm vào những năm 2000-2002. Và giờ đây, bạn có thể sẽ phải đối mặt với một thị trường đầu tư hạ giá mở rộng, chỉ đơn thuần do bạn bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về việc khi nào bạn có thể nghỉ hưu. Trên tất cả những điều này, giá trị cổ phiếu nội địa mà bạn đang trông đợi như chặng cuối của nguồn tài chính cũng đang sụt giảm.

    Đối với những người sắp nghỉ hưu, thật không nguy hiểm khi bạn dành sự chú ý đặc biệt đến các khoản tài chính.

    Nhưng, còn hơn là hành động một cách vội vàng. Tôi gợi ý bạn nên xem xét lại sự phân phối tài sản, xem bạn có bao nhiêu tài sản dưới dạng cổ phiếu trong tương quan với tiền mặt và trái khoán, và đánh giá xem liệu đó có phải là sự kết hợp đúng đắn giữa các loại tài sản đó.

    Bạn nên chắc chắn rằng, bạn đang nắm giữ một lượng cổ phiếu hợp lí, những trái khoán để hành động như một lực phản kháng, đảm bảo ổn định đối với cổ phần và tạo nên món lợi thu được có tiềm năng nhiều hơn tiền mặt.

    Đối với những người chỉ còn một vài năm sẽ nghỉ hưu, tôi gợi ý các bạn hãy chuẩn bị trước cho bản thân mình để đón nhận khoản thu nhập giảm sút trong tương lai bằng cách bắt đầu hạn chế những khoản chi phí không cần thiết từ ngân sách hiện thời của bạn. Tôi không gợi ý một lối sống của kẻ nghèo túng trong việc tạo nên khoản thu nhập tương đối. Tại sao không loại bỏ chúng đi ngay bây giờ?

    Đối với những người cận kề thời điểm nghỉ hưu, một cách chắc chắn nhất bù lại những mất mát trên thị trường là không ngừng sưu tầm tên của các tổ chức An toàn Xã hội. Việc này phải được làm từ trước đến tận khi thời điểm nghỉ hưu thực sự bắt đầu, và không đợi đến tận tuổi 62 như một số người vẫn làm. Điều này sẽ đặc biệt đúng đối với những phụ nữ độc thân, những người không có khoản thu nhập của chồng để dựa vào, và những quý ông có gia đình và có thu nhập cao hơn các bà vợ. Một khoản lợi nhuận nhiều hơn mong đợi sẽ cung cấp cho một tầng lớp đặc biệt cần sự an toàn. Liệu các bà vợ của các ông có nên sống lâu hơn ông trong một khoảng thời gian nữa.

    Những người đã nghỉ hưu (tuổi ngoài 65):

    Không có nhiều nhu cầu. Không còn nghi ngờ gì rằng những người đã chính thức nghỉ hưu theo dõi tiền nong của mình cẩn thận hơn.

    Khi đối mặt với những sự kiện sảy ra trên thị trường, những người hiện đã nghỉ hưu cần chú ý nhiều hơn tới việc hàng năm bạn rút bao nhiêu hạng mục ra khỏi danh sách vốn đầu tư. Quy tắc tự đặt chung nhất là bạn có thể rút một cách an toàn 4% hàng năm từ ổ trứng của bạn trong những năm mới nghỉ hưu, và tăng dần con số đó theo thời gian.

    Đối với tất cả các nhóm, những thay đổi này không giảm bớt sự đau buồn về những gì sảy ra trên thị trường chứng khoán. Nhưng, hi vọng rằng, chúng sẽ làm bớt đi những tiếng kêu "Ôi trời!"

    Theo ABC News



    http://quacauvang.com.vn/tabid/36/Default.aspx?CompanyID=10

  2. stockpro

    stockpro Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Aug 15, 2006
    Likes Received:
    32
    Việt Nam: nguy hiểm mới từ FDI

    Một nhà nghiên cứu của Viện Quan hệ Quốc tế hiện đại Trung Quốc đã đưa ra những bằng chứng rằng Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu cho thấy sự nguy hiểm xuất phát từ vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

    Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, bất động sản và tiền tệ gần đây bị gây ra bởi sự căng thẳng giữa các nhà đầu tư Châu Á, những người vẫn còn nguyên những ký ức tươi mới về khủng hoảng tài chính năm 97-98.

    Mặc dù Hà Nội đã phát triển rất nhanh chóng và cứ cho là trung tâm trao đổi ngoại tệ của nó đông đúc như 3 ngày Tết, thế nhưng nó vẫn chưa làm dịu nỗi lo sợ của thị trường thực sự đang lan rộng ra các nước lân cận. Và rõ ràng rằng, các phương pháp Việt Nam đưa ra để kiểm soát lạm phát đã không thể làm việc có hiệu quả từ khi nó phớt lờ đi độ lệch trong cấu trúc kinh tế của mình.

    Ngày 2/7/1997, sự sụt giá của đồng Bạt Thái đã gây ra một cơn khủng hoảng tài chính khu vực làm ảnh hưởng đến hầu hết thị trường Đông Nam Á và gây ra những thiệt hại kinh tế nghiêm trọng đối với các nước trong khu vực này. Từ đó đến nay, thị trường tài chính Đông Nam Á đã trở nên rất nhạy cảm và lo ngại khủng hoảng có thể trở lại.

    Để gợi lại khủng hoảng, hẳn là phải có một cuộc khủng hoảng tín dụng và kinh tế vĩ mô do tiền tệ sụt giá chứ không chỉ là một cơn khủng hoảng tiền tệ đơn giản. Bản thân khủng hoảng là một sản phẩm của cấu trúc kinh tế mỏng manh dễ vỡ của Đông Nam Á do cấu trúc đầu tư nước ngoài chênh lệch cả trong hệ thống đầu tư và xuất khẩu, tài chính và tín dụng ngân hàng.

    Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các nhà đầu tư nước ngoài và vấn đề xuất khẩu là những động lực chính dẫn đến sự bùng nổ kinh tế của khối Đông Nam Á và có thể được coi như điểm then chốt của "Phép màu Đông Á".

    Đông Nam Á, như một nền kinh tế mới tăng trưởng, đã không thu hút những nhân tố sản xuất như kỹ thuật công nghệ và cách quản lý và kết hợp chúng với những yếu tố sở tại, hậu quả là, nó đã không nắm được cơ hội mà vốn đầu tư nước ngoài đã đem đến để định dạng trụ cột chính cho ngành công nghiệp và động lực sản xuất của nó cũng như là vấn đề tăng trưởng kinh tế ổn định. Mỗi lúc nền kinh tế của khu vực này có một bước nhảy vọt lớn thì lại lù lù xuất hiện ngay một cơn suy thoái khó lường.

    Khủng hoảng năm 1997-98 là hình ảnh thu nhỏ của sự mỏng manh dễ vỡ đến như vậy của cấu trúc kinh tế khu vực này. Vốn nước ngoài dẫn tới tăng trưởng đầu tư và xuất khẩu đã mang đến cho khu vực này thặng dư kinh tế và dự trữ ngoại hối rất lớn, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, ngay khi Đông Nam Á không thể xác định được cấu trúc công nghiệp của riêng nó, thì sự điên cuồng của tiêu dùng địa phương đã lát đường cho vốn đầu tư nước ngoài thâm nhập vào hệ thống tài chính và bất động sản.

    Vì vậy, nền kinh tế khu vực bắt đầu xuất hiện bong bong và chính phủ các nước đã bị ép phải tăng lãi suất và nâng giá trị của tiền tệ, điều này chắc chắn thu hút nhiều hơn quỹ tín dụng từ các ngân hàng phương tây. Do đó cấu trúc tài sản của các ngân hàng địa phương đã có xu hướng trở thành 100% vốn đầu tư nước ngoài.

    Khi thiết lập kinh tế vĩ mô tốt, thì dòng tiền nước ngoài sẽ đổ vào một cách thích hợp và giúp kinh tế địa phương tiến lên phía trước. Nhưng chỉ một lần phải điều chỉnh, thì vốn nước ngoài sẽ nhanh chóng bị rút ra gây nên sự thiếu hụt đột ngột tính thanh khoản của thị trường. Và sự sụp đổ trong tất cả các thị trường như chứng khoán, bất động sản, và tiền tệ sẽ trầm trọng thêm và đẩy suy thoái vào cuộc khủng hoảng tài chính do vốn đầu tư nước ngoài.

    Hiển nhiên, vốn nước ngoài, hiệu suất và các chính sách của nền kinh tế vĩ mô địa phương liên quan lẫn nhau gây ảnh hưởng dọc theo cả tiến trình này. Một mặt, vốn nước ngoài tạo ra động lực chính để điều khiển nền kinh tế, mặt khác, nó tăng thêm "lượng gia" vì nó phụ thuộc quá nhiều vào hiệu suất và các chính sách điều chỉnh.

    Tuy nhiên, đó là khoản gia tăng bị chính phủ địa phương phớt lờ đi. Ví dụ như, các quốc gia Đông Nam Á liên tục tăng lãi suất của họ, thay vì vận dụng đến cách cắt giảm tài chính để kiềm chế thị trường quá nóng. Nhưng hậu quả đang ở ngay trước mắt bởi vì mọi sự cắt giảm lãi suất sẽ nâng giá tiền tệ địa phương và hấp dẫn nhiều tiền hơn từ các nhà đầu cơ tích trữ.

    Không thể xem nhẹ việc này vì trước đó đã từng nổ ra khủng hoảng 1997-98, mức thâm hụt thương mại khu vực đã xuất hiện do giảm tính cạnh tranh khi tiền tệ tăng giá. Trong khi đó, tiên dùng và bất động sản vẫn duy trì ở mức ?onóng? gây ra sự mất thăng bằng nghiêm trọng đối với cấu trúc tăng trưởng kinh tế và nguy cơ cao đối với các nền kinh tế vĩ mô. Thực tế là, sau đó Thái Lan đã lựa chọn tự do hóa hối đoái đầu tiên trong khu vực, điều đó đưa ra một khoảng thời gian tốt nhất cho các quỹ đầu tư để "hành động nhanh".

    Ảnh: ChinaDaily


    Không thể phủ nhận rằng, cũng có vấn đề về vốn nước ngoài và cấu trúc kinh tế nguy cơ cao giống y như vậy đang tồn tại trong nền hình tế Việt Nam ngay lúc này. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng vẫn chưa phát triển đủ để hấp dẫn các quỹ tín dụng và tiền nước ngoài hiện vẫn thường xuyên tập trung ở thị trường chứng khoán và bất động sản. Kể từ năm 1997 đặc biệt khi khối ASEAN thiết lập hiệp định trao đổi tiền tệ song phương với Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc, thì việc tấn công đồng nội tệ Việt Nam không còn dễ dàng nữa. Vì vậy, thậm chí nếu thị trường Việt Nam có sụp đổ trong thời gian ngắn, nó sẽ không gây ra một cơn khủng hoảng tiền tệ sụt giá kinh khủng như năm 1997.

    Thế nhưng, vẫn có lo ngại rằng nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang có độ lệch nghiêm trọng trong cấu trúc tiêu dùng công nghiệp. Nó có thể gây ra những nguy cơ mới thông qua sự hỗn loạn thị trường.

    Khía cạnh đầu tiên là vấn đề thâm hụt thương mại. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu dầu mỏ và quặng sắt, trong khi tiêu dùng nội địa của nó tập trung vào các sản phẩm từ dầu mỏ, sắt, thép, và hàng hóa tiêu dùng. Mặc dù giá gạo tăng làm tăng thu nhập xuất khẩu, nhưng vẫn có những khó khăn để đảo ngược mức thâm hụt của nó từ khi hàng hóa tiêu dùng tăng giá kinh khủng. Mức thâm hụt thương mại này đối lập rõ nét với dòng vốn khổng lồ, và một khi dòng vốn này thoái lui hoặc thay đổi ở đâu đó, thì khủng hoảng kinh tế là không thể tránh được vì thiếu vốn.

    Thứ hai là, khuynh hướng tư bản hóa của tiêu dùng làm kiệt quệ đầu tư nước ngoài một cách vô ích và nhanh chóng mở rộng nguy cơ khủng hoảng nợ nước ngoài. Trong những năm gần đây, tiêu dùng Việt Nam đã tăng rất nhanh không chỉ ở thị trường bất động sản hay vàng mà còn ở thị trường ô tô cao cấp như là để tích lũy tài sản.

    Ví dụ, xe máy cao cấp của Honda và Yamaha đã trở thành tài sản của người Việt Nam sau khi nước ta bãi bỏ lệnh cấm ?omỗi người một xe? ở 7 thành phố lớn, và được ước tính quy mô thị trường của nó sẽ tăng gấp 3 lần so với thị trường Nhật Bản cho đến cuối năm nay.
    Năm 2003, Việt Nam đã ký với Nhật Bản hiệp ước Khởi đầu chung Nhật ?" Việt để làm mạnh thêm sự đầu tư của Nhật Bản đối với nước này. Và tháng 12/2005, hai bên đã thống nhất những quy định riêng trên 7 lĩnh vực chính như đầu tư, lao động, công nghiệp và thuế? Vốn nước ngoài của Việt Nam đã tăng lên và trở nên lệch về phía Nhật Bản, thế nhưng nó khó có thể tránh khỏi nguy cơ của các chính sách lệch vốn nước ngoài một khi Nhật Bản thay đổi chiến lược đầu tư.

    Theo ChinaDaily

Share This Page