Lý do cổ phiếu TCNH không lên được?

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi buonbanCP, 02/10/2009.

148 người đang online, trong đó có 59 thành viên. 02:27 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 295 lượt đọc và 0 bài trả lời
  1. buonbanCP

    buonbanCP Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    12/04/2007
    Đã được thích:
    962
    Lý do cổ phiếu TCNH không lên được?

    Các ngân hàng Việt Nam đang được hưởng lợi từ việc tăng lãi suất cho vay; vào năm 2008, lãi suất cho vay vào khoảng 21% trong khi mức tăng trưởng kinh tế chỉ là 6%. Vào nửa đầu năm 2009, GDP tăng 4%, đưa Việt Nam vào nhóm một số rất ít các nước có nền kinh tế tăng trưởng vào năm 2009.



    Lạm phát cao ?" trên 28% vào tháng 8 năm 2008 ?" khiến chính phủ thắt chặt chính sách tiền tệ và giới hạn lãi suất cho vay ở mức 30% vào năm 2008. Chính phủ cố gắng đề hạn chế mức lạm phát ở mức dưới 10% (4% vào tháng 6/2009) trong lúc áp lực về lạm phát lại đang gia tăng. Lãi suất cho vay đã bị giới hạn từ 25% - 27% cho năm 2009 (17% cho 6 tháng đầu năm).



    Bất chấp những khó khăn của môi trường kinh tế, tăng trưởng có vẻ sẽ đươc hưởng lợi từ việc tái tổ chức nền kinh tế gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài. Moody dự đoán Việt Nam sẽ có mức tăng GDP 4,5% vào năm 2009 và 5% vào năm 2010, trái ngược với xu hướng suy giảm chung của thế giới và khác hắn so với các nước láng giềng.



    Gói kích cầu 8 tỷ USD của chính phủ có vẻ như đã đem tạo hiệu quả tốt. Gói kích cầu bao gồm cả việc hỗ trợ lãi suất cho vay kể từ tháng 2/2009 (chính phủ bù 4% lãi suất), cắt giảm thuế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ 30%, và giảm thuế giá trị gia tăng từ mức 10% xuống còn 5%.



    Mục tiêu hướng tới là khuyến khích đầu tư, tăng vốn cho khu vực ngân hàng, và tăng sức cạnh tranh.



    Hầu hết các ngân hàng địa phương đều báo cáo mức lợi nhuận hợp lý vào năm 2008, bất chấp việc gặp phải rất nhiều khó khăn. Điều này bao gồm cả sự thay đổi thất thường của lãi suất, với việc mức lãi suất cơ bản tăng từ 8,25% lên 14% nửa đầu năm 2008, trước khi giảm xuống 7% vào năm 2009. Thông thường thì lãi suất cho vay không vượt quá 10,5%/năm, với mức trần mà ngân hàng nhà nước Việt Nam đặt ra yêu cầu lãi suất không được vượt quá 1,5 lần lãi suất cơ bản.



    Khi minh bạch trong kế toán còn hạn chế, thì việc đánh giá các ngân hàng trên các con số cơ bản vẫn còn khó khăn. Tuy nhiên, các ngân hàng Việt Nam đang tiến đến Tiêu Chuẩn Báo Cáo Tài Chính Quốc Tế (IFRS). Trong khi khả năng quản trị điều hành còn yếu, khung pháp lý yếu và cải tộ chậm, chính phủ Việt Nam đang cố gắng phát triển khung pháp lý riêng cho ngành ngân hàng



    Nguồn thu của các ngân hàng Việt Nam chủ yếu vẫn là từ mảng doanh nghiệp, mảng bán lẻ vẫn còn kém phát triển với chỉ 17% dân số có tài khoản ngân hàng.



    Nhìn chung chất lượng quản lý tài sản đã tăng trong vòng 2 năm qua, nhờ vào việc các ngân hàng nhà nước xóa các khoản nợ không hiệu quả (NPL) và thực hiện theo tiêu chuẩn của IFRS

    Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đạt 3,5% tổng số nợ cuối năm 2009, tăng từ mức 2% trong năm trước. Nợ xấu theo tiêu chuẩn IFRS cao hơn đáng kể so với tỷ lệ NPL theo tiêu chuẩn kế toán Việt Nam. (VAS). Tỷ lệ theo tiêu chuẩn IFRS có thể ca gấp 3 lần theo tiêu chuẩn VAS.



    Các ngân hàng Việt Nam nhìn chung có tỷ lệ vốn thấp hơn so với tiêu chuẩn quốc tế. Do vậy, nhiều ngân hàng quốc doanh muốn cổ phần hóa cần phải được bơm tiền từ chính phủ và từ các nhà đầu tư chiến lược để thêm vào bào cáo tài chính. Vào cuối năm 2010, các ngân hàng phải bắt buộc có vốn đăng ký ít nhất 3 nghìn tỷ VND. Với tỷ lệ này có thể buộc một số ngân hàng phải sát nhập.



    Hiện tại có 4 ngân hàng được đánh giá tín nhiệm hạng B1 về tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ, dao chịu ảnh hưởng của mức trần tiền gửi. Nếu mức trần được dỡ bỏ, 4 hạng tín nhiệm này sẽ được nâng lên. Tín nhiệm dữ trữ ngoại tệ bị thay đổi từ mức tích cực sang mức tiêu cực vào ngày 04/06/2008 theo sau sự thay đổi về tín nhiệm về hạng B1 của mức trần tiền gửi của Việt Nam.

Chia sẻ trang này