Nhận định Tuần [30.8-3.9]:: Ánh bình minh trở lại với VNI

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi Tinhledt, 29/08/2021.

2748 người đang online, trong đó có 1099 thành viên. 15:03 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 5507 lượt đọc và 21 bài trả lời
  1. Tinhledt

    Tinhledt Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    18/07/2018
    Đã được thích:
    15.930
    Dòng tiền lớn đang vào, 3 phiên trước phiên 2 tỷ đô mỗi phiên 1 tỷ vậy tính ra 3 tỷ đô, hàng phiên 2 tỷ cất két, bên ngoài đang trực chờ 2-5 tỷ đô.
    =>Tổng kết dòng tiền đang tham gia thị trường 7-10 tỷ đô....Với dòng tiền to này chỉ có thể đầu tư vào bank và kéo VNI 1600-1800.
    Nav 100 tr, Nav 500tr, Nav 1 tỷ, Nav 10 tỷ..
    Nav càng to việc chọn ngành hàng càng kỹ lưỡng, càng đầu tư vào những vùng xanh an toàn ~o)

    Dịch ổn chút, chắn chắn sẽ có những gói cứu trợ nhằm vực dậy nền kinh tế.
    =>Thời kỳ tiền rẻ lại kéo dài và nhiều cá nhân, doanh nghiệp vay vốn phục hồi sản xuất....Cho dù đi đường nào thì cũng quy về Bank hưởng lợi nhất ~o)
    ..........................................................
    Tôi biết các bạn đang sợ hãi, tôi biết các bạn đang sợ rủi ro....Nhưng hãy nhìn đi, cả TG nó tăng cả 2 tuần rồi...Lý do gì VN lại ôm nổi đau này? ^:)^^:)^^:)^
    ........................
    [​IMG]
    ............................................................
    Chứng khoán Việt Nam thường nổi sóng tăng mạnh sau những chuyến công du của lãnh đạo Nhà Trắng, lịch sử có lặp lại?
    https://vietnambiz.vn/chung-khoan-v...rang-lich-su-co-lap-lai-20210824053913568.htm
    .............................................................
    Hiệp hội Ngân Hàng đã phát tín hiệu: Dòng Bank sẽ là chủ đạo :drm1
    :drm1:drm1

    .....................................................................
    Hiệp hội Ngân hàng đề nghị sửa Thông tư 01: Kéo dài thời gian cơ cấu nợ đến "sau 3 tháng kể từ ngày Thủ tướng công bố hết dịch"
    29-08-2021 - 15:38 PM | Tài chính - ngân hàng




    [​IMG]
    Hiện tại Ngân hàng Nhà nước đang đưa ra dự thảo sửa Thông tư 01 là kéo dài thời gian cơ cấu nợ thêm 6 tháng so với hiện hành, tới 30/6/2022. Hiệp hội Ngân hàng cho rằng, nếu thay đổi thời gian đến sau 3 tháng kể từ ngày hết dịch như cơ quan này đề xuất thì NHNN sẽ không phải lo liên tục sửa đổi Thông tư.



    Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa có Công văn số 305/HHNH-PLNV ngày 27/8/2021 về việc tham gia ý kiến đối với dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 01/2020/TT-NHNN quy định về việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 (Thông tư 01).

    Hiệp hội Ngân hàng cho biết, đây là lần thứ 3 sửa đổi Thông tư 01 liên quan đến việc hỗ trợ doanh nghiệp và TCTD bởi đại dịch COVID-19, chưa nói đến dự thảo lần này cũng không loại trừ khả năng phải sửa đổi lần thứ 4 nếu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) dựa vào kế hoạch, mục tiêu phấn đấu của Chính phủ đẩy lùi dịch bệnh (Chính phủ đã xây dựng kịch bản cả nước mắc 30.000 ca nhiễm bệnh, nay đã lên gấp hơn 10 lần, điều đó cho thấy dịch bệnh có diễn biến khó lường, không thể đặt mục tiêu một cách chính xác như thời hạn trả nợ được) thì phải xác định việc sửa đổi Thông tư liên tục theo diễn biến dịch bệnh.

    Trên cơ sở đó, Hiệp hội Ngân hàng đề nghị nên sửa đổi, bổ sung những điểm cơ bản như: thời điểm xác định, thời hạn được cơ cấu cho phù hợp thực tế; còn nội dung khác cần xây dựng mang tính ổn định xuyên suốt, không nên sửa đổi một nội dung nhưng kèm theo nhiều nội dung liên quan phải sửa đổi.

    Công văn của Hiệp hội Ngân hàng phân tích, tại Thông tư 01 quy định loại dự thu khoản nợ cơ cấu và đến Thông tư 03 bổ sung việc trích lập dự phòng rủi ro phù hợp thể hiện mang tính an toàn hệ thống. Còn lại việc quy định các thời điểm cơ cấu, phát sinh nợ từ thời điểm a đến thời điểm z là theo cảm tính dựa vào kịch bản cũng như các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về phòng chống dịch COVID-19. Chính vì vậy phải liên tục sửa đổi, bổ sung thời điểm kèm theo nhiều nội dung khác liên quan nhằm bổ sung ngày càng chặt, gây khó cho TCTD khi thực hiện.

    Hiệp hội cũng đề nghị cho phép cơ cấu nợ đối với cả dư nợ thẻ tín dụng cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, vì với xu hướng không dùng tiền mặt như hiện nay thì thẻ tín dụng là một hình thức cấp tín dụng rất phổ biến. Đặc biệt trong giai đoạn dịch COVID-19 diễn biến phức tạp thì việc tăng cường sử dụng biện pháp thanh toán không dùng tiền mặt là rất cần thiết. Thực tế số lượng các khách hàng cá nhân sử dụng thẻ tín dụng cũng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.

    Hay tại điểm 2, khoản 1, Điều 1 (dự thảo Thông tư) có quy định: "Phát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày 30/06/2022". Hiệp hội đề nghị sửa thời hạn theo Thông tư 01 "…cho đến sau 3 tháng kể từ ngày Thủ tướng công bố hết dịch ".

    Hiệp hội Ngân hàng cũng lưu ý: "nếu NHNN vẫn có ý định tiếp tục sửa đổi lần thứ tư thì quy định như dự thảo, nếu hy vọng sống chung với COVID thì quy định đến ngày 31/12/2022 (hết năm 2023 TCTD đã phải trích dự phòng rủi ro 100% khoản nợ cơ cấu mà NHNN còn quy định như vậy là không phù hợp)".

    "Nếu thực hiện theo Thông tư 01 có bổ sung việc dự phòng và xác định cơ cấu khoản nợ tại thời điểm trước ngày 23/1/2020 đến ngày liền kề sau 3 tháng Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch và có quan điểm nhất quán như Thông tư 01 và 1 phần Thông tư 03, thì sửa đổi Thông tư chỉ việc điều chỉnh số dư nợ quá hạn đến ngày Thông tư hoặc Thông tư sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành hoặc có thể giao cho TCTD tự quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật thì NHNN không phải lo liên tục sửa đổi Thông tư", Hiệp hội Ngân hàng đề nghị.

    Hiệp hội Ngân hàng cũng đề nghị NHNN cần lắng nghe ý kiến thực tế của các TCTD và của Hiệp hội trên cơ sở tổng hợp ý kiến hội viên.

    Bên cạnh đó, Hiệp hội Ngân hàng cũng đề nghị NHNN xem xét bổ sung vào dự thảo Thông tư nội dung mới như:

    Để thực hiện đúng quy định tại Chỉ thị số 16 đối với các Khoản nợ của các khách hàng trong vùng giãn cách theo Chỉ thị 16, đề nghị NHNN cho TCTD được phép:

    a. Hoãn trả nợ cho khách hàng cho đến hết 15 ngày sau ngày công bố chấm dứt thực hiện Chỉ thị 16, trừ trường hợp Khách hàng tự nguyện thực hiện trả nợ thông qua các hình thức như chuyển khoản, nộp tiền vào tài khoản, tài khoản khách hàng có đủ số dư để thu nợ;

    b. Việc phân loại nợ các khoản nợ được hoãn theo điểm a trên đây thực hiện như sau:

    (i) Giữ nguyên nhóm nợ khi:

    - Khách hàng trả đầy đủ nợ gốc, lãi; hoặc

    - Được TCTD và Khách hàng thực hiện gia hạn/ cơ cấu nợ trong vòng 15 ngày kể từ ngày chấm dứt thực hiện Chỉ thị 16.

    (ii) Chuyển nợ quá hạn khi phân loại nợ theo ngày quá hạn trong trường hợp:

    - Khách hàng không trả đầy đủ nợ gốc, lãi; hoặc trong vòng 15 ngày kể từ ngày chấm dứt thực hiện chỉ thị 16;

    - Không được TCTD và khách hàng thực hiện gia hạn/cơ cấu nợ trong vòng 15 ngày kể từ ngày chấm dứt thực hiện Chỉ thị 16.

    Hiệp hội cũng đề nghị: "NHNN nên báo cáo Chính phủ thực trạng các doanh nghiệp và TCTD ảnh hưởng nghiêm trọng kèm theo trong tương lai nợ xấu sẽ tăng đột biến, từ đó đề nghị Chính phủ ban hành một Nghị quyết riêng về việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và TCTD bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19".

    Trường hợp NHNN căn cứ vào Nghị quyết chung của Chính phủ để ban hành Thông tư liên quan đến các khoản nợ tiềm ẩn nợ xấu trong tương lai, thực chất là nợ dưới chuẩn nhưng không bị phân loại nhóm nợ cao hơn, thì nên quy định mang tính an toàn hệ thống (loại dự thu, trích dự phòng rủi ro 3 năm), còn lại các nội dung khác để các TCTD tự quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật, vì không ai hiểu khách hàng bằng chính TCTD.

    Bởi nếu ban hành chi tiết, sau này xảy ra nợ xấu toàn hệ thống thì việc ban hành chi tiết trong Thông tư không có lợi cho cơ quan ban hành chính sách, vì không phải lỗi chủ quan của TCTD (do dịch bệnh). Do đó, NHNN nên xây dựng Thông tư nhằm quản lý mang tính an toàn hệ thống theo Luật NHNN, còn lại để TCTD chịu trách nhiệm theo các Luật: Các TCTD, dân sự, doanh nghiệp…(chắc chắn trong tương lai nợ xấu sẽ tăng rất cao, các TCTD ngày càng khó khăn kể cả khó khăn về thanh khoản …).

    Hiệp hội Ngân hàng cũng cho rằng, việc áp dụng cả 3 Thông tư với nội dung cơ cấu nợ do ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 sẽ có nhiều bất cập, khó khăn và có thể gây ra rủi ro pháp lý cho các chủ thể tham gia vào quá trình cơ cấu nợ. Vì vậy, khi sửa đổi thông tư cần ngắn gọn, dễ hiểu, chỉ sửa nội dung chính, còn các nội dung khác không nên thay đổi hoặc chép lại nội dung Thông tư cũ, các nội dung khác theo nguyên tắc của Thông tư trước. "Thực tế cần sửa Khoản 1 Điều 4, còn Khoản 2 Điều 4 theo Thông tư 01 thì không bao giờ phải sửa và cũng không sợ bị lợi dụng vì đằng nào cũng phải trích dự phòng trong 3 năm", Hiệp hội Ngân hàng đề nghị.

    Ngân hàng Nhà nước sửa Thông tư 03: Kéo dài thời gian cơ cấu nợ thêm 6 tháng
    Thanh Bình

    Theo Doanh nghiệp và Tiếp thị

    https://cafef.vn/hiep-hoi-ngan-hang...-tuong-cong-bo-het-dich-20210829144258534.chn

    ................................................
    Việt Nam có thể là hub sản xuất vaccine khu vực :drm1:drm1:drm1

    ................................................................
    Vì sao nói Singapore là hub tài chính, Thái Lan là hub sản xuất ô tô, còn Việt Nam có thể là hub sản xuất vaccine khu vực?
    29-08-2021 - 15:19 PM | Kinh tế vĩ mô - Đầu tư

    BÁO NÓI - 4:59

    [​IMG]
    Đại sứ Phạm Quang Vinh cho rằng Việt Nam có tiềm năng trở thành hub (trung tâm) sản xuất vaccine của khu vực, tương tự như Singapore là hub tài chính, hay Thái Lan từng là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng ô tô Nhật Bản và Mỹ. Vậy cơ sở nào giúp Việt Nam có tiềm năng như vậy?
    Các nhà máy sản xuất vaccine của Việt Nam đều đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu
    Đầu tháng 4 năm nay, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chính thức thông báo hệ thống quản lý quốc gia về vaccine của Việt Nam (National Regulatory Authority – NRA) đạt Cấp độ hoàn thiện 3. Đáng chú ý, đây là cấp độ cao thứ hai trong thang đánh giá phân loại của WHO về hệ thống quản lý quốc gia.

    Quá trình đánh giá NRA được WHO thực hiện theo Bộ công cụ đánh giá toàn cầu (Global Benchmarking Tool – GBT) với một loạt các chức năng và tiêu chí cụ thể nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn và hiệu quả của vaccine lưu hành trên thị trường.

    Vào tháng 4/2015, Hệ thống quản lý quốc gia về vaccine của Việt Nam đã đạt được chứng nhận "Hoạt động tốt" theo Bộ công cụ đánh giá vaccine của WHO. 3 năm sau, vào năm 2018, WHO đã cử nhóm chuyên gia quốc tế đến Việt Nam thực hiện việc đánh giá lại hệ thống NRA dựa trên bộ công cụ GBT cập nhật và hoàn thiện hơn (phiên bản V).

    Thang đánh giá GBT được chia thành bốn cấp độ hoàn thiện từ 1 đến 4.

    - Cấp độ 1 có nghĩa là hệ thống quản lý quốc gia bước đầu đãcó một số yếu tố cấu thành hệ thống quản lý.

    - Cấp độ 2 thể hiện hệ thống quản lý quốc gia đang phát triển và thực hiện một phần các chức năng quản lý thiết yếu.

    - Cấp độ 3 chứng nhận quốc gia đã có hệ thống quản lý ổn định, hiệu quả và đồng nhất. Cấp độ cao nhất.

    - Cấp độ 4, thể hiện hệ thống quản lý của một quốc gia hoạt động với hiệu suất cao và liên tục được cải thiện.

    Hiện nay, Việt Nam đã sản xuất được 11 loại vaccine phòng 11 bệnh cho Chương trình Tiêm chủng mở rộng (lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, viêm não Nhật Bản, tả, thương hàn, sởi, rubella, bại liệt). Ngoài ra còn có thể sản xuất nhiều loại vaccine khác như: cúm mùa, cúm đại dịch H5N1, rotavirus.

    Việt Nam có 4 nhà sản xuất đang nghiên cứu vaccine phòng Covid-19, với 2 trong số đó đang thực hiện thử nghiệm lâm sàng và hướng tới đăng ký lưu hành vaccine phòng Covid-19 “Made in Vietnam” trong năm 2021. Các nhà máy sản xuất vaccine của Việt Nam hiện nay được xây dựng đủ cung ứng cho nhu cầu trong nước và đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu.

    [​IMG]

    Tiềm năng trở thành hub vaccine của khu vực
    Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Việt Nam đã có vaccine Covid-19 "made in Vietnam" đầu tiên là Nanocovax hiện đang được thử nghiệm lâm sàng (TNLS) và được thẩm định xem xét cấp phép lưu hành khẩn cấp, trong trường hợp đủ điều kiện.

    Đáng chú ý, mới đây nhất, Bộ Y tế ban hành tại Thông tư 11/2021 về "Hướng dẫn đăng ký lưu hành vaccine trong trường hợp cấp bách".

    Điểm quan trọng của Thông tư 11/2021 mang tính quyết định, tạo cơ hội cho vaccine trong nước, được nêu tại "Quy định về dữ liệu lâm sàng trong hồ sơ đăng ký lưu hành vaccine": Vaccine phòng Covid-19 sản xuất trong nước đang thực hiện TNLS, nhưng đã có kết quả đánh giá giữa kỳ giai đoạn 3 về tính an toàn và hiệu quả bảo vệ của vaccine dựa trên dữ liệu về tính sinh miễn dịch của vaccine, thì được sử dụng để xem xét cấp giấy đăng ký lưu hành có điều kiện.

    Ngoài ra, theo ông Hồ Nhân, Tổng giám đốc Nanogen, Việt Nam là nhà sản xuất vaccine thứ tư ở châu Á, với lịch sử 126 năm phát triển vaccine. Còn Đại sứ Phạm Quang Vinh - Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, cựu Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Mỹ cũng từng khẳng định, Việt Nam cần tập trung trong việc sản xuất vaccine công nghệ mới ở Việt Nam, phục vụ cho thị trường Việt Nam. "Từ đó, chúng ta có thể trở thành hub (trung tâm) sản xuất vaccine trong khu vực".

    "Trước đây, Singapore cũng là hub của nhiều thứ, Thái Lan cũng là mắt xích rất quan trọng trong chuỗi cung ứng ô tô Nhật Bản và Mỹ. Thế thì lúc này, vaccine, y tế Việt Nam đang có thế mạnh. Chúng ta có đội ngũ bác sỹ, trình độ quản lý kỹ thuật, phương tiện được chuyển giao công nghệ, cộng với sự hỗ trợ về mặt tài chính và chính trị, từ đó có thể làm hub khu vực, tạo thành chuỗi cung ứng ở đây", Đại sứ Phạm Quang Vinh nói thêm.

    Tầm quan trọng của vaccine "made in Vietnam" cũng đã được nhấn mạnh nhiều lần. Trước đó, ĐBQH Trần Hoàng Ngân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP. HCM đã nhấn mạnh: "Khi nguồn cung vaccine khan hiếm vì nhu cầu quá lớn, vaccine nội sẽ đóng vai trò quan trọng nhất. Tự chủ về vaccine nghĩa là đảm bảo sự tự chủ về nhiều mặt. Chính vì tầm quan trọng của vaccine 'made in Vietnam', cần cơ chế để người dân sớm tiếp cận được vaccine do chính các doanh nghiệp Việt phát triển".

    Giải mã điểm tương đồng giữa cuộc khủng hoảng container năm 2021 với khủng hoảng hàng rời những năm 2007-08
    Anh Vũ

    Theo Doanh nghiệp và Tiếp thị
    Last edited: 29/08/2021
    Investor_70, hasonboss, bnw20061 người khác thích bài này.
  2. Tinhledt

    Tinhledt Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    18/07/2018
    Đã được thích:
    15.930
    .......................................
    ........................
    Phó Thống đốc chỉ đạo nghiên cứu nới 'room' tín dụng, hoàn thiện sửa đổi Thông tư về cơ cấu nợ

    Tại Hội nghị trực tuyến bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn cho ngành lúa gạo Đồng bằng song Cửu Long (ĐBSCL) sáng 26/8, các ngân hàng thương mại đề xuất giải pháp để gỡ khó cho cả người dân, doanh nghiệp và ngân hàng.

    Phó Thống đốc thường trực Đào Minh Tú giao các Vụ, Cục NHNN nghiên cứu, hướng dẫn, xử lý các kiến nghị của các tổ chức tín dụng về các vấn đề như: tăng hạn mức tín dụng để đáp ứng nhu cầu của ngành lúa, gạo, khẩn trương hoàn thiện việc sửa đổi Thông tư số 01/2020/TT-NHNN, 03/2021/TT-NHNN, tài sản bảo đảm khoản vay cho các khoản vay thu mua lúa, gạo, kéo dài thời hạn vay vốn khi khách hành không trả trả nợ đúng hạn do thực hiện quy định về giãn cách, cách ly y tế trong thời gian có dịch bệnh Covid-19…

    Báo cáo về các chính sách, giải pháp và kết quả tín dụng đối với ngành lúa gạo, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế Hà Thu Giang cho biết, hiện nay có trên 50 tổ chức tín dụng và hơn 1.000 quỹ tín dụng nhân dân tham gia cho vay lĩnh vực lúa, gạo. Dư nợ cho vay lĩnh vực lúa, gạo luôn có tốc độ tăng trưởng bình quân cao trong giai đoạn 2016-2020, bình quân tăng 24%/năm.

    Đến cuối tháng 7, dư nợ ngành lúa gạo đạt 144.657 tỷ đồng, tăng 11,33% so với cuối năm 2020. Trong đó theo mục đích vay vốn, dư nợ trồng, sản xuất lúa đạt 34.819 tỷ, chiếm 24,07%. Dư nợ phục vụ thu mua, tiêu thụ lúa gạo đạt 97.402 tỷ đồng, chiếm 67,33%, tăng 15,77% so với 2020, dư nợ chế biến, bảo quản lúa gạo đạt 12.435 tỷ đồng, chiếm 8,6%. Đây là tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong bối cảnh đại dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến các ngành kinh tế.

    [​IMG]
    Hội nghị trực tuyến bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn cho ngành lúa gạo ĐBSCL do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sáng 26/8/2021. Ảnh: BĐT.

    Riêng các tỉnh ĐBSCL, đến cuối tháng 7, dư nợ ngành lúa gạo tại ĐBSCL đạt 74.139 tỷ đồng, tăng 15,45%, chiếm 51,25% dư nợ lúa gạo toàn quốc. Từ đầu năm 2021 tới nay, các TCTD tại ĐBSCL đã cấp hạn mức tín dụng khoảng 56.000 tỷ đồng cho các doanh nghiệp, thương nhân thu mua, tạm trữ lúa gạo, đã giải ngân với tổng doanh số lũy kế 93.000 tỷ đồng để thu mua gần 7,3 triệu tấn gạo. Dư nợ thu mua, tiêu thụ đến cuối tháng 8/2021 ước đạt 51.500 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2020, chiếm 92% hạn mức được cấp.

    Trước tình hình thực hiện giãn cách xã hội tại các tỉnh ĐBSCL và một số tỉnh phía Nam khác khiến chuỗi sản xuất, thu mua, chế biến, xuất khẩu gạo bị đứt gãy, doanh nghiệp, thương nhân khó thu mua, vận chuyển lúa gạo, vốn không được quay vòng dẫn đến tăng nhu cầu thu mua, tạm trữ lúa gạo.

    NHNN đã có công văn, chỉ đạo các ngân hàng thương mại chủ động cân đối, đảm bảo đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn và mở rộng thêm hạn mức tín dụng đã cấp cho thương nhân, doanh nghiệp để có nguồn vốn thu mua tạm trữ thóc, gạo và nâng diện tích, chất lượng kho chứa, bảo quản, chế biến thóc, gạo, góp phần giảm thiểu tình trạng ách tắc trong lưu thông, tồn ứ thóc, gạo tại khu vực ĐBSCL.

    Để tiếp tục đẩy mạnh triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các khách hàng, trong đó có các thương nhân, doanh nghiệp, người sản xuất, kinh doanh thóc, gạo bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, Phó Thống đốc Thường trực Đào Minh Tú yêu cầu các ngân hàng thương mại (NHTM) tập trung nguồn vốn để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của thương nhân kinh doanh, đầu tư, chế biến thóc, gạo, người sản xuất lúa với thời hạn và lãi suất hợp lý.

    Ngân hàng cần mở rộng, tăng hạn mức tín dụng cho các doanh nghiệp để đảm bảo đủ nguồn vốn thu mua, tạm trữ thóc, gạo cho người nông dân trong vụ Hè Thu, tới đây là vụ Thu Đông nhằm góp phần ổn định giá thóc gạo, đảm bảo lợi nhuận cho người trồng lúa.

    TCTD cần thực hiện nghiêm túc quy định về trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, trong đó có ngành lúa gạo; tiết giảm mọi chi phí hoạt động không cần thiết để dành nguồn lực giảm lãi suất vay, thực hiện cam kết đồng thuận giảm lãi suất cho vay lên tới 1%/năm trong các tháng cuối năm như kế hoạch đã đăng ký với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam theo chỉ đạo của NHNN tại Công văn 5901, 5902/NHNN-TD ngày 16/8/2021.

    Đồng thời, các ngân hàng cần linh hoạt áp dụng các hình thức bảo đảm tiền vay, xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm trên cơ sở quản lý dòng tiền, tiếp tục cải tiến quy trình, thủ tục cho vay, rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay, đa dạng hóa các loại sản phẩm tín dụng để tạo thuận lợi cho khách hàng trong tiếp cận vốn tín dụng;

    Mặt khác, ngân hàng chủ động tiếp cận các doanh nghiệp, thương nhân lúa gạo và thỏa thuận các nội dung liên quan theo nguyên tắc tín dụng thương mại, phù hợp quy định pháp luật về cấp tín dụng.
    https://ndh.vn/ngan-hang/pho-thong-...en-sua-doi-thong-tu-ve-co-cau-no-1298377.html
  3. lengoduy

    lengoduy Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa Not Official

    Tham gia ngày:
    10/06/2010
    Đã được thích:
    900
  4. Tinhledt

    Tinhledt Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    18/07/2018
    Đã được thích:
    15.930
    E chỉ đầu tư vào dòng nào lợi nhuận tốt, mấy dòng khác đa phần lỗ nên không mạo hiểm cụ ạ.:D
  5. Tinhledt

    Tinhledt Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    18/07/2018
    Đã được thích:
    15.930
    .........................
    Chuyên gia kinh tế người Việt tại IMF: Chuyến thăm của Kamala Harris khẳng định Việt Nam là một trọng điểm của chuỗi giá trị thế giới
    26-08-2021 - 08:29 AM | Kinh tế vĩ mô - Đầu tư

    BÁO NÓI - 2:44

    [​IMG]
    Trao đổi với Trí thức trẻ, TS Châu Thanh Vũ, nhà kinh tế tại IMF (Mỹ) cho rằng, trong chuyến thăm Việt Nam của Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris, "ngoại giao vaccine sẽ nhấn mạnh sự hiện diện của Mỹ ở khu vực".


    BàKamala Harris là Phó Tổng thống đương nhiệm đầu tiên có chuyến công tác sang Việt Nam. Theo đánh giá của anh, quan hệ thương mại giữa 2 nước dự kiến sẽ có gì thay đổi sau chuyến thăm này?

    [​IMG]
    TS Châu Thanh Vũ, nhà kinh tế tại IMF (Mỹ)

    Theo tôi, chuyến thăm của Phó Tổng thống Kamala Harris đến Việt Nam lần này dự kiến sẽ chỉ tập trung giải quyết vấn đề về chuỗi cung ứng, ngoại giao vaccine, và xây dựng hình ảnh cho chính quyền Biden ở khu vực.

    Thương mại tự do là một vấn đề gây tranh cãi tại Mỹ, và điều này thể hiện bằng việc hầu hết chính sách kinh tế của Tổng thống Biden đến nay là chính sách nội địa. Trong bối cảnh nguy cơ lạm phát, tình hình Covid-19 xấu đi, và những lộn xộn trong việc rút quân khỏi Afghanistan đang diễn ra, chính quyền Biden sẽ không muốn dính dáng thêm đến một vấn đề phức tạp như ký kết một hiệp định thương mại lớn mới.

    Do đó, chuyến đi của bà Kamala Harris sẽ tập trung giải quyết các vấn đề chuỗi cung ứng, đặc biệt là tháo gỡ các nút thắt trong chuỗi cung ứng chất bán dẫn và giao thông hàng hải, nhằm hỗ trợ hồi phục kinh tế Mỹ và giảm sức ép lạm phát.

    Cùng với chuyến thăm của Phó Tổng thống đương nhiệm đầu tiên của Mỹ tới Việt Nam, chúng ta có thể tận dụng cơ hội này cho tăng trưởng kinh tế ra sao: hợp tác vaccine, thu hút đầu tư, tăng cường xuất khẩu….?

    Việc Mỹ "ngoại giao vaccine" trong chuyến thăm này sẽ nhấn mạnh sự hiện diện của Mỹ ở khu vực. Bên cạnh đó, Mỹ sẽ có lợi từ việc người dân Việt Nam được tiêm vaccine rộng rãi để bảo đảm sản xuất cho chuỗi cung ứng.

    Ngoài ra, dù khả năng một hiệp định thương mại chính thức là khó có thể, Việt Nam có thể nhân chuyến thăm của Phó Tổng thống Kamala Harris để khẳng định mình là điểm đến ổn định cho các nhà đầu tư nước ngoài và là trọng điểm của chuỗi giá trị thế giới trong thời gian tới.

    Bên cạnh những điều được dự báo là tích cực từ chuyến thăm của bà Kamala Harris, anh nhận thấy kinh tế Việt Nam sẽ gặp những thách thức gì sắp tới?

    Khó khăn chính cho nền kinh tế trong thời gian gần vẫn sẽ là sự sụt giảm xuất khẩu do giá container, vận tải quốc tế tăng cao. Xuất khẩu yếu, cộng với thị trường nội địa yếu ớt do giãn cách xã hội, sẽ làm giảm mạnh tăng trưởng kinh tế cho năm tiếp theo. Khó khăn cho các Nhà nước sẽ chủ yếu về mặt tài khoá. Việc ngân sách thu ít do giảm sút kinh tế cộng với việc chi tiêu tăng để kiểm soát dịch, hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động sẽ tăng thâm hụt ngân sách, tăng rủi ro nợ công.

    * Quan điểm trong bài viết thể hiện ý kiến cá nhân của TS Châu Thanh Vũ và không thể hiện quan điểm chung của IMF

    Ba điểm nhấn hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Mỹ qua chuyến thăm của Phó Tổng thống Kamala Harris
    Quỳnh Anh

    Theo Trí thức trẻ
    TigerAnGiang thích bài này.
  6. Tinhledt

    Tinhledt Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    18/07/2018
    Đã được thích:
    15.930
    ........................
    VinaCapital: Chứng khoán Việt Nam đang như Đài Loan năm 1986, tăng trưởng sẽ kéo dài trong nhiều thập kỷ
    Thu Minh -
    Thị trường chứng khoán Việt Nam đang có nhiều điểm giống với chứng khoán Đài Loan năm 1986 như tỷ lệ nhà đầu tư cá nhân tham gia, GDP bình quân đầu người ở thời điểm hiện tại của Việt Nam tương đương với Đài Loan năm 1986...
    [​IMG]
    Ảnh minh họa.
    Ông Michael Kokalari, Chuyên gia kinh tế trưởng của VinaCapital vừa phân tích về thị trường chứng khoán Việt Nam với điểm nhấn chính là thị trường chứng khoán Việt Nam đang có nhiều điểm giống với chứng khoán Đài Loan năm 1986.

    Cụ thể, theo vị này, nhà đầu tư Việt Nam vốn ưu tiên đầu tư vào bất động sản, vàng rồi mới đến thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, thị trường bất động sản Việt Nam gần đây giảm dần vì một số lý do, bao gồm việc chậm trễ tiến độ xây dựng do ảnh hưởng của Covid, trong khi vàng hiện cũng mất dần sức hút khi khi chênh lệch giá mua bán đã thu hẹp từ năm ngoái, và vì giá vàng Việt Nam đã cao hơn 17% so với giá vàng thế giới.

    Trong bối cảnh không có nhiều giải pháp đầu tư khác hấp dẫn hơn, ngày càng có nhiều người gửi tiết kiệm trong nước chuyển sang thị trường chứng khoán, và sự nhiệt tình của các nhà đầu cá nhân mới đang bao trùm toàn bộ thị trường. Số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán mới của các nhà đầu tư cá nhân đã tăng gấp đôi trong năm 2020, và chỉ trong nửa đầu năm 2021, tổng số tài khoản mới nhiều hơn số tài khoản mới trong năm 2019 và 2020 cộng lại.

    [​IMG]
    Dù có sự gia tăng mạnh mẽ trong 2 năm gần đây, số lượng người có tài khoản giao dịch chứng khoán cá nhân ở Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 3% dân số cả nước, và con số này tương đương với tỷ lệ người dân Đài Loan có tài khoản giao dịch chứng khoán cá nhân vào năm 1986.

    Việt Nam áp dụng “Mô hình phát triển Đông Á”, mô hình mà Đài Loan và các “Con hổ châu Á” đã từng áp dụng để phát triển thịnh vượng để theo đó, thị trường chứng khoán của những “Con hổ châu Á” này tăng trưởng thần tốc cùng với sự phát triển kinh tế quốc gia. Do đó, Michael Kokalari tin rằng thị trường chứng khoán Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của một quá trình tăng trưởng kéo dài nhiều thập kỷ.

    “Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu tăng tỷ lệ người dân tham gia thị trường chứng khoán của quốc gia lên 5% vào năm 2025 và 10% vào năm 2030, và đây là những mục tiêu khả thi nếu so sánh với quá trình gia nhập thị trường của các nhà đầu tư cá nhân ở Đài Loan tại giai đoạn phát triển kinh tế tương tự với Việt Nam hiện nay.

    [​IMG]
    Ông Michael Kokalari, Chuyên gia kinh tế trưởng của VinaCapital.
    GDP bình quân đầu người 3.500 USD của Việt Nam tương đương với GDP bình quân đầu người 4.000 USD của Đài Loan (tính theo sức mua của đồng USD năm 2020) ở thời điểm tỷ lệ tham gia giao dịch chứng khoán cá nhân của Đài Loan vẫn chỉ là 3%”, chuyên gia kinh tế trưởng của VinaCapital nhấn mạnh.


    Các nhà đầu tư cá nhân mới của Việt Nam đã khiến khối lượng giao dịch trên thị trường bùng nổ. Sự gia tăng này đã làm quá tải hệ thống giao dịch của sở giao dịch chứng khoán, gây ra một số gián đoạn, bao gồm việc Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) đóng cửa sớm vào chiều ngày 1/6/2021.

    Sàn giao dịch HOSE đã sử dụng hệ thống giao dịch kể từ khi được thành lập cách đây 21 năm và được nâng cấp tạm thời lên hệ thống do FPT, công ty công nghệ hàng đầu Việt Nam, phát triển vào ngày 5.7. Hệ thống FPT đã nâng công suất của sàn HOSE từ 900.000 lên khoảng 4 triệu lệnh/ngày, việc nâng cấp lên hệ thống do Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc (KRX) phát triển đã tiến hành được một thời gian và có khả năng sẽ đi vào hoạt động vào đầu năm 2022.

    Bên cạnh việc tăng dung lượng, hệ thống KRX, hiện đang được thử nghiệm, sẽ có các tính năng mới đáp ứng việc tăng khối lượng giao dịch. KRX cũng sẽ hỗ trợ được giao dịch bán khống và giao dịch T+0 bao gồm việc loại bỏ yêu cầu phải có tiền trước khi mua hay có chứng khoán trước khi bán, cũng như khả năng thanh toán trong cùng ngày.

    [​IMG]
    Kết luận lại, theo ông Michael Kokalari, làn sóng nhà đầu tư cá nhân hiện nay đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam được thúc đẩy bởi mức lãi suất giảm và thu nhập doanh nghiệp tăng trưởng mạnh mẽ, và là một bước tiến mới trong sự phát triển của thị trường chứng khoán mà VinaCapital dự đoán sẽ diễn ra trong suốt những thập kỷ tới.

    Tỷ lệ tham gia ngày càng cao của các nhà đầu tư trong nước vào thị trường chứng khoán dù còn khiêm tốn so với những “Con hổ châu Á” như Đài Loan khi các nền kinh tế này ở giai đoạn phát triển tương tự với kinh tế Việt Nam hiện tại, và các mảng dịch vụ kiến tạo nên một thị trường chứng khoán hiện đại vẫn đang được sắp xếp để đáp ứng cho tốc độ tăng trưởng kỳ vọng.
    https://vneconomy.vn/vinacapital-ch...ang-truong-se-keo-dai-trong-nhieu-thap-ky.htm
    TigerAnGiang thích bài này.
  7. Tinhledt

    Tinhledt Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    18/07/2018
    Đã được thích:
    15.930
    ...............................
    Lãi suất huy động giảm tiền sẽ tiếp tục chảy vào Chứng Khoán @};-
    ........................................
    Cầu tín dụng giảm mạnh, lãi suất ngân hàng có tiếp tục hạ?
    NHVN 19:16 23/08/2021
    Trong bối cảnh cầu tín dụng có khả năng giảm mạnh, câu hỏi đặt ra là liệu các ngân hàng có tiếp tục giảm lãi suất huy động để tiết giảm chi phí?
    Theo quan sát trên thị trường, hiện lãi suất huy động tại các ngân hàng đang duy trì mức rất thấp. Một số ngân hàng thậm chí còn tiếp tục giảm thêm, đơn cử ngày 16/8, Ngân hàng SHB giảm lãi suất tiền đồng thêm khoảng 0,1 – 0,2%/năm, theo đó kỳ hạn 1 tháng xuống còn 3,5 - 3,6%/năm; 3 tháng còn 3,65 - 3,75%/năm; 6 tháng từ 5,3 - 5,4%/năm và 12 tháng từ 5,9 - 6%/năm...

    Lãi suất tiết kiệm tiền đồng tại Techcombank cũng đang ở mức rất thấp, kỳ hạn 1 tháng còn 2,3 - 3%/năm; 3 tháng từ 2,5 - 3,2%/năm; 6 tháng từ 3,7 - 4,8%/năm và 12 tháng còn 4,2 - 5,3%/năm...

    [​IMG]
    Ngân hàng có nên giảm lãi suất huy động để tiết giảm chi phí (Ảnh minh họa)

    Ngân hàng SCB - vốn là ngân hàng luôn giữ biểu lãi suất tiền gửi hấp dẫn nhất thị trường, mới đây cũng phải điều chỉnh giảm lãi suất kỳ hạn ngắn (1-5 tháng) xuống còn 3,85 - 3,95%/năm...

    So với thời điểm đầu 2020, lãi suất tiết kiệm tiền đồng của các NH đã giảm khoảng 1,5 - 3%/năm và ở mức thấp nhất trong 10 năm trở lại đây.

    Tương tự, trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất cũng có xu hướng giảm. Trong tuần thứ 2 của tháng 8, lãi suất VND các kỳ hạn chủ chốt như qua đêm, 01 tuần và 01 tháng giảm lần lượt 0,11%/năm, 0,24%/năm và 0,21%/năm xuống mức 0,83%/năm, 0,98%/năm và 1,30%/năm.

    Điều này cho thấy thanh khoản các ngân hàng vẫn đang tương đối dồi dào. Nguyên nhân là do dịch Covid-19 bùng phát lần thứ 4 khiến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp bị đình trệ, làm giảm nhu cầu vay vốn.

    Khó có thể giảm thêm

    Trên thực tế, thanh khoản dồi dào kể từ đầu năm khiến nhiều ngân hàng đã chủ động hạn chế huy động vốn trên thị trường dân cư để tiết giảm chi phí. Trong bối cảnh cầu tín dụng có khả năng giảm mạnh, câu hỏi đặt ra là liệu các ngân hàng có tiếp tục giảm lãi suất huy động để tiết giảm chi phí? Các chuyên gia cho rằng khả năng lãi suất huy động giảm thêm là không nhiều.

    Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, ở Việt Nam, lạm phát bình quân hiện nay khoảng 3,5% (lạm phát kỳ vọng năm nay là 4%). Nếu lãi suất tiền gửi bằng với lạm phát hoặc bằng với kỳ vọng lạm phát thì lãi suất thực bằng 0, vì đồng tiền mất giá 4%/năm. Nếu lãi suất tiền gửi tiết kiệm là 5%/năm thì lãi suất thực chỉ 1%.

    “Trong trường hợp lãi suất tiền gửi bằng không hoặc âm, thì người gửi có xu hướng rút tiền về để kinh doanh ngoài ngân hàng như chứng khoán, mua trái phiếu, mua vàng, mua ngoại tệ, mua bất động sản… Khi đó, hệ thống ngân hàng cũng như nền kinh tế rơi vào cái gọi là “bẫy thanh khoản”, có thể bị rút tiền ồ ạt. Đây là giới hạn cuối cùng của giảm lãi suất huy động để cân nhắc về chính sách” – TS Lê Xuân Nghĩa nói.

    Trên thực tế, theo thống kê từ đầu năm đến nay tiền gửi tại các tổ chức tín dụng tăng chậm hơn khá nhiều so với cùng kỳ các năm trước và so với tăng trưởng tín dụng.

    Tính đến cuối tháng 6, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng là 12,64 triệu tỷ đồng, tăng 4,43% so với cuối năm 2020. Trong đó, tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 5,111 triệu tỷ đồng, tăng 4,78%, còn tiền gửi của dân cư là 5,293 triệu tỷ đồng, tăng 2,94%.

    Trong đó, trong tháng 1 tiền gửi dân cư trong hệ thống tổ chức tín dụng giảm hơn 16.500 tỷ đồng so với cuối năm 2020; sau đó tăng đột biến vào tháng 2 thêm hơn 111.300 tỷ đồng. Tuy nhiên, sang tháng 3 lại giảm 13.365 tỷ đồng và từ tháng 4 đến tháng 6 tăng từ 11.000 - 17.000 tỷ đồng/tháng.

    Theo TS Lê Xuân Nghĩa, lãi suất tiền gửi hiện nay của Việt Nam đã rất gần giới hạn cuối cùng. Nguyên nhân do giãn, hoãn nợ, nên các ngân hàng chưa thể thu được tiền về để cho vay tiếp, vì vậy, tại một số ngân hàng nhỏ, thanh khoản đã bắt đầu có dấu hiệu áp lực hơn.

    Theo tính toán của TS. Lê Xuân Nghĩa, cơ hội để giảm tiếp lãi suất tiền gửi là rất thấp, khoảng 0,5%, đây là con số đã khá mạo hiểm. Và vì vậy, cơ hội giảm lãi suất cho vay cũng khá thấp, chỉ khoảng 0,5-1% tùy điều kiện của từng ngân hàng, không thể giảm 3-5% như một số hiệp hội doanh nghiệp mong muốn.

    Theo Kinh tế chứng khoán
    TigerAnGiang thích bài này.
  8. VNKERRY

    VNKERRY Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/01/2013
    Đã được thích:
    2.198
    Chủ thớt chắc đầy bụng bank rùi nhỉ
    Tinhledt thích bài này.
  9. TigerAnGiang

    TigerAnGiang Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/11/2018
    Đã được thích:
    2.534
    Muốn VNI lên 1.500 - 1.600 thì chỉ có BANK tăng, mà các thông tin trên rất ok cho BANK, hiện giá cp BANK đã về vùng hấp dẫn, một số lại có GAME : MSB, VPB, STB, HDB, SHB, ... do vậy VNI sẽ tăng lại từ từ thôi ...
    Tinhledtvvaa83 thích bài này.
  10. bnw2006

    bnw2006 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    14/11/2006
    Đã được thích:
    8.503
    Hay quá em ơi.
    TinhledtTigerAnGiang thích bài này.

Chia sẻ trang này