NHẬT MINH Media. Biến dế yêu của bạn thành bản tin chứng khoán.

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi Chow_Yun_Fat, 18/06/2007.

Trạng thái chủ đề:
Đã khóa
1718 người đang online, trong đó có 687 thành viên. 18:02 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 484 lượt đọc và 6 bài trả lời
  1. Chow_Yun_Fat

    Chow_Yun_Fat Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2004
    Đã được thích:
    0
    NHẬT MINH Media. Biến dế yêu của bạn thành bản tin chứng khoán.

    Có phải hàng ngày đội nắng đội mưa đến sàn giao dịch, chen chúc toát mồ hôi để ngắm những con số trên bảng điện tử để trờ thành nhà đầu tư chứng khoán?

    Tại sao không ở nhà, bật điều hoà và thưởng thức một tách café ngọt ngào mà trở thành một nhà đầu tưu chuyên nghiệp khi giờ đây chúng tôi nhận trách nhiệm mang thông tin đến cho bạn.

    Trước khi đến sàn giao dịch chỉ để giao lệnh và ghé qua ngân hàng rút tiền về hãy nhắn CK <mã chứng khoán> và gửi cho chúng tôi qua địa chỉ 8366 để biết các thông số về đợt giao dịch, chỉ số Index, giá trần, giá sàn, giá tham chiếu, gia mua cao nhất và giá bán thấp nhất, giao dịch nhà đầu tư nước ngoài của chứng khoán bạn đầu tư( ví dụ: nhắn CK FPT gửi 8366 để biết các thông số về đợt giao dịch, chỉ số Index, giá trần, giá sàn, giá tham chiếu, gia mua cao nhất và giá bán thấp nhất, giao dịch nhà đầu tư nước ngoài của cổ phiếu FPT) hay trở thành nhà đầu tưu kĩ thuật như Waren Buffet khi quan tâm đến những thông tin mới nhất của doanh nghiệp bằng cách soạn TTDN <Mã chứng khoán> gửi 8566 ( ví dụ: soạn TTDN ACB gửi tới địa chỉ 8566 để biết những thông tin mới nhất của ngân hàng thương mại Á Châu) hoặc gọi đến số 1900 17 17 để biết thông tin về giao dịch, bảng tin và kết quả đấu giá cổ phần, trái phiếu nghe nhận định của các chuyên gia kinh tế về thị trưòng chứng khoán Việt Nam.

    Nhật Minh.Media - Mang cả sàn chứng khoán đến với bạn.



    Được Chow_Yun_Fat sửa chữa / chuyển vào 14:17 ngày 18/06/2007

    Được Chow_Yun_Fat sửa chữa / chuyển vào 14:57 ngày 18/06/2007

    Được Chow_Yun_Fat sửa chữa / chuyển vào 15:01 ngày 18/06/2007

    Được Chow_Yun_Fat sửa chữa / chuyển vào 15:15 ngày 18/06/2007
  2. Chow_Yun_Fat

    Chow_Yun_Fat Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2004
    Đã được thích:
    0
    Warren Buffett sinh năm 1931 ở một thị trấn nhỏ tên là Ohama. Gia đình ông có mối quan tâm lớn đến thị trường chứng khoán.
    Ông học được bài học lớn đầu tiên về đầu tư chứng khoán vào năm 11 tuổi khi ?ogà? cho người chị của mình đầu tư toàn bộ ?otài sản? riêng (100 đôla) mua 3 cổ phiếu (với giá 38 đôla/cổ phiếu) của một công ty nhỏ. Giá cổ phiếu công ty này sau đó tụt giảm mạnh và người chị đã rất lo sợ, muốn bán ngay để gỡ gạc lại chút vốn còm, trong nỗi ân hận nghe lời đứa trẻ xui dại.

    May thay, giá cổ phiếu đó đã tăng trở lại và cậu bé đã vội bán với giá 40 đôla/cổ phiếu, thu lãi được chút đỉnh cho người chị sau khi trừ phí giao dịch. Điều làm ông bực mình nhất là giá cổ phiếu đó còn tăng lên đến 100 đôla sau một thời gian ngắn. Đứa trẻ Buffett đã phải chịu thua áp lực của khách hàng, nhưng cậu ta cũng học được một bài học có giá trị từ đây.

    Khi đã thành một nhà đầu tư chuyên nghiệp, Buffett hiếm khi nói cho khách hàng biết ông đang làm gì với tiền của họ bởi vì điều này chỉ làm họ lo lắng thêm - và chỉ ngăn cản ông đưa ra những quyết định lạnh lùng, tỉnh táo để tăng thêm lợi nhuận cho họ.

    Ở tuổi thanh niên, đang học tại Đại học Pennsylvania, Buffett đã tích góp đủ tiền để đầu tư mua đất tại Nebraska. Tư tưởng thích kiếm tiền từ thuở bé đã làm ông không dừng ở đây. Ông đã liên hệ để trao đổi ý tưởng với và xin làm việc cho Benjamin Graham, lúc đó đang điều hành một doanh nghiệp đầu tư 4 người, có lẽ là ?otiệm đầu tư? đầu tiên cho đến lúc đó.

    Graham là người khởi xướng cho khái niệm tìm kiếm các giá trị ẩn tàng. Ông chú mục vào 2 chỉ tiêu chính: tỷ trọng hàng tồn kho trên doanh thu và tỷ trọng nợ trên vốn góp cổ đông. Graham từ chối đầu tư vào các công ty có nợ nhiều hơn vốn cổ đông. Ông cũng tin rằng có thể tìm ra những công ty mà giá trị ròng của nó không phản ánh qua giá trị cổ phiếu.

    Buffett hấp thu những tư tưởng này của Graham, cũng như của Phillip Fisher - một nhà đầu tư rất thành công. Ông này quan tâm đến trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp thể hiện qua các tài khoản và tỷ lệ tồn kho. Fisher có một nguyên tắc mà Buffett không bao giờ quên: Nhà đầu tư vào một công ty nào đó chỉ nên làm hậu thuẫn cho các nhà quản lý giỏi của công ty, chứ không được tự mình quản lý công ty đó.

    Ở tuổi 25, Buffett đã thuyết phục thành công hàng xóm của mình ở Ohama góp 100.000 đôla (tương đương với 1 triệu đôla giá hiện tại) vốn đầu tư với mình. Ông thỏa thuận với các đối tác là sẽ mang lại ít nhất 6% lãi, và ông sẽ được hưởng 25% trên số lãi vượt mức 6% này.

    Trong một bức thư gửi các đối tác, ông viết: ?oTôi không thể cam đoan về kết quả đầu tư với các ông, nhưng tôi có thể và xin cam đoan rằng: (i) các khoản đầu tư của chúng ta sẽ được lựa chọn trên cơ sở giá trị; (ii) mô thức đầu cơ của chúng ta sẽ cố gắng làm giảm thiểu thua lỗ vốn vĩnh viễn (chứ không phải thua lỗ danh nghĩa trong ngắn hạn)?.

    Buffett đã mang lại cho các đối tác hơn 6% lợi nhuận. Những đối tác đầu tiên này đều đã trở thành triệu phú. Ước tính có đến 52 người ở ở Ohama đã thành triệu phú nhờ đầu tư với Buffett trong một vài năm đầu tiên.

    Tuy nhiên, năm 1969, Buffett quyết định thời vận của mình đã chấm dứt, trong bối cảnh thị trường chứng khoán trở nên nóng bỏng trong suốt thập kỷ 60, làm cho nhiều loại chứng khoán trở nên quá đắt đỏ. Ông rút lui khỏi thị trường và phải khổ sở với hiện thực là hầu như không còn đầu tư chứng khoán nữa.

    Sự rút lui này quả là đúng lúc, và ông đã không bị mất tiền trong cơn suy thoái của thị trường năm 1973-74. Đây cũng là cơ hội tuyệt vời để mua chứng khoán với giá thấp cho đến tận cuối năm 1974.

    Khi Buffett trở lại thị trường, ông nói cảm giác lúc đó ?onhư một gã đàn ông lạc vào chốn cấm cung toàn phụ nữ?, khi có quá nhiều cơ hội. Tất cả những khỏan đầu tư mới sau này, chủ yếu là ngành truyền thông, đều rất thành công.

    Có thể lý giải một phần động cơ đầu tư của ông vào ngành truyền thông là bắt nguồn từ truyền thống gia đình (cha và ông của Buffett đều là những nhà sản xuất, biên tập báo chí). Nhiều trong số ý tưởng đầu tư của ông cũng bắt nguồn từ cái gốc gác dân ?otỉnh lẻ? của mình. Ông ghét những công ty nào hay thay đổi cái hay cách thức họ đang làm. Sự ổn định là một dấu cộng. Những cái tên lớn ở Mỹ cũng vậy. Vì thế 2 trong số những khoản đầu tư thành công của ông là Coca Cola và Walt Disney, 2 biểu tượng của Mỹ.

    Nhìn từ khía cạnh tâm lý học thì Buffett là một con chiên của chủ nghĩa hình thái. Ông nhấn mạnh rằng bạn phải tập trung vào các ưu điểm của một công ty trong một khối tổng thể, thay vì chỉ nhìn vào, ví dụ, cái giá mà mình sẽ thu được khi chia nhỏ và bán các tài sản khác nhau của nó.

    Một trong những ví dụ về tư tưởng này là việc ông đầu tư vào American Express. Năm 1982, hãng này bị thua lỗ lớn vì vướng vào một vụ tai tiếng liên quan đến dầu trộn salad. Giá cổ phiếu của nó giảm mạnh từ 62 USD xuống còn 35 USD. Thiên hạ đồ rằng hãng này sắp bị phá sản, và báo chí thì liên tục đổ thêm dầu vào lửa.

    Buffett nhìn sự việc lạnh lùng hơn. Ông phân tích các ngành kinh doanh cơ bản của hãng này ?" du lịch, thẻ tín dụng, séc lữ hành. Những lĩnh vực này không bị ảnh hưởng bởi vụ tai tiếng trên. Là một người theo chủ nghĩa hình thái, ông nhìn toàn bộ hãng và cho rằng nó vẫn tốt. Thị trường đã quá hoảng sợ và phóng đại mức độ nghiêm trọng của thảm họa. Ông đã mua rất nhiều cổ phiếu của hãng này và trong vòng ít năm, giá của nó đã tăng từ 35 USD lên 189 USD.

    Một trong những tư tưởng chính của Warren Buffett là cuối cùng thì giá trị thực của cổ phiếu sẽ được phản ánh qua giá thị trường. Thủ thuật ở đây là phải nhìn ra được giá trị thật của nó trước người khác, rồi mua rẻ - và sau đó phải sẵn sàng chờ đợi thời cơ. Tất nhiên nhìn ra được giá trị thực của cổ phiếu không phải đơn giản vậy - và ông không bao giờ tiết lộ các phép tính chi tiết ông sử dụng để đánh giá giá trị thực của một công ty và dự đoán giá của nó sẽ lên đến bao nhiêu.

    Tuy vậy, cũng cần biết rằng Buffett có một số kiêng kỵ. Ông thừa nhận rằng có ?ovận đen? trong một số ngành như bán lẻ. Gốc gác ?onhà quê? cũng làm ông rất lo ngại với cổ phiếu nông nghiệp vì ông biết rõ là nhà nông thường có mức tồn kho lớn, một điều mà Graham tối kỵ.

    Khi đã trở thành người nổi tiếng, Buffett luôn nhấn mạnh sự bình dị của mình. Ông sống ở Ohama trong ngôi nhà ông mua từ những năm 50. Dưới đây là một trong số những phương châm của ông được nhắc đến nhiều nhất:

    - Nguyên tắc 1: Không bao giờ để mất tiền

    - Nguyên tắc 2: Không bao giờ được quên nguyên tắc 1

    Và một câu nói mang tính tôn giáo: ?oThị trường như Chúa cứu giúp những ai tự cứu giúp mình. Nhưng khác với Chúa, thị trường không tha thứ cho những ai không biết phải làm gì?.

    Những câu nói trên củng cố thêm hình ảnh bình dị của Buffett như bất kỳ một người Mỹ bình thường nào khác. Tuy vậy, nhiều người biết rõ đây là một hình ảnh bị bóp méo đôi chút. Không phải ngẫu nhiên có tác giả đã đặt tên cho cuốn sách của mình về Buffett là ?oThe Midas Touch? (tạm dịch: ?oCái chạm của Midas?).

    Những nguyên tắc đầu tư của Buffett xem ra có vẻ đơn giản nhưng để thực hiện được chúng thì phải có toàn bộ sự nhiệt thành, cam kết, và sự tập trung cao độ vào thị trường, một năng lực tính toán hơn người, và sự tiếp cận với những thông tin mà bình thường là điều bất khả đối với những ai ít có các quan hệ.



    Được Chow_Yun_Fat sửa chữa / chuyển vào 14:22 ngày 18/06/2007
  3. Chow_Yun_Fat

    Chow_Yun_Fat Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2004
    Đã được thích:
    0
    George Soros, nhà đầu tư tài chính vĩ đại nhất lịch sử

    George Soros - từ người bồi bàn thành tỷ phú
    Cái tên George Soros đã trở nên hết sức quen thuộc với phố Wall cũng như với toàn thế giới. Người ta biết đến ông như một nhà tỷ phú thành công nhất trong lĩnh vực đầu tư tư bản. Phía sau những thành công đó, Soros là một nhà kinh doanh đầy cá tính và đã phải trải qua nhiều thăng trầm trong kinh doanh...
    Soros là người Do Thái, sinh ra ở Hungary vào ngày 12/8/1930. Tuổi thơ của nhà tỷ phú này gắn liền với những ngày kinh hoàng khi phát xít Đức tàn sát người Do Thái trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Khi còn nhỏ, ông được dạy rằng người Do Thái có thể chạy chứ không được lẩn trốn! Năm 1947, cậu bé Soros sang London một mình, bắt đầu cuộc đời khốn khó của dân nhập cư.
    Công việc ban đầu của ông tại đất nước này là bồi bàn ở một hiệu ăn sang trọng ở London, khi cả gia đình đang phải sống bằng trợ cấp xã hội. 18 tuổi, với số tiền kiếm được bằng nghề thu hoạch táo và sơn nhà thuê, George Soros ghi danh vào Học viện kinh tế London. Sau giờ học, ông còn phải làm người gác đêm ở một ga tàu hỏa. Tại đây, Soros tốt nghiệp trường Kinh doanh London vào năm 1952.
    Năm 1956, Soros sang Mỹ đoàn tụ với bố mẹ và các anh chị em, và nhập quốc tịch Mỹ. Đây là nơi ông bắt đầu khởi nghiệp với 5.000 USD ban đầu, bắt đầu sự nghiệp tài chính với cá tính táo bạo và quyết đoán trong đầu tư.
    Phương châm của Soros khá đặc biệt: trong kinh doanh, việc đúng hay sai không quan trọng, cái quan trọng là nếu đúng sẽ có được bao nhiêu tiền, và nếu sai sẽ mất bao nhiêu tiền. Có nhiều sự kiện chứng minh hùng hồn cho lập luận trên.
    Kiếm 1 tỷ USD trong vòng 1 tuần!
    Năm 1973, sau một thời gian hoạt động trong lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế, ông thành lập Công ty quản lý tài chính Soros với số vốn 17 triệu đôla. Sáu năm sau đó, ông đã tăng ngân sách của mình lên 100 triệu đôla. Thành công bước đầu này của Soros là nhờ sự kết hợp giữa khả năng phân tích sắc sảo thị trường tài chính thế giới và sự can đảm trong đầu tư. Ông chấp nhận hoặc mất, hoặc được từng ấy tiền trong chớp mắt.
    Năm 1992, ông thu được một món lợi lớn từ những dự đoán chính xác của mình về thị trường tiền tệ thế giới. Ông đặt cược cả gia tài vào sự sụt giá của đồng Bảng Anh và còn mạnh dạn vay hàng tỷ Bảng Anh và đổi sang đồng Mác Đức. Và thực tế diễn ra đúng như dự đoán của Soros: đồng Bảng Anh rớt giá thảm hại đến mức bị loại khỏi rổ tiền tệ châu Âu, ông trả nợ bằng tiền Bảng Anh đã mất giá và thu lợi tới 1 tỷ đôla chỉ trong vòng một tuần!
    Kẻ đầu cơ tiền vĩ đại nhất thế kỷ XX
    Một sự kiện khiến cái tên George Soros lại xuất hiện trên tất cả các hàng tít của các tờ báo lớn trên thế giới, đó là cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu Á mùa hè năm 1997. Bắt đầu từ Thái Lan, cuộc khủng hoảng theo hiệu ứng đôminô nhanh chóng lan ra toàn châu Á trong nhiều tháng tiếp theo. Như một kết quả tất yếu, các thị trường chứng khoán tại châu Á tụt dốc nhanh chóng.
    Đợt sóng này tràn đến phố Wall vào tháng 10/1997. Tâm lý lo ngại cuộc khủng hoảng kinh tế tại châu Á sẽ kéo theo một loạt sự sụp đổ các thị trường tài chính trên toàn cầu đã làm dấy lên làn sóng bán cổ phiếu tại Mỹ vào ngày 27/10. Cũng vào ngày hôm đó, chỉ số Dow Jones rớt 554,26 điểm, vượt trên mức kỷ lục của ?oNgày thứ hai đen tối? 1987.
    Những sự kiện này khiến Soros được biết đến như một nhà đầu cơ tiền mặt ?ovĩ đại? nhất của thế kỷ XX. Điều đó cho thấy Soros không chỉ là nhà kinh doanh có đầu óc nhạy bén, mà còn là một người cực kỳ thực dụng. Ông luôn đưa ra quyết định dựa trên những xét đoán về điều đúng và điều sai theo phương châm trên. Soros đã từng làm cho biết bao người phải khổ sở bởi quyết định của ông có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tài chính quốc tế. Nhưng những quyết định đó lại đáng giá hàng tỷ đôla!
    George Soros tỏ ra là một nhà kinh doanh biết chấp nhận rủi ro và dám chịu mất mát. Sau nhiều pha đầu tư có thể làm người khác thót tim, đến năm 1993 là năm George Soros đạt mức thu nhập kỷ lục 1,1 tỷ USD, vượt trên tất cả các đối thủ tại phố Wall. Cả thế giới biết đến Soros như kẻ làm mất uy tín của một trong những đồng tiền có giá trị bậc nhất thế giới.
    Ông chủ của công ty cực kỳ thành công
    Sau một thời gian lãnh đạo Công ty quản lý tài chính, Soros thành lập Soros Quantum Fund và đến năm 1998, giá trị của quỹ này tăng lên tới 6 tỷ đôla. Tháng 7/2000, Soros sáp nhập Quantum Fund với Quantum Emerging Growth Fund thành Quantum Endowment Fund. Hiện nay, Soros vừa là chủ tịch hội đồng quản trị vừa là Tổng giám đốc công ty.
    Quantum Fund của Soros được đánh giá là quỹ đầu tư thành công nhất trong lịch sử kinh tế thế giới. Trong suốt thập niên 1970, hầu hết các nhà đầu cơ giá xuống đều bị thua lỗ, riêng Quantum lợi nhuận vẫn tăng mạnh hàng năm. Quantum chỉ có một năm lỗ duy nhất trong suốt 30 năm hoạt động là năm 1981. Ngày nay, Quantum là một trong những quỹ hùng mạnh nhất trong số 3.000 quỹ tương hỗ trên thế giới. Các chi nhánh của nó trải dài từ Trung đến Đông Âu, Nga, Trung Đông, Nam Mỹ, Guatemala và Mỹ.
    Có lẽ một trong những yếu tố làm nên thành công của George Soros là ông luôn say sưa làm việc không mệt mỏi, ngay cả khi đã ở cái tuổi ?othập cổ lai hy? như vậy. Ông thường làm việc liên tục với mỗi đêm chỉ ngủ 2 giờ!
    George Soros cho biết cũng như bao nhà đầu tư khác để có được quyết định đúng, ông phải thu thập các thông tin và phân tích chúng một cách tỉ mỉ, cộng thêm một chút bản năng vốn có và may mắn mới tạo ra được sự thành công.
    Mọi người đi bên phải, riêng Soros bên trái
    Mọi người đi bên phải, riêng Soros đi bên trái nhưng lại tỏ ra mình đúng đường. Đó là nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế phố Wall trước đây cũng như ngày nay.
    Trái với nhiều nhà kinh tế, học thuyết cơ bản của ông về đầu tư là thị trường tài chính - nơi bất ổn nhất. Tại đó, các mức giá cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ phụ thuộc vào người mua và người bán mà đa số họ thường hành động theo cảm tính chứ không bằng những tính toán lôgic.
    Ông tin rằng các nhà đầu tư luôn chịu tác động lẫn nhau và có xu hướng dịch chuyển theo số đông. George Soros cố gắng hiểu được hướng đi của số đông đó. Tuy nhiên, đến thời điểm quyết định, ông sẽ tách khỏi xu hướng chung và đi con đường riêng có lợi nhất cho mình. Cái khó với mỗi nhà đầu tư là phải biết thời điểm quyết định đó sẽ đến vào lúc nào!
    Năm 2004, George Soros đứng thứ 24 trong danh sách những người giàu nhất thế giới, với giá trị tài sản 7,2 tỷ USD. Đứng thứ 24 thế giới nhưng nhà tỷ phú gốc Do Thái này nổi tiếng là nhân vật số một trong giới tài chính. Người ta tin rằng ông có thể một tay che cả bầu trời, làm mất giá bất kỳ đồng tiền mạnh nào trên thế giới hay gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế bởi những cư dân của phố Wall và thị trường tài chính London luôn dõi theo và sẵn sàng dập khuôn theo ông.
    Theo các nhà phân tích, George Soros là nhà đầu cơ ngắn hạn, hoạt động kinh doanh của ông mang tính trục lợi rất cao, đầu tư những khoản tiền lớn nhưng mang nhiều tính đánh bạc trên cơ sở những biến động của thị trường tài chính toàn cầu. Do đó, sau sự kiện này, nhất cử nhất động của George Soros đều thu hút sự chú ý đặc biệt của các quan chức Chính phủ và ngân hàng trung ương của tất cả các nước.
  4. Chow_Yun_Fat

    Chow_Yun_Fat Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2004
    Đã được thích:
    0
    Warren Buffett đã đầu tư thế nào?
    Bạn có biết rằng chỉ với một khoản đầu tư trị giá 10.000$ vào công ty Berkshire Hathaway vào năm 1965, đến năm 2005 Warren Buffett đã khiến số tiền đó sinh sôi lên tới 30 triệu $. Trong khi đó, lại một khoản 10.000$ khác đầu tư vào công ty S&P 500 đã mang lại cho ông khoảng 500.000$. Có thể bạn không thích Warren Buffett, nhưng sự thành công của ông sẽ khiến bất kì ai phải ngưỡng mộ. Buffett đã trở thành huyền thoại trong lịch sử ngành tài chính và rất nhiều người đã theo dấu chân ông để tìm kiếm sự thành công ấy.

    Trong hoạt động tài chính, mỗi nhà đầu tư đều có những cách suy nghĩ riêng, có những triết lý mà những tư tưởng ấy sẽ định hướng các quyết định đầu tư của họ. Buffett đã từng học về đầu tư giá trị tại trường Benjamin Graham. Các nhà đầu tư vào giá trị (value investors) thường tìm kiếm các chứng khoán có mức giá thấp hơn nhiều so với giá thị thực của chúng. Việc tính toán giá trị nội tại của một chứng khoán hoàn toàn không phải là chuyện dễ dàng bởi nó đòi hỏi một cái đầu lạnh và sự tinh tế bởi trên thế giới chẳng có tiêu chuẩn toàn cầu nào để tính toán con số này. Phần lớn việc đánh giá giá trị nội tại là dựa trên phân tích các số liệu cơ bản về một doanh nghiệp. Giống như việc các bà nội trợ mặc cả gắt gao khi đi chợ, các nhà đầu tư tìm kiếm giá trị cũng cố gắng tìm kiếm những "món hàng" rẻ, thực sự có giá trị nhưng lại bị phần lớn những người mua hàng bỏ lỡ. Buffett tuy theo phương pháp đầu tư này nhưng ông đã tiếp cận nó ở một mức độ khác. Nhiều nhà đầu tư vào giá trị không tin thuyết thị trường hiệu quả, nhưng họ lại thực sự tin rằng thị trường sẽ làm đầy túi của họ vì qua thời gian những cổ phiếu bị định giá thấp sẽ tăng lên tới giá trị thực của chúng. Nhưng Buffett lại không suy nghĩ như vậy. Ông không quan tâm đến quan hệ cung cầu phức tạp trên thị trường chứng khoán, và thực sự thì cũng chẳng mấy quan tâm đến những gì đang diễn ra trên thị trường. Ông chọn mua các cổ phiếu đơn giản là dựa trên tiềm lực của công ty. Việc nắm giữ các cổ phiếu này đối với Buffett cũng giống như chơi một trò chơi, ông không chỉ muốn tăng vốn đầu tư của mình mà còn muốn được sở hữu các công ty có khả năng tạo ra lợi nhuận cao. Khi đầu tư vào một công ty, Buffett không quan tâm xem liệu sau này thị trường có nhận ra giá trị thực sự của doanh nghiệp hay không, thay vào đó ông chỉ quan tâm tới khả năng kiếm lời của doanh nghiệp như là một thực thể tiến hành hoạt động kinh doanh.

    Vậy làm thế nào mà Buffett lại có thể tìm kiếm được các cổ phiếu có giá thấp và sao ông ta lại có thể đánh giá được mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và "chất lượng" của cổ phiếu đó? Sau đây là cách thức mà Buffett tiến hành phân tích đầu tư. Nếu bạn thực sự muốn trở thành một nhà đầu tư thành công, hãy ghi nhớ trong đầu không chỉ những yếu tố mà Buffett phân tích mà hãy để tâm vào những thứ mà ông ta tìm kiếm.
    Trước hết khi quyết định đầu tư vào một công ty, Buffett luôn xem xét liệu rằng công ty này có hoạt động hiệu quả lâu dài hay không. ROE là một trong các chỉ số được quan tâm đầu tiên, việc so sánh tỉ lệ này với các doanh nghiệp khác trong ngành sẽ mang lại những thông tin hữu ích.

    Tất nhiên chỉ phân tích con số này trong một năm không bao giờ là đủ, muốn được như Buffett thì ít nhất bạn phải xem xét chỉ số này trong 10 năm để thấy được toàn bộ quá trình hoạt động của công ty.

    Thứ hai, hãy xem xét công ty có hạn chế việc vay nợ quá mức không. Tỉ lệ nợ trên vốn cổ phần là một chỉ số quan trọng khác được Buffett quan tâm xét xét kĩ lưỡng. Ông luôn tìm kiếm những công ty có mức nợ thấp do đó chính vốn cổ phần của cổ đông sẽ làm tăng doanh thu chứ không phải là các khoản tiền đi vay nợ. Nếu tỉ lệ này ở mức cao có nghĩa là công ty đang sử dụng tiền từ đi vay nhiều hơn là sử dụng vốn từ cổ đông để duy trì hoạt động. Vay nợ ở mức tương đối cao so với vốn cổ phần có thể dẫn tới sự mất ổn định trong thu nhập và dẫn tới chi phí vay vốn (tiền lãi) cao.

    Thứ ba, biên lợi nhuận là một nhân tố cần suy nghĩ. Khả năng sinh lợi của một công ty không chỉ phụ thuộc vào biên lợi nhuận mà còn phụ thuộc vào tốc độ tăng tỉ suất lợi nhuận liên tục của công ty. Để có được các thông tin đáng tin cậy về khả năng sinh lợi của một công ty, hãy xem xét chỉ số này trong ít nhất năm năm. Biên lợi nhuận cao có nghĩa là công ty đang tiến hành hoạt động kinh doanh tốt, nhưng biên lợi nhuận (hay tỉ suất lợi nhuận) tăng thì đó là dấu hiệu cho thấy hoạt động quản lý công ty là rất hiệu quả, đặc biệt là trong quản lý chi phí.

    Thứ tư, cần xem xét công ty đã cổ phần hoá được bao lâu. Buffett thường chỉ xem xét tới các công ty cổ phần đã hoạt động được ít nhất là 10 năm. Vì thế hầu hết các công ty công nghệ phát hành cổ phiếu lần đầu (IPOs) trong thập kỉ vừa qua đều không nằm trong tầm ngắm của Buffett (đấy là còn chưa tính đến việc Buffett chỉ đầu tư vào các công ty mà ông nắm rõ thông tin, và ông cũng thừa nhận rằng mình chẳng hiểu mấy về cách thức hoạt động của hầu hết các công ty công nghệ hiện nay). Tuy vậy các tiêu chuẩn của Buffett vẫn hoàn toàn hợp lý: đầu tư tìm kiếm giá trị có nghĩa là tìm kiếm các công ty đã được thử thách qua thời gian nhưng giá cả vẫn chưa thể hiện đúng giá trị thực của nó.
    Hãy nhớ rằng không bao giờ được đánh giá thấp giá trị các thành tựu của doanh nghiệp trong quá khứ_những thông tin hết sức hữu ích để dự đoán khả năng làm gia tăng lợi nhuận cho các cổ đông. Nhưng cũng đừng quên rằng quá trình hoạt động trong quá khứ của một công ty không đảm bảo hoàn toàn rằng công ty đó sẽ hoạt động tốt trong tương lai, do đó công việc của nhà đầu tư giá trị là phải xác định xem liệu trong tương lai công ty có thể hoạt đông tốt như trong quá khứ hay không. Rõ ràng đây không phải là công việc dễ dàng, nhưng Buffett lại là một thiên tài trong việc xác định khả năng phát triển của một công ty.
    Thứ năm, hãy xem xét xem cơ cấu sản phẩm của công ty như thế nào, liệu có phải nó chỉ sản xuất một loại sản phẩm duy nhất hay không? Bạn có thể nghĩ đây là một câu hỏi hết sức bình thường. Tuy nhiên đối với Buffett, câu hỏi này lại hết sức quan trọng. Buffett thường bỏ qua các công ty mà sản phẩm không có nét riêng biệt so với các công ty đối thủ và các công ty chỉ có một loại sản phẩm duy nhất, ví dụ như công ty xăng dầu. Các đặc điểm khó có khả năng bắt chước được Buffett gọi là chiếc áo giáp tự vệ của các công ty, hay nói cách khác đó chính là lợi thế so sánh. Lợi thế càng mạnh thì công ty càng có khả năng thắng thế trên thị trường.

    Điều cuối cùng mà nhân vật huyền thoại của ngành tài chính thế giới quan tâm, và có lẽ cũng là mối quan tâm của chính bạn nếu muốn trở thành nhà đầu tư thực thụ, đó là liệu rằng cổ phiếu đó có bán ở mức giá thấp hơn giá trị thực của nó đến 25% hay không.

    Tìm kiếm một công ty thoả mãn năm tiêu chí trên là một chuyện, nhưng xác định xem liệu nó có bị đánh giá thấp hơn giá trị thực sự không thì lại là một chuyện khác, đây mới chính là công việc khó khăn phức tạp nhất đối với các nhà đầu tư giá trị, và cũng là kĩ năng quan trọng nhất của Warren Buffett. Để kiểm tra được tiêu chuẩn thứ 6 này, nhà đầu tư cần tính toán giá trị nội tại của một công ty bằng cách phân tích các dữ liệu cơ bản, trong đó có lãi ròng, tổng doanh thu, tài sản...Nếu như một công ty có giá trị nội tại luôn lớn hơn giá thanh lý của công ty đó thì theo bạn nó sẽ có giá bao nhiêu nếu ngay trong ngày hôm nay bị phá sản và được rao bán. Giá trị thanh lý của công ty sẽ không bao gồm các tài sản vô hình như: giá trị thương hiệu_một tài khoản không có mặt trên các báo cáo tài chính nhưng lại là một tài sản hết sức quan trọng và có giá. Đối với Buffett, khi tiến hành tính toán giá trị nội tại của một doanh nghiệp, ông thường so sánh với giá trị vốn hoá thị trường hiện tại của nó. Nếu giá trị nội tại của một doanh nghiệp cao hơn ít nhất 1.25 lần giá trị vốn hoá thị trường của nó, Buffett sẽ ghi tên công ty vào danh sách đầu tư của mình. Nghe thì có vẻ đơn giản nhưng thực sự thì thành công của Buffett là do khả năng thiên phú không ai sánh kịp của ông trong việc tính toán giá trị nội tại. Cho dù chúng ta có biết được các tiêu chí như trên của Buffett nhưng thực sự thì không ai có thể biết được làm thế nào mà ông lại có thể tính toán một cách chính xác đến vậy.

    Phong cách đầu tư của Buffett cũng giống như phong cách shopping của những người ưa thích mặc cả. Phong cách ấy đã ngấm vào máu và nó thể hiện ngay trong cuộc sống đời thường của ông .Năm 2004 Buffett được tạp chí Forbes phong là người giàu thứ hai trên thế giới với tổng tài sản lên tới khoảng 40 tỉ $, tuy nhiên Buffett không sống trong những ngôi biệt thự to, cũng không có cả bộ sưu tập ôtô hay dùng xe limousine để đi làm. Có thể nhiều người không thích Buffett nhưng nhà đầu tư ấy đã trở thành một tượng đài trong ngành tài chính và khiến cho cả thế giới phải nghiêng mình ngưỡng mộ trước tài năng của ông.
  5. Chow_Yun_Fat

    Chow_Yun_Fat Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2004
    Đã được thích:
    0
    Hệ số thị giá và thu nhập cổ phiếu (P/E)
    P/E (Price/Earnings Ratio) là hệ số giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập mà nó mang lại. Đây là một trong những chỉ số phổ biến được niêm yết trên thị trường chứng khoán, trước hết biểu hiện mức giá nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra cho một đồng lời thu được từ cổ phiếu đó.Ví dụ, P/E = 25 có nghĩa nhà đầu tư chịu bỏ ra 25 đồng để thu được 1 đồng lãi từ cổ phiếu này.
    Tuy nhiên, ý nghĩa quan trọng của P/E là phản ánh kỳ vọng của thị trường về sự tăng trưởng cổ phiếu trong tương lai hơn là kết quả làm ăn đã qua. Người ta so sánh P/E của các công ty cùng ngành, nếu chỉ số P/E của một công ty nào cao hơn mức bình quân, có nghĩa thị trường kỳ vọng công ty này sẽ ăn nên làm ra trong thời gian tới. Một công ty có chỉ số P/E càng cao thì kỳ vọng của thị trường vào lợi nhuận của công ty càng cao, do đó thu hút được càng nhiều các nhà đầu tư. Còn ngược lại khi họ ít hoặc không kỳ vọng vào khả năng sinh lời lớn của công ty thì mức giá họ sẵn sàng bỏ ra khi mua cổ phiếu thấp, dẫn đến chỉ số P/E thấp, biểu hiện giá cổ phiếu này đang trên xu hướng giảm.
    Chỉ số P/E nên dùng để quyết định mua hay không mua một loại cổ phiếu chỉ sau khi đã đối chiếu giữa các công ty cùng ngành và quan trọng là sau khi đã theo dõi xu hướng chỉ số này trong một thời gian tương đối dài.
  6. Chow_Yun_Fat

    Chow_Yun_Fat Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2004
    Đã được thích:
    0
    Chỉ số trung bình DOW JONES (DJIA)
    Chỉ số này là gì?
    Một trăm năm đã qua, DJIA vẫn tiếp tục là chỉ số lâu năm nhất trong thị trường Mỹ. DJIA bao gồm cổ phiếu của 30 công ty với sự lớn mạnh đi kèm. DJIA là một chỉ số biểu thị thị trường nổi tiếng nhất thế giới, một phần bởi vì nó đã đủ chín muồi để nhiều thế hệ các nhà đầu tư trở nên quen thuộc để định giá nó, và một phần bởi vì thị trường cổ phiếu Mỹ là thị trường có giá trị nhất trên thế giới.
    Một thực tế
    Các công ty
    Ở đây tập hợp các công ty lớn đại diện của công nghiệp Mỹ. Dow bao gồm các công ty đầy quyền lực như Proctor và Gamble, Home Depot, Coca cola, và Microsoft. Mặc dù nó gồm toàn bộ tất cả những công ty lớn, nó được thiết kế để đại diện cho hầu hết bất kỳ công ty Mỹ nào không nằm trong diện doanh nghiệp vãng lai hay một ích lợi nào. Chỉ những công ty công nghiệp đáng kể với một lịch sử tăng trưởng thành công và lãi suất lớn giữa những nhà đầu tư mới được xem để liệt vào sanh sách.
    Dow được định giá không giống như những chỉ số khác, những công ty có ảnh hưởng nhất là những công ty có giá cổ phiếu cao nhất.
    Chỉ số được đo như thế nào
    Từ ?otrung bình? nằm trong tiêu đề bởi vì những cách tính chỉ số được tính nguyên gốc bằng cách cộng các giá cổ phiếu và chia cho số cổ phiếu. Hệ thống phương pháp chính tương tự như ngày nay, nhưng số chia được thay đổi để bảo tồn sự liên tục dựa trên nghiên cứu về lịch sử. DJIA là một chỉ số nghiêng về giá được tính hàng ngày dựa trên giá của mỗi công ty không một đánh giá nào về cỡ của mỗi công ty.
    Sức mạnh
    Đảm bảo các công ty cung cấp những trạng thái ổn định có ý nghĩa cho DJIA. Mỗi công ty có khả năng nhận thức đầu tư tập thể. Như một chỉ số lâu đời nhất và chỉ số được tác động thường xuyên nhất, khi mọi người hỏi thị trường được hoạt động như thế nào, họ thường sẽ hỏi về DJIA.
    Hạn chế
    Bởi vì nó bị hạn chế đối với những công ty thuộc Mỹ và 30 công ty lúc đó DJIA rất không đa dạng hoá. Vì theo định nghĩa, nó tập trung trên diện rộng đối với những công ty công nghiệp,. Bởi vì nó là chỉ số nghiêng về giá, nó không theo sát hoạt động của công ty ở một mức nào đó mà phản ánh những kết quả một nhà đầu tư có lý trí. Để đủ khả năng thực hiện chỉ số Dow, một nhà đầu tư sẽ phải mua một số cổ phiếu tương đương nhau của mỗi công ty, như một chiến lược sẽ buộc nhà đầu tư để đầu tư nhiều tiền trong các công ty với giá cổ phiếu cao hơn, không phải là một cách thực sự để đầu tư.
    Đầu tư trong DJIA
    DJIA có vài sản phẩm tài chính liên quan đến nó, bao gồm chỉ số các quỹ và chỉ số các quỹ ngoại thương như Dow Diamonds (Amex: DIA). Những công ty của DJIA không thể biến mất ?" chúng là một vài trong số những công ty lớn nhất của Mỹ. Một nhà đầu tư đang tìm kiếm sự ít mạo hiểm, bảo tồn vốn, và nhiều thu nhập từ các cổ phần sẽ là người mua lý tưởng của những sản phẩm được liên kết với Dow.
  7. 0903449999

    0903449999 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/01/2006
    Đã được thích:
    0
    Hay quá nhỉ? Phải dùng cái này mới được.
Trạng thái chủ đề:
Đã khóa

Chia sẻ trang này