Mời các bác bình luận về bài phản biện báo cáo của Harvard trên vneconomy. Nếu Lãnh đạo VN mà cũng t

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi hadongsp, 08/07/2008.

2806 người đang online, trong đó có 1122 thành viên. 15:37 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 427 lượt đọc và 2 bài trả lời
  1. hadongsp

    hadongsp Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    07/02/2007
    Đã được thích:
    1
    Mời các bác bình luận về bài phản biện báo cáo của Harvard trên vneconomy. Nếu Lãnh đạo VN mà cũng tư duy như vậy thị n

    ?oBáo cáo Harvard? có chủ quan?

    Cả thập kỷ qua, Việt Nam mới cấp 2 giấy phép lập ngân hàng mới.
    Nhóm nghiên cứu của Đại học Harvard có những đánh giá thẳng thắn, nhưng một số kết luận dường như khá chủ quan.


    Theo ?ođơn đặt hàng? của Chính phủ Việt Nam, bản báo cáo thứ hai của nhóm nghiên cứu đã hoàn thành, dưới tiêu đề ?oVượt qua khủng hoảng và tiếp tục đẩy mạnh cải cách?.

    Bản báo cáo này có nhiều đánh giá, kết luận quan trọng, liên quan đến những vấn đề lớn của nền kinh tế Việt Nam; trong đó, chủ yếu là những bất cập và lo ngại. Nhưng, còn có một số điểm chưa thuyết phục.

    Bài viết này thử xét lại một số vấn đề xoay quanh câu chuyện lập ngân hàng mới tại Việt Nam mà bản báo cáo trên đưa ra.

    1. Theo bản báo cáo, ?ohệ thống tài chính của Việt Nam rất dễ bị tổn thương, trong đó ngân hàng hiện là khu vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất?. Nhận định này được lý giải từ 3 nguồn gốc, nhưng sự lý giải không được ?ođặc biệt nhấn mạnh? như ý của các tác giả.

    Nguồn gốc thứ nhất và cũng là khẳng định thứ nhất: ?oViệt Nam đã quá dễ dãi đối việc mở ngân hàng mới?. Một khẳng định quan trọng, nhưng không có bất cứ một thông tin phân tích, lý giải, chứng minh ?odễ dãi? như thế nào, cũng có thể vì khuôn khổ hạn chế của một bản báo cáo.

    Thay vì lý giải, chứng minh, các tác giả liên hệ sự dễ dãi đó với cuộc khủng hoảng và đổ vỡ ngân hàng tại Indonesia những năm 1980 như một sự cảnh báo; trong đó, phần chú thích lại có thêm những so sánh không đối xứng.

    Dễ dãi hay không, cần có sự phản biện của Ngân hàng Nhà nước, người trong cuộc. Còn trên thực tế, cả thập kỷ qua, Việt Nam mới cấp 2 giấy phép lập ngân hàng mới. Đó cũng là kết quả của hàng chục bộ hồ sơ xếp hàng trên bàn Ngân hàng Nhà nước. Trong số đó, có cả những trường hợp gửi công văn kiến nghị xem xét lên Thủ tướng, nhưng hiện vẫn chưa được đáp ứng?

    Kinh doanh ngân hàng, pháp luật Việt Nam không cấm. Dễ dãi hay thận trọng thể hiện ở những rào cản trong điều kiện cấp phép. Và khi quy chế thành lập ngân hàng mới ban hành (tháng 6/2007) lập tức đã có sự thanh lọc những nhu cầu từ địa phương, những nhu cầu vốn mỏng?

    Theo quy trình, hồ sơ đầy đủ thường mất 3 tháng để xem xét, 6 tháng để quyết định chính thức. Và nay, thời điểm tròn một năm quy chế mới có hiệu lực mà hơn 20 bộ hồ sơ đó mới chỉ có 2 giấy phép chính thức. Đó là sự dễ dãi hay thận trọng? Ở đây, xin nhắc lại đó là hoạt động kinh doanh pháp luật Việt Nam không cấm.

    2. Trở lại với so sánh không đối xứng của các tác giả trong chú thích liên hệ với cuộc khủng hoảng và đổ vỡ hệ thống ngân hàng tại Indonesia những năm 1980.

    Theo chú thích trong bản báo cáo, tăng trưởng tín dụng trung bình của các ngân hàng tư nhân nhỏ tại Indonesia là trên 40%/năm trong giai đoạn 1988 ?" 1996, bằng khoảng một nửa tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ ở Việt Nam trong năm 2007.

    So sánh trên có vấn đề. Tại sao lại so sánh bình quân của cả một giai đoạn với một năm? Nếu tính bình quân tăng trưởng tín dụng 5 - 6 năm gần nhất của các ngân hàng nhỏ Việt Nam để so sánh đối xứng hơn thì chắc chắn sẽ có một tỷ lệ thấp hơn 40%/năm, thay vì gián tiếp so sánh với khoảng 80% trong năm 2007.

    So sánh đó cũng quá khập khiễng khi năm 2007 là một năm đặc biệt của các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ ở Việt Nam, năm của nhiều ngân hàng có sự chuyển đổi từ ngân hàng nông thôn lên đô thị. Tính chất đặc biệt này ảnh hưởng lớn tới tăng trưởng tín dụng, khi lên đô thị, họ bước vào một ?osân chơi? rộng lớn hơn, cơ hội gia tăng khách hàng, thị phần lớn hơn.

    Trong so sánh đó, các tác giả gián tiếp cảnh báo đến khả năng đổ vỡ tương tự tại Việt Nam khi tăng trưởng tín dụng quá nóng. Nhưng trong năm 2008 này, tỷ lệ liên quan đã được Ngân hàng Nhà nước khẳng định chốt ở ?otrần? 30%; và có thể còn khống chế trong những năm tiếp theo.

    Còn nếu xét cả hệ thống, ngoài sự đột biến của năm 2004 và 2007, tăng trưởng tín dụng những năm gần đây ở mức tương đối: năm 2000 là 38,1%, năm 2001 là 21,4%, năm 2002 là 22,2%, năm 2003 là 28,4%, năm 2004 là 41,5%, năm 2005 chỉ là 19,2%, năm 2006 là 21,4%, năm 2007 là 51,39% và năm 2008 chốt tối đa 30%.

    3. Một nguồn gốc khiến hệ thống tài chính của Việt Nam rất dễ tổn thương, theo bản báo cáo, là ?oViệt Nam hiện đang lặp lại sai lầm của nhiều nước đang phát triển trong việc cho phép các tổ chức phi ngân hàng (ví dụ như các tập đoàn) thành lập ngân hàng?.

    Khác với nguồn gốc nói trên, ở nguồn gốc và cũng là khẳng định này có diễn giải. Đó là hệ lụy từ ?osự biến dạng nghiêm trọng trong việc phân bổ tín dụng khi các tập đoàn sử dụng ngân hàng của mình như những máy rút tiền tự động để cho các công ty thành viên vay, bất kể rủi ro các khoản vay này là như thế nào?.

    Không biết khi đưa ra những nhận định trên, các tác giả đã nghiên cứu quy chế cho vay của các ngân hàng thương mại hiện nay hay chưa. Và việc cho rằng các tập đoàn rút tiền ngân hàng cho vay các công ty thành viên ?obất kể rủi ro các khoản vay này là như thế nào? có chủ quan không, có phi hoạt động ngân hàng không?

    Theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, hoạt động cho vay ưu ái ?ongười nhà? bị loại trừ hoặc có những hạn chế nhất định; bởi chính lịch sử ngân hàng Việt Nam đã từng vấp phải những trường hợp đổ vỡ đó, hậu quả vẫn còn dư âm đến ngày nay.

    Cụ thể, Mục 1, Điều 19 quy chế trên quy định các tổ chức tín dụng không được cho vay đối với khách hàng là thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) của mình; các cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết định cho vay; và ngay cả bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên nói trên?

    Còn theo Điều 20 của Quy chế, tổ chức tín dụng không được ?oưu ái? cho vay không có bảo đảm, cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với các cổ đông lớn của mình; các doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.

    Ngoài ra, chính các ngân hàng phải tuân thủ yêu cầu thẩm định cho vay, hạn mức, thời hạn cho vay? theo quy định đối với các khách hàng nói chung (ngoại trừ các trường hợp đặc biệt được sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước).

    Tất nhiên, trong khuôn khổ của một bản báo cáo, nhóm nghiên cứu của Đại học Harvard khó lòng lý giải và phân tích chi tiết các trường hợp và khẳng định của mình. Nhưng, những vấn đề nêu trên đều có tầm quan trọng và ảnh hưởng nhất định đối với dư luận, nhà đầu tư, khi mà thời điểm này giới hạn thời gian hạn chế phổ biến của bản báo cáo đã kết thúc.

    (Theo VnEconomy
  2. hadongsp

    hadongsp Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    07/02/2007
    Đã được thích:
    1
    Em chỉ có thể nói 1 câu: tác giả quá ngu dốt và máy móc
  3. dOnTlOcKmE

    dOnTlOcKmE Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    19/06/2008
    Đã được thích:
    0
    Nó máy móc nhưng chắc không ngu dốt đâu. Mấy hôm nữa thế nào chả được đặt hàng lần nữa để NÓI LẠI CHO RÕ

Chia sẻ trang này