Thôn tin kinh tế, thị trường chứng khoán (cập nhật) - Mời các hạ post ở đây!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi stockpro, 03/07/2008.

680 người đang online, trong đó có 272 thành viên. 06:36 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 350 lượt đọc và 7 bài trả lời
  1. stockpro

    stockpro Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    15/08/2006
    Đã được thích:
    32
    Thôn tin kinh tế, thị trường chứng khoán (cập nhật) - Mời các hạ post ở đây!

    Dự báo cung - cầu một số mặt hàng trọng yếu sáu tháng cuối năm

    Tổng hợp từ các ngành sản xuất, Tổ điều hành thị trường trong nước của Chính phủ dự báo tình hình cung - cầu một số mặt hàng trọng yếu sáu tháng cuối năm.

    Theo đó, với mặt hàng gạo, nếu thời tiết sâu bệnh không có biến động bất thường, khả năng sản lượng lương thực cả nước đạt 36,5 - 36,8 triệu tấn thóc, trong đó tiêu dùng trong nước khoảng 28 triệu tấn, lượng thóc hàng hóa dành xuất khẩu từ 8,5 đến 8,8 triệu tấn (tương đương 4,2 - 4,5 triệu tấn gạo). Nguồn cung lương thực đáp ứng đủ tiêu dùng và xuất khẩu, nhưng do chi phí sản xuất đầu vào tăng và tác động giá gạo thế giới nên giá lương thực còn tăng nhẹ; chỉ giảm thời gian ngắn khi thu hoạch rộ.

    Nguồn đường sản xuất trong nước và nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2008 đủ nhu cầu tiêu thụ là 1,35 triệu tấn. Do tiêu dùng đường tăng vào quý III (dịp Trung thu) và quý IV (chuẩn bị Nô-en và Tết Dương lịch, Nguyên đán) nên giá đường tăng, mức tăng không nhiều.

    Tổng nguồn cung muối ăn cả nước khoảng 1,18 triệu tấn (sản xuất 900 nghìn tấn, tồn kho năm 2007 chuyển sang 50 nghìn tấn, nhập khẩu theo hạn ngạch 230 nghìn tấn) nhưng nhu cầu 1,34 triệu tấn. Dự kiến thiếu 150 - 200 nghìn tấn, cần nhập khẩu.

    Về phân hóa học, nhu cầu phân u-rê vụ mùa 2008 (từ tháng 6 đến tháng 9) cần 430 nghìn tấn nhưng nguồn cung có 480 nghìn tấn (tồn kho vụ hè thu chuyển sang 120 nghìn tấn, sản xuất trong nước (tháng 7 đến tháng 9) 240 nghìn tấn, nhập khẩu 120 nghìn tấn. Như vậy đủ nhu cầu vụ mùa và có nguồn chuẩn bị vụ đông xuân 2008-2009. Vụ đông xuân này (từ cuối tháng 9-2008 đến hết tháng 3-2009) cần 870 nghìn tấn. Trong đó từ cuối tháng 9 đến hết năm là 540 nghìn tấn, nguồn cung có 50 nghìn tấn vụ mùa chuyển sang, sản xuất (tháng 10, 11, 12) 240 nghìn tấn, nhập khẩu (tháng 10, 11, 12) 300 nghìn tấn, đủ nhu cầu trong năm và gối đầu năm 2009.

    Trong sáu tháng cuối năm, nhu cầu tiêu thụ xi-măng tiếp tục tăng nhưng nguồn cung đủ đáp ứng nhu cầu. Theo Bộ Xây dựng sẽ đưa bày nhà máy xi-măng vào hoạt động với tổng công suất 7,81 triệu tấn. Thị trường xi-măng và giá xi-măng không có biến động lớn.

    Tổ điều hành thị trường trong nước của Chính phủ đề nghị các nhà sản xuất, nhập khẩu lớn, các nhà phân phối lớn khẳng định thương hiệu và uy tín của mình bằng hành động thiết thực tích cực tham gia bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát.
    Theo Nhân Dân
  2. stockpro

    stockpro Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    15/08/2006
    Đã được thích:
    32
    Tham vấn chuyên gia đại học Harvard về kinh tế

    "Tác động của tình hình kinh tế thế giới đến kinh tế Việt Nam - lựa chọn đối sách và mô hình phát triển'''' là chủ đề của cuộc hội thảo diễn ra tại Hà Nội, ngày 2/7 với sự tham gia của các nhà khoa học đến từ đại học Tổng hợp Havard, các nhà phân tích kinh tế Việt Nam uy tín trong nước và quốc tế.

    Hoạt động này nằm trong khuôn khổ Chương trình Đối thoại Chính sách do Bộ Ngoại giao phối hợp với Chương trình Việt Nam của Trường John Kennedy School of Goverment, Đại học Tổng hợp Harvard và Chương trình Fullbright Economics Teaching Program, thành phố Hò Chí Minh, thực hiện trong 3 năm 2008 - 2010, với sự tham gia và tài trợ của Tập đoàn Dầu khí BP.

    Thừa ủy quyền của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm, phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng bày tỏ sự cảm ơn các chuyên gia của Đại học Tổng hợp Harvard đã tới chia sẻ những nghiên cứu phân tích chiến lược phát triển dài hạn cũng như những vấn đề kinh tế thời sự của Việt Nam hiện nay.

    Thứ trưởng Vũ Dũng nhấn mạnh sau hơn 20 năm đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu kinh tế đáng khích lệ. Tuy nhiên, con đường phát triển vẫn còn nhiều thách thức. Một trong những thách thức quan trọng hiện nay là ổn định kinh tế vĩ mô và tạo đà cho bước phát triển mới trong thời gian tới.

    Thứ trưởng bày tỏ hy vọng, Hội thảo sẽ đưa ra các khuyến nghị hữu ích cho các chính sách ổn định kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian trước mắt cũng như dài hạn.

    Giáo sư Dwight Perkins, Chủ nhiệm Chương trình Việt Nam Đại học Tổng hợp Harvard, cho biết ngay từ năm 1989, Đại học Harvard đã tham gia đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật nghiên cứu sâu về kinh tế Việt Nam. 20 năm qua, kinh tế vĩ mô Việt Nam có những thành tựu và phát triển. Trước khó khăn kinh tế hiện thời, nhóm chuyên gia của Harvard sẽ tập trung phân tích lý do và đưa ra những khuyến nghị khác nhau.

    Hội thảo được tổ chức trong ba ngày, tập trung vào ba vấn đề cấp bách gồm Việt Nam và nền kinh tế quốc dân, Chính sách năng lượng, Phát triển đô thị và cơ sở hạ tầng. Phương pháp cơ bản của các cuộc thảo luận là trên cơ sở xem xét kinh nghiệm quốc tế ở các lĩnh vực đã nêu để hình thành khuôn khổ phân tích trường hợp Việt Nam.

    Theo chương trình dự kiến, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải sẽ chủ tọa một phiên thảo luận, trực tiếp nghe ý kiến và khuyến nghị của các chuyên gia về những vấn đề kinh tế thời sự của Việt Nam, nhất là về cơ sở hạ tầng, năng lượng và phát triển đô thị.
    Theo TTXVN
  3. stockpro

    stockpro Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    15/08/2006
    Đã được thích:
    32
    Mỹ: Ngành báo đứng trước tình trạng báo động khẩn

    Khi bóng đen đang bao phủ kinh tế cả thế giới, lạm phát gia tăng, đặc biệt đồng USD giảm giá mạnh so với các đồng ngoại tệ khác đã khiến các hãng thông tấn điêu đứng. Để đảm bảo lợi nhuận, các tờ báo đồng loạt thông báo cắt giảm nhân công và số lượng phát hành.

    Tờ Los Angeles Times, Chicago Tribune, Newsday và hàng loạt tờ báo khác cho biết lợi nhuận của họ đã giảm khoảng 74%, tương đương 37 triệu USD.

    Los Angeles Times có kế hoạch sẽ cắt giảm khoảng 250 nhân công, trong đó có 150 trong lĩnh vực báo in và báo trực tuyến. Thông tin trên vừa được người phát ngôn của thời báo cho biết ngày hôm nay (03/7).

    Ngày hôm qua (02/7), tờ Journal Sentinel cho hay họ sẽ cắt khoảng 10% nhân lực (khoảng 1.300 nhân viên).

    Tờ tin tức hàng ngày Times Weekday cũng sẽ cắt giảm khoảng 5,1% tổng số báo phát hành. Trong khi đó, tờ Sunday cho biết sẽ giảm 6,1%.

    Chỉ riêng tuần trước, The Hartford Courant và The Baltimore Sun - hai tờ báo lớn của Tribune Co., cũng như The Palm Beach Post và Daytona Beach-Journal - hai tờ báo xuất bản ở Florida, đã thông báo cắt giảm mạnh số nhân viên, trong khi tờ The Detroit News và Detroit Free Press cũng công bố kế hoạch cắt giảm 7% số nhân viên của mình.

    Tờ The Boston Herald đã cho 160 nhân viên của tòa soạn nghỉ việc. Star-Ledger ở Newark (New Jersey) thú nhận rằng họ đang hoạt động trong tình trạng nợ nần. Tuần trước, Tập đoàn McClatchy Co. lớn thứ ba ở Mỹ (trụ sở tại California, nắm nhiều tờ báo, trong đó có The Kansas City Star, The Miami Herald, The State...), cho biết sắp tới sẽ phải giảm khoảng 1.400 nhân viên, tiết kiệm 70 triệu USD cho ngân sách hằng năm.

    Quảng cáo là nguồn thu quan trọng nhất của các báo in. Trong quí 1-2008, theo thống kê của Hiệp hội Báo chí Mỹ, toàn bộ thu nhập từ quảng cáo đã giảm 12,9%, trong đó mục rao vặt trên báo giảm mạnh nhất, tới 24,9% so với cùng kỳ năm ngoái. CNN Money cho biết dự báo doanh thu quảng cáo sẽ tiếp tục sụt giảm trong hai năm tới.
  4. stockpro

    stockpro Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    15/08/2006
    Đã được thích:
    32
    Trái vải chưa tìm được đúng thị trường đầu ra

    Vải được mùa nhưng người dân chỉ mong bán được 2000 đồng/kg.

    Năm nay, vải được mùa tuy nhiên ở Bắc Giang, người trồng vải chỉ mong bán được 2.00đ/kg. Với giá đó, một nhà có 200 gốc vải chỉ thu về được 6 triệu đồng, đủ trang trải tiền thuốc sâu, phân bón, thuê người thu hái? Nhiều gia đình bán không nổi giá đó thì còn lỗ nặng.

    Thực sự, vấn đề cây vải đang làm đau đầu nhiều nhà quản lý. Trước đây, vải được coi là cây xóa đói giảm nghèo. Lúc đó, diện tích trồng vải mới chỉ vài chục ha với vài trăm gốc vải trong mùa thu hoạch giá cao ngất ngưởng, bán tại gốc cũng 5- 6.00đ/kg.

    Mỗi gia đình vài chục gốc vải là thu nhập đủ vượt qua mức nghèo đói. Nhưng khi cây vải đã phát triển nhanh, mạnh thì cùng với sự tăng vọt về diện tích trồng, về sản lượng, mỗi mùa thu hoạch, giá vải lại rớt dần. Từ 5.000- 6.00đ/kg, giá vải rớt xuống 4.000đ, 3.000đ rồi 2.000đ/kg.

    Đặc tính của trái vải là hái khỏi cành chỉ sau 1 đêm là héo dần, khó bán. Vải cũng chỉ mới tiêu thụ nội địa là chính, có xuất cũng chỉ xuất sang Trung Quốc. Nay Trung Quốc cũng trồng vải nên lượng tiêu thụ sang thị trường này khó và thường bị thương nhân nước này ép giá.

    Việc chế biến chưa phát triển tương xứng nên nước vải sau chế biến bị chua nhiều, còn lại là sấy khô với giá trị không cao.

    Tình trạng của trái vải là điển hình cho bài học về cung cầu hàng hóa: Khi cung thấp hơn cầu thì giá cao, lợi nhuận lớn. Điều này kích thích người dân đổ xô đi trồng vải cho nên đến lúc cung lớn hơn cầu, giá bắt đầu rẻ và đến khi thấp dưới giá thành, dân sẽ bỏ trồng cây khác, hiệu quả hơn.
    Cây vải, tới nay, cung đã vượt cầu, đặc biệt mùa vải chỉ chừng 2 tháng. Bài toán lúc này là làm sao tìm được thị trường cho trái vải.
  5. stockpro

    stockpro Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    15/08/2006
    Đã được thích:
    32
    Tiếp tục ổn định giá các mặt hàng thiết yếu đến cuối năm

    Lãnh đạo các Bộ, ngành cho biết, Chính phủ tiếp tục thực hiện không tăng giá với nhiều mặt hàng từ nay đến cuối năm. Cùng đó, nhiều biện pháp sẽ được áp dụng để đảm bảo cung cầu, không biến động giá của những mặt hàng quan trọng.


    Nguồn xăng dầu không thiếu

    Tại buổi họp báo sau phiên họp thường kì của Chính phủ, chiều 2/7, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết, Chính phủ chỉ đạo tiếp tục giữ ổn định giá cả các mặt hàng thiết yếu.

    Trong đó, nước sạch, điện, vận tải công cộng sẽ không tăng giá từ nay đến cuối năm. Các mặt hàng khác được điều chỉnh giá sẽ thực hiện điều chỉnh ở mức hợp lí.

    Riêng với mặt hàng xăng dầu, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công Thương trình Chính phủ trình Chính phủ lộ trình điều chỉnh giá bán theo mục tiêu bảo đảm chống lạm phát, phù hợp với khả năng bù lỗ, đồng thời thực hiện hỗ trợ các đối tượng chính sách.

    Cũng theo ông Hà, các công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối trong những tháng qua vẫn lỗ và hiện đã được tạm ứng 95% số lỗ này. Đến thời điểm hiện tại, Chính phủ đã bù lỗ 11.000 tỉ đồng cho các doanh nghiệp kinh doanh của lĩnh vực xăng dầu.

    Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên bổ sung thêm, cho dù giá xăng dầu tăng cao, Chính phủ vẫn chỉ đạo nhập khẩu đủ đảm bảo nhu cầu sản xuất trong nước và nhu cầu sử dụng của người dân.

    Ông Biên đưa ra con số, 6 tháng đầu năm nay đã nhập tăng hơn so với 2007 gần 300.000 tấn xăng dầu. Ông Biên khẳng định, từ nay đến cuối năm ?onguồn xăng dầu không thiếu và nguồn ngoại tệ phục vụ nhập khẩu mặt hàng này cũng không thiếu?.

    Thứ trưởng Bộ Công Thương cũng giải thích những băn khoăn xung quanh việc nhập, xuất khẩu một số mặt hàng khác. Về xuất, nhập khẩu than, ông Biên cho biết, năm 2008, nước ta xuất khẩu khoảng 20 - 22 triệu tấn than, giảm hơn khá nhiều so với năm 2007 (32 triệu tấn). Với việc nhập khẩu than, ông Biên cho rằng, nhằm phục vụ luyện thép, không phải cho tiêu dùng.

    Ông Biên cũng cho biết, 6 tháng đầu năm, các doanh nghiệp đã nhập khẩu phôi thép về nhiều gấp đôi năm ngoái, với giá 750 - 800 USD/tấn. Tuy nhiên, phôi thép nhập về không bán được, vẫn nằm ở cảng, trong khi giá mặt hàng này đã tăng gần 200 USD/tấn nên các doanh nghiệp đã xuất ra bên ngoài.

    Trước tình hình thép tăng giá, Bộ Công thương sẽ có biện pháp hạn chế xuất khẩu phôi thép nhằm bình ổn thị trường trong nước.

    Riêng muối, do thời tiết bất lợi, chi phí đầu vào tăng nên giá muối bị đẩy lên hơn so với năm 2007. Chính phủ đã cho xuất 30.000 tấn từ trong kho dự trữ cung cấp cho thị trường.

    Tuy nhiên, theo tính toán, năm nay nhu cầu trong nước khoảng 1,3 triệu tấn, trong khi lượng muối thu hoạch được cộng với lượng muối trong kho chỉ đạt khoảng 1 triệu tấn. Chính vì vậy, 6 tháng cuối năm sẽ phải nhập khẩu thêm khoảng 100 - 150.000 tấn.

    Liên quan đến kiểm soát giá cả, đại diện Bộ Tài chính thông báo, trong sáu tháng qua, các cơ quan thuế và hải quan khi kiểm tra chống buôn lậu và gian lận thương mại đã xử lý 6.012 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách nhà nước trên 221 tỷ đồng.

    Về tỉ giá hối đoái, Phó Thống đốc Ngân hàng nhà nước, Nguyễn Đồng Tiến nhìn nhận, sau một tuần ngân hàng thực hiện điều chỉnh biên độ, tỉ giá hối tại thị trường tự do đã giảm dần.

    Ngân hàng cũng đã có những kiểm tra, kiểm soát hoạt động mua bán ngoại tệ, không để vượt quá biên độ cho phép.

    Đình hoãn, giãn tiến độ được 1736 dự án

    Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho biết, Chính phủ đánh giá, chỉ số giá tiêu dùng, nhập siêu trong 3 tháng gần đây đã có những chuyển biến tích cực.

    Thị trường chứng khoán có những dấu hiệu tốt hơn, hệ thống ngân hàng ổn định hơn và không có khả năng đổ vỡ.

    Tuy nhiên, theo ông Phúc, chỉ số giá tiêu dùng khả quan (tháng 6 là 2,14%, thấp nhất trong 6 tháng) nhưng chưa vững chắc, tình hình còn diễn biến khó lường.

    Tăng trưởng GDP đạt 6,5% là khá thấp so với những năm gần đây, nhưng vẫn cao hơn các nước trong khu vực. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất kinh doanh để duy trì tăng trưởng. Phấn đấu với tinh thần cao nhất để giải quyết vốn cho các doanh nghiệp, nhất là vốn lưu động.

    Thủ tướng cũng chỉ đạo các Bộ ngành tích cực, chủ động hơn nữa trong việc tháo gỡ khó khăn. Đặc biệt, các Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động của các tập đoàn, Tổng công ty thuộc bộ mình quản lí.

    Về việc thực hiện các giải pháp kiếm chế lạm phát, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết, tính đến ngày 23/6, theo báo cáo của 68/71 bộ, ngành TƯ và 60/64 địa phương, tổng số tiền tiết kiệm được từ việc cắt giảm chi thường xuyên là 2.558 tỷ đồng.

    Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Đức Hòa bổ sung: "Tính đến 26/06, tổng số dự án phải đình hoãn, giãn tiến độ là 1.736, tiết kiệm được 5.625 tỷ đồng, giảm 8% so với kế hoạch ban đầu?.
  6. stockpro

    stockpro Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    15/08/2006
    Đã được thích:
    32
    Niềm tin đang trở lại

    Giá trị giao dịch tăng vọt, lệnh mua áp đảo lệnh bán, liên tục những phiên tăng điểm..., các biểu hiện này cho thấy niềm tin đang trở lại với nhà đầu tư.

    Cầu áp đảo cung

    Thị trường nửa tháng trở lại đây đã chứng kiến một sự thay đổi lạc quan về cơ cấu giao dịch. Nếu trước đó, thị trường rơi vào tình trạng mất thanh khoản do hoặc chỉ có người mua, hoặc chỉ có người bán, thì hiện nay, thị trường đã có cả cung và cầu. Ở nhiều phiên giao dịch, cầu đã áp đảo cung. Theo thống kê của Công ty cổ phần chứng khoán Vincom (VincomSC), khối lượng đặt mua bình quân hiện nay trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) đạt hơn 20 triệu đơn vị/phiên, gấp 6,3 lần so với tháng 5. Tương tự trên sàn Hà Nội (HASTC), khối lượng này là hơn 7,3 triệu đơn vị/phiên, gấp trên 3 lần so với bình quân của tháng 5.

    Nguồn cầu tăng đột biến cho thấy tính hấp dẫn của thị trường đang dần được khôi phục. Các cổ phiếu vốn hóa lớn nhất, ảnh hưởng nhiều nhất đến các chỉ số VN-Index và HASTC - Index đã chính thức bị hãm phanh giải chấp. Điều này thể hiện rất rõ trong quy mô lệnh bán trong 2 ngày phân phối lớn nổi bật trong thời điểm vừa qua. Cụ thể, trước ngày 18.6, các tổ chức dường như là những người tham gia bán chính với quy mô lệnh bán luôn lớn hơn 4.000 đơn vị/lệnh. Nhưng sau ngày này, cơ cấu bán đã thay đổi, các cá nhân mới là những người bán chính trên thị trường (khối lượng xoay quanh 2.000 đơn vị/lệnh). Qua đến ngày phân phối thứ 2, ngày 26.6, quy mô lệnh bán vẫn duy trì ở mức thấp đối với các cổ phiếu vốn hóa lớn nhất trên sàn HOSE (gần 2.000 đơn vị/lệnh). Tổng khối lượng đặt bán cũng chỉ đạt hơn 9,6 triệu đơn vị, gần bằng một nửa so với ngày 18.6, trong khi tổng khối lượng đặt mua lên đến 18 triệu đơn vị (cao hơn 18,6%). Nếu tính chung cả sàn HOSE thì khối lượng đặt mua trong ngày 26.6 tăng 13,4%, trong khi khối lượng đặt bán giảm 46,5%.

    Kịch bản nào sắp tới?

    Tình hình kinh tế trong nước tháng 5 rất căng thẳng với mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cao nhất trong nhiều năm qua - tăng 3,91% so với tháng 4.2008, nhập siêu 5 tháng đầu năm 2008 lên đến 14,4 tỉ USD - cao hơn cả năm 2007. Các tổ chức nước ngoài liên tiếp đưa ra các báo cáo nhận định không lạc quan về nền kinh tế Việt Nam. Đó là thời điểm niềm tin của các nhà đầu tư bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trên sàn giao dịch chứng khoán, do gặp khó khăn về thanh khoản, các ngân hàng đẩy mạnh bán ra các chứng khoán giải chấp sau một thời gian tạm ngừng theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước, dẫn tới nguồn cung lớn áp đảo sức mua khiến giá chứng khoán giảm mạnh.

    Thế nhưng ở thời điểm hiện nay, cục diện đã có những thay đổi lạc quan. Ngân hàng Nhà nước đã công bố lượng dự trữ ngoại hối của VN là 20,7 tỉ USD, thặng dư cán cân thanh toán tích lũy 1 tỉ USD và Chính phủ hoàn toàn không có ý định phá giá VNĐ. Niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài gia tăng thể hiện ở nguồn vốn FDI cam kết 6 tháng đầu năm đã lên đến 31,6 tỉ USD. Ở trong nước, chỉ số CPI tháng 6 chỉ còn tăng 2,14% so với tháng 5.2008 - mức thấp nhất từ đầu năm đến nay... Những yếu tố này đang có ảnh hưởng tích cực lên thị trường chứng khoán cũng như tâm lý nhà đầu tư.

    Tuy nhiên, kinh tế vĩ mô vẫn phải đối mặt với nhiều vấn đề cần giải quyết. Mức tăng CPI tháng 6 xuống thấp có nguyên nhân chính là do sự xuống giá của lương thực - thực phẩm sau sự kiện sốt gạo do đầu cơ hồi tháng 5. Qua tháng 7, với nhiều yếu tố đầu vào tăng mạnh trên thế giới, mức tăng CPI 6 tháng cuối năm không dễ giảm mạnh. Tình hình nhập siêu 6 tháng đầu năm (16,9 tỉ USD) - cao nhất trong nhiều năm, cũng có thể sẽ gây ảnh hưởng lên cán cân thanh toán cuối năm nhiều hơn mong đợi nếu nguồn vốn FDI cam kết đầu tư không kịp giải ngân. Những yếu tố này có khả năng ảnh hưởng nhiều đến quyết định đầu tư của các tổ chức, vốn là những người dẫn dắt thị trường. Thị trường chứng khoán sắp tới sẽ đi theo kịch bản nào?

    VincomSC đã đặt ra 3 tình huống cho VN - Index như sau: Kịch bản thứ nhất, niềm tin của thị trường ngày càng được củng cố. Các nhà đầu tư phản ứng mạnh mẽ với cơ hội được sở hữu những cổ phiếu giá rẻ và giá chứng khoán trên cả hai sàn tăng mạnh. Khả năng thứ hai, hết áp lực của nguồn cung lớn, thị trường được dẫn dắt bởi các nhà đầu tư cá nhân tham gia chủ yếu với mục tiêu "lướt sóng", thu lời trong ngắn hạn. Thị trường lúc này sẽ đan xen những ngày giảm giá và tăng giá. Kịch bản cuối cùng và cũng là xấu nhất: một số ngân hàng thương mại cần thực sự đảm bảo thanh khoản sẽ bán ra khối lượng lớn chứng khoán cần giải chấp, các tổ chức chưa thực sự muốn tham gia thị trường, cầu yếu và chứng khoán tiếp tục giảm.

    Trước nhiều kịch bản được đưa ra, các nhà đầu tư cần phải sáng suốt theo dõi các dấu hiệu, nhận định diễn biến thị trường để có quyết định đầu tư chính xác.
    Theo Thanh Niên Online
  7. stockpro

    stockpro Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    15/08/2006
    Đã được thích:
    32
    Iraq: "Nỗi khổ" xài không hết tiền

    Quốc gia vùng Vịnh Iraq đang "nhức đầu" với chuyện phải làm sao để chi tiêu hết ngân sách lớn mà họ có được từ việc giá dầu tăng cao như hiện nay.
    Giá dầu thô tăng lên mức kỷ lục 143,67 USD/thùng vào ngày 30.6, trong khi ngân sách của Iraq năm 2008 dựa trên giá dầu có 57 USD/thùng. Như vậy, hầu bao của Bộ Tài chính nước này thặng dư khoản tiền gần gấp đôi. Giá dầu tăng cao, đặc biệt là từ khi vượt "ngưỡng" 100 USD/thùng thì tùy theo sản lượng khai thác, hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ và thậm chí hàng ngàn tỉ USD chảy vào kho bạc của những nước sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ chính, nhất là các quốc gia vùng Vịnh. Thậm chí, ở những nước như Iraq chẳng hạn, chính phủ phải "nghĩ" cách làm sao tiêu cho hết tiền. Tại sao vậy? Đơn giản là vì những quy định lỗi thời tại Iraq đang làm chậm trễ việc chi tiêu ngân sách.

    Bộ trưởng tài chính "than" nhức đầu

    Ở một đất nước nằm trên mỏ vàng đen nhưng lại bị chiến tranh tàn phá, hạ tầng cơ sở thiếu thốn nên các chuyên viên thiết lập và chi tiêu ngân sách phải viết tay các bản liệt kê chi tiêu và cả các biên nhận. Chính Bộ trưởng Tài chính Iraq Bayan Jabr thừa nhận đây là "vấn đề rất nhức đầu", vì ông cũng phải thức khuya dậy sớm để xét duyệt và bút phê chấp thuận cho việc mua sắm, ngay cả những thứ bình thường như máy tính. "Tập quán" chi tiêu như thế bắt đầu từ thời Tổng thống Saddam Hussein trước đây với chính sách trung ương tập quyền. Nhiều chuyên gia kể lại rằng, việc đưa ra quyết định chi tiêu dưới chính thể Hussein rất đơn giản. Chỉ tổng thống hoặc những nhân vật thân cận mới có quyền quyết định, không một ai có thể đề xuất chi tiêu hay phản bác.

    Trữ lượng dầu thô của Iraq ước khoảng 115 tỉ thùng. Như vậy, nước này nằm trên mỏ vàng đen trị giá hơn 15.000 tỉ USD. Theo kế hoạch, trong 5 năm tới, Iraq sẽ tăng sản lượng khai thác lên 4,5 triệu thùng/ngày và xuất khẩu 4 triệu thùng/ngày, mang về cho kho bạc của chính phủ hơn 500 triệu USD/ngày nếu tính theo giá hiện tại.

    Sau khi tấn công và chiếm đóng Baghdad, giới chức Mỹ kiểm soát và quyết định việc chi tiêu trong một thời gian ngắn ở Iraq, sau đó giao lại cho chính quyền Baghdad. Chỉ từ năm 2004 đến nay, đã có 3 nhân vật đảm nhiệm chức Bộ trưởng Tài chính mà Iraq vẫn lặn ngụp trong việc chi tiêu ngân sách với nạn tham nhũng ngày một tăng. Để chặn đứng tham nhũng, tân chính quyền đưa ra nhiều quy định mới, trong đó có việc tạo ra nhiều khó khăn cho việc sử dụng các chứng từ tài chính, kể cả chi phiếu bằng cách đòi hỏi thủ tục qua nhiều chữ ký và đóng dấu của các quan chức cao cấp. Thủ tục hành chính như thế đã làm trễ nải thêm công việc tại xứ sở mà điện sinh hoạt chỉ có được 2 giờ mỗi ngày ở tất cả các tỉnh và nhiều khu vực tại thủ đô Baghdad. Iraq không có máy rút tiền tự động (ATM) và cũng không có hệ thống chuyển tiền điện tử mà phải sử dụng xe tải để chở tiền. Có khi, một khoản chi tiêu đã được xét duyệt, nhưng để có được tiền mặt thì phải mất nhiều tháng trời và nơi nhận tiền còn hồi hộp chờ đợi hơn khi mạng lưới giao thông đường bộ kém an toàn với các vụ bạo loạn, đánh bom tự sát thường xuyên xảy ra.

    Iraq thặng dư bao nhiêu?

    Theo thống kê, năm 2006 ngân sách của chính quyền trung ương Iraq là 6 tỉ USD, nhưng chính phủ chỉ xài có 22% khoản tiền đó - hầu hết đều đổ vào việc tái thiết hạ tầng cơ sở, trong khi ngành công nghiệp khai thác dầu sử dụng chưa tới 3% khoản tiền dành cho tái thiết trong lĩnh vực đó. Qua năm 2007, chính phủ đã "cố" hết sức thì cũng chi tiêu khoảng 50% ngân sách đã tăng lên là 10 tỉ USD. Trong khi đó, hầu bao của quốc gia này tăng nhanh chóng do giá dầu thô tăng cao. Trong vòng 3 năm, dự trữ ngoại tệ của Iraq tăng gấp 3 lần và vượt con số 22 tỉ USD; chưa kể nước này còn có hơn 8 tỉ USD tại các trương mục ngân hàng ở New York (Mỹ).

    Vấn đề đặt ra hiện nay là chính quyền Iraq cần phải học cách chi tiêu ngân sách cũng như có chính sách thu hút nhân tài vốn đã bỏ ra nước ngoài từ khi chiến tranh vùng Vịnh nổ ra năm 1991. Chính phủ trung ương cũng đã tản quyền bớt cho các địa phương và trong 6 tháng cuối năm 2008 này, cùng lúc với tình hình bạo động có chiều hướng ngày một lắng dịu hơn, chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng và tái định cư cho khoảng 2 triệu dân chạy loạn trong mấy năm qua.

    Một điều khá nghịch lý là trong khi Iraq dư tiền của đến vậy thì Chính phủ Mỹ lại phải chi tiêu cho chiến phí rất lớn. Ngày 30.6 qua, Tổng thống Mỹ George W.Bush đã ký ban hành khoản ngân sách chiến tranh lên đến 162 tỉ USD để tài trợ cho chiến trường Iraq và Afghanistan. Như vậy, tổng cộng ngân sách chi riêng cho chiến cuộc ở Iraq đã được Quốc hội Mỹ chuẩn chi kể từ năm 2003 đến nay là 650 tỉ USD. Các chính khách ở Washington đang chỉ trích Chính phủ Mỹ về việc chi tiêu tiền thuế của dân chúng quá nhiều vào một đất nước giàu có như thế. Tại sao không lấy tiền của họ ra để chi cho quân phí của Mỹ và các đồng minh? Có lẽ vì thế nên mới đây, Bộ trưởng Dầu mỏ Iraq đã có ?ođộng tác? mời gọi các công ty dầu quốc tế, trong đó đa số là các "đại gia" của Mỹ và Anh, đến tham vấn về các hợp đồng khai thác dầu mỏ ở nước này.

    ( Theo Thanh Niên)
  8. cucac_optic

    cucac_optic Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    28/10/2006
    Đã được thích:
    0
    Việt Nam: nguy hiểm mới từ FDI
    VIT- Một nhà nghiên cứu của Viện Quan hệ Quốc tế hiện đại Trung Quốc đã đưa ra những bằng chứng rằng Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu cho thấy sự nguy hiểm xuất phát từ vốn đầu tư nước ngoài (FDI).


    Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, bất động sản và tiền tệ gần đây bị gây ra bởi sự căng thẳng giữa các nhà đầu tư Châu Á, những người vẫn còn nguyên những ký ức tươi mới về khủng hoảng tài chính năm 97-98.

    Mặc dù Hà Nội đã phát triển rất nhanh chóng và cứ cho là trung tâm trao đổi ngoại tệ của nó đông đúc như 3 ngày Tết, thế nhưng nó vẫn chưa làm dịu nỗi lo sợ của thị trường thực sự đang lan rộng ra các nước lân cận. Và rõ ràng rằng, các phương pháp Việt Nam đưa ra để kiểm soát lạm phát đã không thể làm việc có hiệu quả từ khi nó phớt lờ đi độ lệch trong cấu trúc kinh tế của mình.

    Ngày 2/7/1997, sự sụt giá của đồng Bạt Thái đã gây ra một cơn khủng hoảng tài chính khu vực làm ảnh hưởng đến hầu hết thị trường Đông Nam Á và gây ra những thiệt hại kinh tế nghiêm trọng đối với các nước trong khu vực này. Từ đó đến nay, thị trường tài chính Đông Nam Á đã trở nên rất nhạy cảm và lo ngại khủng hoảng có thể trở lại.

    Để gợi lại khủng hoảng, hẳn là phải có một cuộc khủng hoảng tín dụng và kinh tế vĩ mô do tiền tệ sụt giá chứ không chỉ là một cơn khủng hoảng tiền tệ đơn giản. Bản thân khủng hoảng là một sản phẩm của cấu trúc kinh tế mỏng manh dễ vỡ của Đông Nam Á do cấu trúc đầu tư nước ngoài chênh lệch cả trong hệ thống đầu tư và xuất khẩu, tài chính và tín dụng ngân hàng.

    Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các nhà đầu tư nước ngoài và vấn đề xuất khẩu là những động lực chính dẫn đến sự bùng nổ kinh tế của khối Đông Nam Á và có thể được coi như điểm then chốt của "Phép màu Đông Á".

    Đông Nam Á, như một nền kinh tế mới tăng trưởng, đã không thu hút những nhân tố sản xuất như kỹ thuật công nghệ và cách quản lý và kết hợp chúng với những yếu tố sở tại, hậu quả là, nó đã không nắm được cơ hội mà vốn đầu tư nước ngoài đã đem đến để định dạng trụ cột chính cho ngành công nghiệp và động lực sản xuất của nó cũng như là vấn đề tăng trưởng kinh tế ổn định. Mỗi lúc nền kinh tế của khu vực này có một bước nhảy vọt lớn thì lại lù lù xuất hiện ngay một cơn suy thoái khó lường.

    Khủng hoảng năm 1997-98 là hình ảnh thu nhỏ của sự mỏng manh dễ vỡ đến như vậy của cấu trúc kinh tế khu vực này. Vốn nước ngoài dẫn tới tăng trưởng đầu tư và xuất khẩu đã mang đến cho khu vực này thặng dư kinh tế và dự trữ ngoại hối rất lớn, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, ngay khi Đông Nam Á không thể xác định được cấu trúc công nghiệp của riêng nó, thì sự điên cuồng của tiêu dùng địa phương đã lát đường cho vốn đầu tư nước ngoài thâm nhập vào hệ thống tài chính và bất động sản.

    Vì vậy, nền kinh tế khu vực bắt đầu xuất hiện bong bong và chính phủ các nước đã bị ép phải tăng lãi suất và nâng giá trị của tiền tệ, điều này chắc chắn thu hút nhiều hơn quỹ tín dụng từ các ngân hàng phương tây. Do đó cấu trúc tài sản của các ngân hàng địa phương đã có xu hướng trở thành 100% vốn đầu tư nước ngoài.

    Khi thiết lập kinh tế vĩ mô tốt, thì dòng tiền nước ngoài sẽ đổ vào một cách thích hợp và giúp kinh tế địa phương tiến lên phía trước. Nhưng chỉ một lần phải điều chỉnh, thì vốn nước ngoài sẽ nhanh chóng bị rút ra gây nên sự thiếu hụt đột ngột tính thanh khoản của thị trường. Và sự sụp đổ trong tất cả các thị trường như chứng khoán, bất động sản, và tiền tệ sẽ trầm trọng thêm và đẩy suy thoái vào cuộc khủng hoảng tài chính do vốn đầu tư nước ngoài.

    Hiển nhiên, vốn nước ngoài, hiệu suất và các chính sách của nền kinh tế vĩ mô địa phương liên quan lẫn nhau gây ảnh hưởng dọc theo cả tiến trình này. Một mặt, vốn nước ngoài tạo ra động lực chính để điều khiển nền kinh tế, mặt khác, nó tăng thêm "lượng gia" vì nó phụ thuộc quá nhiều vào hiệu suất và các chính sách điều chỉnh.

    Tuy nhiên, đó là khoản gia tăng bị chính phủ địa phương phớt lờ đi. Ví dụ như, các quốc gia Đông Nam Á liên tục tăng lãi suất của họ, thay vì vận dụng đến cách cắt giảm tài chính để kiềm chế thị trường quá nóng. Nhưng hậu quả đang ở ngay trước mắt bởi vì mọi sự cắt giảm lãi suất sẽ nâng giá tiền tệ địa phương và hấp dẫn nhiều tiền hơn từ các nhà đầu cơ tích trữ.

    Không thể xem nhẹ việc này vì trước đó đã từng nổ ra khủng hoảng 1997-98, mức thâm hụt thương mại khu vực đã xuất hiện do giảm tính cạnh tranh khi tiền tệ tăng giá. Trong khi đó, tiên dùng và bất động sản vẫn duy trì ở mức ?onóng? gây ra sự mất thăng bằng nghiêm trọng đối với cấu trúc tăng trưởng kinh tế và nguy cơ cao đối với các nền kinh tế vĩ mô. Thực tế là, sau đó Thái Lan đã lựa chọn tự do hóa hối đoái đầu tiên trong khu vực, điều đó đưa ra một khoảng thời gian tốt nhất cho các quỹ đầu tư để "hành động nhanh".
    Không thể phủ nhận rằng, cũng có vấn đề về vốn nước ngoài và cấu trúc kinh tế nguy cơ cao giống y như vậy đang tồn tại trong nền hình tế Việt Nam ngay lúc này. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng vẫn chưa phát triển đủ để hấp dẫn các quỹ tín dụng và tiền nước ngoài hiện vẫn thường xuyên tập trung ở thị trường chứng khoán và bất động sản. Kể từ năm 1997 đặc biệt khi khối ASEAN thiết lập hiệp định trao đổi tiền tệ song phương với Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc, thì việc tấn công đồng nội tệ Việt Nam không còn dễ dàng nữa. Vì vậy, thậm chí nếu thị trường Việt Nam có sụp đổ trong thời gian ngắn, nó sẽ không gây ra một cơn khủng hoảng tiền tệ sụt giá kinh khủng như năm 1997.

    Thế nhưng, vẫn có lo ngại rằng nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang có độ lệch nghiêm trọng trong cấu trúc tiêu dùng công nghiệp. Nó có thể gây ra những nguy cơ mới thông qua sự hỗn loạn thị trường.

    Khía cạnh đầu tiên là vấn đề thâm hụt thương mại. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu dầu mỏ và quặng sắt, trong khi tiêu dùng nội địa của nó tập trung vào các sản phẩm từ dầu mỏ, sắt, thép, và hàng hóa tiêu dùng. Mặc dù giá gạo tăng làm tăng thu nhập xuất khẩu, nhưng vẫn có những khó khăn để đảo ngược mức thâm hụt của nó từ khi hàng hóa tiêu dùng tăng giá kinh khủng. Mức thâm hụt thương mại này đối lập rõ nét với dòng vốn khổng lồ, và một khi dòng vốn này thoái lui hoặc thay đổi ở đâu đó, thì khủng hoảng kinh tế là không thể tránh được vì thiếu vốn.

    Thứ hai là, khuynh hướng tư bản hóa của tiêu dùng làm kiệt quệ đầu tư nước ngoài một cách vô ích và nhanh chóng mở rộng nguy cơ khủng hoảng nợ nước ngoài. Trong những năm gần đây, tiêu dùng Việt Nam đã tăng rất nhanh không chỉ ở thị trường bất động sản hay vàng mà còn ở thị trường ô tô cao cấp như là để tích lũy tài sản.

    Ví dụ, xe máy cao cấp của Honda và Yamaha đã trở thành tài sản của người Việt Nam sau khi nước ta bãi bỏ lệnh cấm ?omỗi người một xe? ở 7 thành phố lớn, và được ước tính quy mô thị trường của nó sẽ tăng gấp 3 lần so với thị trường Nhật Bản cho đến cuối năm nay.
    Năm 2003, Việt Nam đã ký với Nhật Bản hiệp ước Khởi đầu chung Nhật ?" Việt để làm mạnh thêm sự đầu tư của Nhật Bản đối với nước này. Và tháng 12/2005, hai bên đã thống nhất những quy định riêng trên 7 lĩnh vực chính như đầu tư, lao động, công nghiệp và thuế? Vốn nước ngoài của Việt Nam đã tăng lên và trở nên lệch về phía Nhật Bản, thế nhưng nó khó có thể tránh khỏi nguy cơ của các chính sách lệch vốn nước ngoài một khi Nhật Bản thay đổi chiến lược đầu tư

    http://vitinfo.com.vn/Muctin/Kinhte//46537/default.aspx

Chia sẻ trang này