Một phát biểu tâm huyết và dũng cảm

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi hatay2008, 02/02/2009.

102 người đang online, trong đó có 41 thành viên. 02:43 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 316 lượt đọc và 0 bài trả lời
  1. hatay2008

    hatay2008 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    04/05/2007
    Đã được thích:
    0
    Một phát biểu tâm huyết và dũng cảm

    2009: Nhìn trước khó để sẵn sàng vượt bão, đón cơ hội 31/01/2009 10:14 (GMT + 7)
    (TuanVietNam) - Cũng giống như các cây trong bão, cây yếu thì bão dội vào sẽ gãy hơn và có phục hồi sau bão thì cũng lâu hơn. Nếu chủ quan, tính thời gian bị khủng hoảng và khôi phục sau khủng hoảng ngắn quá, từ đó kỳ vọng cho năm 2010 thì bài toán cho Việt Nam sẽ khác đi, sai lệch đi - Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cảnh báo.

    Với Việt Nam, khả năng đánh giá về kinh tế toàn cầu có giới hạn, nhưng nên tin vào những cảnh báo đó để lường trước tình hình xấu để đề phòng hơn là chủ quan rằng mọi thứ sẽ tốt đẹp nhanh thôi. Ảnh: nsac.no.

    Nhìn trước khó

    Năm 2009 sẽ tiếp tục là một năm ảm đạm với nền kinh tế thế giới. Đến bây giờ chưa thấy các nhóm giải pháp của các nước với những khoản tiền khổng lồ đổ ra có tác động tích cực làm chặn đà suy giảm. Ngược lại, ngay cả khi các giải pháp đã được tung ra, nền kinh tế thế giới vẫn bộc phát thêm những điểm yếu mới. Bệnh của nền kinh tế các quốc gia chưa bộc lộ hết. Và tác động mang tính dây chuyền, domino của những khó khăn vẫn tiếp diễn.

    Khủng hoảng đi từ nền kinh tế này đến nền kinh tế khác, đi từ ngành này sang ngành khác, từ DN này tới DN khác. Ngay cả những nơi muốn che đậy khó khăn để xử lý thì bây giờ cũng không thể giấu diếm lâu hơn.

    TIN LIÊN QUAN
    Vượt bão 2009: Đảng phải tập hợp sức dân bằng trí tuệ và gương mẫu
    Phác thảo bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2009
    Câu hỏi từ cuộc khủng hoảng lần trước
    Sự cấp thiết của vai trò lãnh đạo sau khủng hoảng
    Khủng hoảng có thể thúc đẩy hội nhập?
    Ai đắc lợi, ai thiệt thòi từ khủng hoảng kinh tế?
    Hai góc nhìn về khủng hoảng kinh tế
    Kinh tế VN: Không khủng hoảng, nhưng có tăng trưởng bền vững?
    Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã "chạm đỉnh"?
    Với Đông Á, theo đánh giá của Crédit Sussuie, khu vực này có cơ sở phát triển bền vững hơn nhờ những cải cách sau khủng hoảng tài chính 1997. Tuy nhiên, đó mới chỉ là dự báo còn được hay không lại là chuyện khác.

    Dự báo được xem là lạc quan nhất của ông Joseph Stigliz cho rằng, nếu tân Tổng thống Obama có giải pháp hoàn toàn để khôi phục nền kinh tế thì cũng phải mất 18-24 tháng đà suy thoái mới chấm dứt. Nghĩa là ngay dự báo lạc quan nhất cũng phải 2010 kinh tế thế giới mới khôi phục trở lại, vượt qua giai đoạn tiêu điều để trở lại phục hồi, hưng thịnh.

    Nghe ngóng thế giới để có nhiều phương án

    Với Việt Nam, khả năng đánh giá về kinh tế toàn cầu có giới hạn, bên cạnh việc tự nghiên cứu, cần tiếp tục theo dõi, tăng cường khả năng dự báo thông qua tiếp cận với các dự báo của thế giới để có một hình dung đúng nhằm đối phó. Tin vào những cảnh báo, lường trước tình hình xấu để đề phòng hơn là chủ quan rằng mọi thứ sẽ tốt đẹp nhanh thôi.

    Việt Nam nên xem và nên tin những cảnh báo của thế giới, để đặt nhiều phương án khác nhau cho chính mình.

    Nếu chủ quan, tính thời gian bị khủng hoảng và khôi phục sau khủng hoảng ngắn quá, từ đó kỳ vọng cho năm 2010 thì bài toán cho Việt Nam sẽ khác đi, sai lệch đi.

    Ảnh hưởng toàn cầu của khủng hoảng tới Việt Nam sẽ rất nặng nề, vì kinh tế Việt Nam tương đối nhỏ, yếu, dễ bị tổn thương vì dựa quá lớn vào nguồn lực bên ngoài. Năm 2007, tổng giá trị xuất nhập khẩu bằng 167% GDP. Tăng trưởng phụ thuộc rất lớn vào ODA, FDI, kiều hối... những nguồn tiền từ bên ngoài. Do đó, mọi chuyển động bên ngoài đều ảnh hưởng. Cũng giống như các cây trong bão, cây yếu thì bão dội vào sẽ gãy hơn và có phục hồi sau bão thì cũng lâu hơn.

    Kinh tế Việt Nam cũng phụ thuộc rất lớn vào khu vực, trong khi không thể nói khu vực này bình yên. 70% FDI của Việt Nam là từ khu vực rót vào. ODA, quan hệ thương mại cũng chủ yếu từ khu vực. Trong hội nhập, giảm thuế, thị phần của khu vực lớn lên. Việt Nam yếu tương đối so với các nước khác, nên một số nước có thể không bị ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng, nhưng Việt Nam sẽ bị tổn thương lớn.

    Nhiều chuyên gia đánh giá ảnh hưởng của khủng hoảng vào Việt Nam có thể đến chậm hơn, nhưng sẽ sâu hơn, ở lại lâu hơn. Thế giới có thể ra khỏi khủng hoảng rồi mà Việt Nam vẫn chìm trong khó khăn đó. Khủng hoảng tác động sâu nên vượt được cũng khó hơn.

    Chống suy thoái và lạm phát: 2 mục tiêu cơ bản của 2009

    Bên trong, năm 2009, Việt Nam cần coi trọng cả chống lạm phát và chống suy thoái kinh tế. Chống lạm phát không thể coi thường: năm 2008 dù có mấy tháng chỉ số CPI âm, nhưng lạm phát cả năm vẫn ở mức cao.

    Gốc rễ của căn bệnh kéo dài của nền kinh tế cũng như sự kém hiệu quả của nền kinh tế chưa được khắc phục. Lạm phát giảm xuống một phần do tác dụng bước đầu của nhóm giải pháp của chính phủ nhưng phần khác quan trọng là sự giảm giá của hàng loạt mặt hàng quan trọng: giá dầu chỉ còn chưa tới 1/3 so với giai đoạn đỉnh cao.

    Bất ổn kinh tế được thể hiện vào cuối năm 2007, đầu năm 2008 thì 80% là nguyên nhân bên trong, chỉ 20% là nguyên nhân bên ngoài. Chưa có căn cứ đầy đủ cho con số 80-20 này, nhưng nguyên tắc thông thường, dù thành công hay thất bại thì bao giờ 80% cũng là nguyên nhân nội tại quyết định.

    Nói như Giáo sư Jame Riedel, những bất ổn kinh tế đầu năm 2008 là cuộc tiểu khủng hoảng tự thân. Bởi so sánh với bên ngoài, cùng mức giá thế giới như vậy nhưng các nước xung quanh không lạm phát cao như Việt Nam, thậm chí ở quốc gia phụ thuộc dầu nhập khẩu lớn hơn như Thái Lan.

    Năm 2009 lạm phát vẫn là thanh gươm treo lơ lửng trên đầu nền kinh tế Việt Nam, không thể chủ quan. 8 nhóm giải pháp của chính phủ mới chỉ thực hiện một phần, chưa đủ cần phải tiếp tục làm vì các giải pháp này không chỉ nhằm chống lạm phát mà còn nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, chữa trị các căn bệnh của nền kinh tế.

    Năm 2009, Việt Nam cần phải làm tiếp để chống lạm phát căn bản căn cơ hơn. Không ai nói trước được giá cả trên thế giới sẽ như thế nào. Hiện nay đã có những dự báo cuối năm 2009, lạm phát thế giới sẽ tăng cao với lượng tiền khổng lồ được các nước đổ ra để cứu nền kinh tế.

    Đồng thời, chống suy thoái vẫn đáng coi là ưu tiên trong điều hành kinh tế vĩ mô. Việt Nam hoàn toàn có thể coi cả hai nội dung này là ưu tiên cho năm 2009, bởi hai nội dung này vốn không triệt tiêu lẫn nhau. Hai vấn đề cần được cùng quan tâm, xử lý cho khéo, để không tác động nghịch lẫn nhau.

    Lạm phát vẫn là thanh gươm treo lơ lửng trên đầu nền kinh tế Việt Nam. Ảnh: Corbis.

    Tác động suy thoái như thế nào, giao thống kê làm điều tra tìm hiểu cặn kẽ để xem mức độ suy thoái như thế nào, giải pháp trúng hơn.

    Nếu không, người hưởng lợi từ gói kích cầu chưa phải là đối tượng đáng được hưởng, cần được kích cầu trong khi đối tượng cần hơn lại bị loại trừ.

    Bộ máy gần cuộc sống, chính sách tiếp cận từ dân lên

    Kinh nghiệm điều hành năm 2008 cho thấy quan trọng nhất là phải có điều tra, nghiên cứu kỹ, đánh giá đúng tình hình. Không thể chỉ căn cứ vào báo cáo của ngành, địa phương mà thiếu căn cứ khoa học hơn, chuyên môn, chuyên nghiệp cao hơn để có độ tin cậy đầy đủ hơn.

    Ở các đơn vị, địa phương, khó tránh tâm lý hoặc quá nhấn thành tích, hoặc nhấn khó khăn để xin hưởng hỗ trợ. Thống kê nhiều địa phương thường đùa "đưa thống kê như thế nào còn phải đợi lãnh đạo địa phương cho ý kiến xem muốn bức tranh như thế nào".

    Lâu nay, Việt Nam thường chưa đưa ra được điều tra cặn kẽ, thấy bức tranh thực để có quyết định sát thực. Chính sách thiếu cân nhắc toàn diện.

    Đánh giá các quy định pháp lý bao giờ cũng phải phân tích đủ được - mất, tích cực - tiêu cực, người hưởng lợi và người bị thiệt, từ đó xem được và mất, cái gì lớn hơn, ai là người chịu thiệt để bù đắp cho họ, dù là nhóm nhỏ trong xã hội.

    Các chính sách của Việt Nam được đề xuất bởi các cơ quan khác nhau, không nhìn cả bức tranh xã hội và thường không quan tâm đến đối tượng phải chịu thua thiệt. Khi đưa ra một quy định, các cơ quan quá nhấn mạnh cái được, cái tích cực khi thuyết trình chính sách, mà quên tác động tiêu cực, hạn chế và những người bị bất lợi.

    Đơn cử, nhìn vào 8 giải pháp chống lạm phát của Chính phủ rất toàn diện nhưng thực tế lại thực hiện phiến diện, nặng về chính sách tài khóa trong khi nhiều biện pháp khác chưa được tận dụng hoặc chỉ sử dụng rất hạn chế. Vì thế, thay vì giúp giảm sốc do tác động của khó khăn bên ngoài, có thể lại gây sốc thêm cho nền kinh tế.

    Điều hành vĩ mô: bộ máy giúp việc cần gần với cuộc sống, với nền kinh tế để tìm giải pháp, tạo cân bằng nhất định. Đương nhiên, giải pháp nào cũng phải hi sinh, trả giá nhưng giá như thế nào thì phải xem.

    Vừa rồi, các giải pháp của Chính phủ có phần lúng túng. Chúng ta có chính sách tốt nhưng quá trình thực hiện không thấu đáo, chưa đến nơi đến chốn.

    Chúng ta nói nhiều về nhà nước của dân nhưng các chính sách ít tiếp cận đến thẳng từ dân trước, từ cơ sở lên mà đi từ trên xuống, qua nhiều cơ quan, dẫn tới thực tế không đến được với dân.

    Báo cáo của một nhóm nghiên cứu độc lập cho thấy, với chính sách hỗ trợ xăng dầu cho những người đánh cá xa bờ, chỉ 5% số hộ dân được hưởng và không phải là 5% những người khó khăn nhất. Ý tưởng tốt đẹp nhưng thủ tục hành chính phức tạp, cách làm không thực tế khiến mọi chuyện khó khăn. Phải giảm tính quan liêu thì mới giúp được dân.

    Ngay chuyện Chính phủ hỗ trợ mua lúa gạo cho nông dân, thay vì hỗ trợ người nông dân, Chính phủ hỗ trợ các công ty lương thực. Kết quả là nông dân vẫn khó khăn, còn người hưởng lợi là các công ty lương thực.

    Chuyện kích cầu cũng vậy. Chính phủ có kế hoạch xây 10 vạn ngôi nhà cho người có thu nhập thấp. Sao không làm cách khác, giúp họ có tiền để xây được nhà bằng chính sách cho vay không lãi suất, hoặc lãi suất thấp, trả trong thời gian dài... Hơn nữa, Bộ Xây dựng làm sao biết được khu vực nào cần nhà cho người thu nhập thấp... Cuối cùng, ai sẽ là người hưởng lợi và đó có phải là đối tượng xứng đáng được hưởng?

    2009: Tập trung xử lý 3 nút cổ chai

    Xuất phát từ yếu kém của nền kinh tế, năm 2009, Việt Nam phải tập trung xử lý những vấn đề căn cơ để không chỉ vượt qua khủng hoảng mà phát triển sau khủng hoảng. Lâu nay có nhiều việc phải làm, nhiều cái phải rượt đuổi, quan tâm, chưa chú ý thực hiện, bây giờ nên tập trung thực hiện trong năm 2009: khắc phục 3 nút cổ chai.

    Một là nguồn nhân lực: Nhân khó khăn, Việt Nam nên xem lại đầu tư cho giáo dục như thế nào. Kích cầu cũng nên tăng cường cho giáo dục đào tạo để cải thiện. Đồng thời, cũng như mọi ngành, cần kiểm tra xem các khoản đầu tư vào giáo dục được sử dụng như thế nào. Có lẽ cần thay đổi cách đầu tư chỉ qua kênh nhà nước, vốn hiệu quả không cao.

    Phát triển cho nông thôn, thanh niên nông dân có cơ hội việc làm tương lai, tay nghề và ý thức công việc đáp ứng đòi hỏi công việc cao hơn sau này. Ngay tại thời điểm này, việc thiếu lao động tay nghề cũng rất rõ ở Việt Nam.

    Ảnh: agro.gov.vn

    DN hiện phải thu hẹp sản xuất. Người lao động có thời gian hơn để đào tạo và đào tạo lại, nâng cao tài nghề để sẵn sàng cho giai đoạn mới. Đó là các để vượt qua khủng hoảng lúc này.

    Người lao động cần hiểu như vậy để không chỉ đòi hỏi tăng lương mà còn tranh thủ cơ hội học tập, chuẩn bị năng lực tốt hơn cho thời gian tới.

    Hai là, về hạ tầng, nhu cầu phát triển của Việt Nam rất lớn nhưng cần xem ưu tiên ở đâu, tập trung làm cho dứt điểm, không để những cầu Thanh Trì tồn tại... Gần trung ương đến thế mà không khắc phục được năm này năm khác, nói gì tới các dự án ở xa. Đó không chỉ là câu chuyện phát triển của Việt Nam mà còn là vấn đề niềm tin của nhân dân, của nhà tài trợ ODA và các nhà đầu tư tương lai. Yếu kém cần khắc phục, tập trung vào giải quyết.

    Ba là, cải cách hành chính, yếu về thể chế. Đây là lúc đánh giá cặn kẽ hơn để cùng nhau khắc phục

    Tôi rất kỳ vọng vào Hội nghị Trung ương giữa kỳ sẽ tổng kết đánh giá vấn đề cải cách thể chế, cải cách hành chính xem Việt Nam đã làm đến đâu, bất cập gì, nhất là với đòi hỏi mới để phát triển, cần quyết liệt giải quyết ở tầm vĩ mô cũng như điều hành địa phương.

    Cần xem lại quá trình phân cấp chúng ta đã được gì và mất gì, những gì thiếu hụt, khoảng cách giữa đòi hỏi và năng lực của bộ máy.

    Những yếu kém cần được xem xét kĩ, thẳng thắn và kiên quyết, bởi vấn đề nhân lực, hạ tầng cũng do nút thắt chể chế chính sách này gây ra.

    Việt Nam đổi mới được đầu tiên phải là thể chế, tự vượt qua mình về tư duy, về thể chế, tạo sức mạnh cho nền kinh tế. Hiện nay, tiềm lực kinh tế của Việt Nam lớn hơn nhiều nhưng thể chế, chính sách chưa phát triển tương ứng, cần đổi mới thể chế mạnh hơn nữa để nâng tầm.

    Vấn đề đầu tư công, DNNN được nêu trong 8 nhóm giải pháp của CP đều là những vấn đề căn cơ, là nguyên nhân quan trọng của lạm phát, bất ổn vĩ mô cũng như suy thoái kinh tế, do đó, năm 2009 cũng cần tập trung xử lý.

Chia sẻ trang này