tiểu luận lạm phát,tài chính,vĩ mô ,bản chất công ty nhà nước

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by mrlinh89, Jul 21, 2008.

1056 người đang online, trong đó có 422 thành viên. 15:45 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. mrlinh89

    mrlinh89 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 24, 2008
    Likes Received:
    1
  2. mrlinh89

    mrlinh89 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 24, 2008
    Likes Received:
    1
    II.THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ NHỮNG YẾU KÉM TRONG CÔNG TÁC ĐIỀU HÀNH QUẢN LÝ CỦA CHÍNH PHỦ
    1.thực trạng lạm phát ở Việt Nam
    . Vấn đề lạm phát của nền kinh tế nước ta đã được nhắc đến nhiều từ giữa năm 2007. Có thể thấy, liên tục từ 1998 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP năm sau đều cao hơn năm trước và năm 2007 đạt mức cao nhất trong vòng 10 năm. Tuy nhiên, cũng đã có sự cảnh báo về sự tăng trưởng nóng, về sự bền vững của tăng trưởng.
    Trước tình hình và diễn biến của nền kinh tế - xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên số hàng đầu.
    Giá cả leo thang làm cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp điêu đứng. Không chỉ giá lương thực thực phẩm leo lên vùn vụt, mà giá than, giá vật liệu xây dựng và giá một số dịch vụ cũng tăng lên. Hiện tượng mức giá chung tăng đều đặn được gọi là lạm phát. Người ta dùng nhiều chỉ số để đo lạm phát và chỉ số quen thuộc nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
    Chỉ số này được tính trên cơ sở theo dõi biến động giá theo thời gian của các mặt hàng nhất định (từ 2005 rổ hàng hoá này gồm gần 500 hàng hoá và dịch vụ). Chỉ số CPI đã liên tục tăng suốt 4 năm qua: Bắt đầu là 9,5% năm 2004,8,4 % năm 2005, 6,6% năm 2006,12,6% năm 2007 và trong 4 tháng đầu năm 2008 đã tăng 11%.đây là chỉ số CPI từ 2000 đến quí 1 2008 theo tổng cục thống kê
    Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Quý1 2008
    CPI -0.6 .8 4 3 9.5 8.4 6.6 12.6 11
    Qua lạm phát lần này em có một số nhận xét về thực trạng nền kinh tế như sau :
    Điều thứ nhất, sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn quá yếu. Bằng chứng, cùng chịu chung áp lực biến động giá trên thị trường thế giới, nhưng 2 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng ở các nước trong khu vực tăng không đáng kể: Thái Lan ?" 1,7%, Malaysia ?" 2,2%, Indonesia ?" 1,8%, Trung Quốc ?" 2,9%, trong khi con số này ở ta là ?" 6,19%.1 Có nghĩa khả năng cạnh tranh của ta kém xa các nước láng giềng. Cụ thể là ở đâu? Dễ nhận thấy nhất là ở hiệu quả sản xuất. Trong khi những yếu tố lợi thế như lao động rẻ hay giá năng lượng thấp vẫn chưa được khai thác triệt để thì các chi phí khác lại quá cao. Nhiều chi phí cao đến mức phi lý như: chi phí thuê đất, chi phí vận tải, đặc biệt là các chi phí ?obôi trơn?; công nghệ sản xuất thì lạc hậu (đi sau so các nước trong khu vực khoảng chừng 20-30 năm); cơ sở hạ tầng còn yếu, nền công nghiệp lệ thuộc gần như hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu... cộng thêm với năng lực quản lý còn yếu, quan liêu, tham nhũng (đặc biệt ở các DNNN). Tất cả đã đẩy giá thành các sản phẩm trong nước lên tới mức trần, có nghĩa là không còn khoảng trống an toàn để dự phòng về giá. Chính vì vậy, khi một yếu tố sản xuất nào đó thay đổi, ngay lập tức tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Sản xuất với tình trạng lúc nào cũng căng dây cót về giá như thế thử hỏi làm gì còn sức để tăng cường năng lực cạnh tranh.
    Điều thứ hai, nền kinh tế Việt Nam không năng động như ta nghĩ. Chỉ nhìn vào phản ứng của các chủ thể kinh tế cơ bản sẽ thấy ngay. Ngân hàng Nhà nước, cơ quan chịu trách nhiệm chính trong kiểm soát lạm phát, trước lượng tiền đầu tư nước ngoài tăng hơn dự kiến (7 tỷ USD trong 6 tháng) đã tỏ ra bối rối. Khi một quốc gia được các nhà đầu tư ?oưu ái? bơm tiền - đó là cơ hội lớn. Nhiệm vụ của chúng ta là làm thế nào để hấp thụ lượng tiền này, biến nó thành sản phẩm, thành giá trị gia tăng thúc đẩy kinh tế phát triển, chứ ra sức mua vào để cất thì còn nói làm gì (?). Các doanh nghiệp cũng vậy, trước áp lực lạm phát, vẫn giữ một chiêu duy nhất ?" tăng giá bán, khá hơn một chút là thực hành tiết kiệm. Ít ai nghĩ đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua tái cấu trúc tổ chức, đầu tư đổi mới công nghệ hoặc ít ra cải tổ qui trình quản lý. Đã vào chợ WTO rồi mà vẫn nặng nề tư tưởng ?" tát nước theo mưa ?" giá đầu vào tăng 1, lập tức đội giá đầu ra lên 1,5. Tội vạ đâu đã có khách hàng chịu. Làm ăn như thế thử hỏi làm sao có thể trụ vững ngay trên sân nhà chứ đừng nói gì là sân khách.
    Điều thứ ba, hình như anh chàng lạm phát lần này muốn nhắc khéo chúng ta: hãy coi chừng, mô hình phát triển kinh tế của bạn đang có vấn đề. Vấn đề gì? Kinh tế của ta tăng trưởng liên tục cả chục năm nay, tự hào và mạnh mẽ, thế và lực của đất nước trên trường quốc tế ngày một lên, làm sao có vấn đề được?
    Xin hãy bình tĩnh một chút, hình như tăng trưởng của chúng ta lâu nay chủ yếu dựa vào xuất khẩu, với giá trị hiện nay đã xấp xỉ 60% GDP. Tất cả ưu tiên cho xuất khẩu từ xây dựng cơ sở hạ tầng đến chính sách tỷ giá. Bối cảnh này làm ta nhớ lại cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á cách đây đúng 10 năm. Khi đó, mô hình kinh tế của các nước Đông Á về cơ bản là giống ta bây giờ, cũng được xây dựng theo lý thuyết của chủ nghĩa trọng tiền hiện đại (monetarism) với hai điểm đặc biệt: sản xuất tập trung chủ yếu vào xuất khẩu và đồng tiền quốc gia được gắn chặt vào đồng USD. Lợi và hại của mô hình này ra sao thi ai cũng biết rồi , ở đây chỉ xin nhắc lại ?" lịch sử đã chứng minh mô hình phát triển kiểu này không bền vững tý nào. Dĩ nhiên còn quá sớm khi lo ngại về một cuộc khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam, nhưng cảnh báo thì không bao giờ thừa.
    Đã vậy, ở ta hiện nay đang tồn tại một nghịch lý. Theo tỷ giá, Việt Nam đồng đang mất giá so với USD. Và trên thế giới đồng USD lại đang mất giá so với những đồng ngoại tệ mạnh khác. Giữ được tỷ giá VND thấp, xuất khẩu sẽ có lợi, nhưng đổi lại khu vực nhập khẩu phải chịu áp lực nặng nề. Trong khi chúng ta đang nhập siêu, mà lại nhập siêu nguyên, nhiên liệu để phục vụ sản xuất. Nên trừ những ngành xuất khẩu, các ngành khác còn lại đều phải chịu chung áp lực lạm phát. Mà người chịu trận cuối cùng là ai? Không ai khác ngoài người tiêu dùng. Và nếu để tình trạng như thế kéo dài, chắc chắn đời sống người dân, đặc biệt là bà con nông dân sẽ ngày một khó khăn hơn. Vậy chẳng hóa ra, chúng ta càng tăng trưởng, đời sống của người dân sẽ càng vất vả? Cho nên giữ được chính sách tỷ giá như hiện nay là rất tốt, nhưng nó chỉ phát huy tác dụng nếu ta phá vỡ được sự lệ thuộc quá thái vào nguyên nhiên liệu nhập khẩu, nâng cao được hiệu quả sản xuất và phát triển mạnh mẽ sản xuất phục vụ nhu cầu của thị trường nội địa. Cần phải nhận thức rõ rằng, trong hoàn cảnh thực tế hiện nay, tỷ giá hối đoái không ảnh hưởng nhiều đến sức mua của tiền đồng. Cho dù chúng ta có trả lại cho tiền đồng giá trị thực (đắt hơn giá trị hối đoái hiện nay) thì sức mua của tiền đồng cũng không hề tăng lên, mà lúc đó, chúng ta sẽ vướng vào ma trận tỷ giá - lạm phát, như một số nước đang mắc phải. Nga là một ví dụ. Mấy năm gần đây, đồng Rúp liên tục tăng giá so với USD, nhưng sức mua thực của đồng tiền này trên thị trường trong nước không hề tăng mà lại liên tục giảm. Chắc các bạn cũng biết, chính phủ Nga đã vất vả như thế nào để giữ được mức lạm phát không vượt quá hai con số.
    Vậy phải làm gì đây? Thực ra, cách giải bài toán phát triển mà ta đang mắc phải hiện nay, đã được nhà kinh tế Mỹ Paul Krugman (MIT) đưa ra 13 năm trước. Năm 1994, rất lâu trước thềm khủng hoảng tài chính 1997, Krugman đã đưa ra lời cảnh báo về sự thật của các ?othần kỳ kinh tế Đông Á?. Ông ta cho rằng, tăng trưởng kinh tế nhờ ?obơm? nguồn vốn đầu tư không mệt mỏi từ bên ngoài mà không tạo được những bước tiến thực chất trong sản xuất cũng như nâng cao năng suất sản xuất tổng hợp thì khó có thể mang lại sự thịnh vượng lâu dài.2 (Paul Krugman). Các nước Đông Á lúc đó có nghe điều đó nhưng không mấy để tâm. Hậu quả thế nào thì ai cũng rõ. Còn chúng ta hôm nay thì sao
    Bóng dáng của khủng hoảng là hiện hữu? VN chưa hẳn đã là tăng trưởng nóng, vì Trung Quốc đã tăng trưởng nóng trên 10% trong một thời gian dài, trong khi VN mới chỉ ở mức cao trong vài năm gần đây?

    Đây là một câu hỏi rất nhạy cảm. Các học giả ĐH Harvard cảnh báo Chính phủ về 8/10 nguy cơ khủng hoảng đã xuất hiện, nhưng mới ở giác độ khủng hoảng về tài chính, tiền tệ.

    Tăng trưởng nóng của VN khác Trung Quốc, khác thế giới, đó không phải nóng dựa trên sự tăng trưởng bền vững ?" khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng trưởng thực sự và không ảnh hưởng gì tới ngân sách Nhà nước, tới vay nợ, thất thoát. Tăng trưởng hiện nay của VN dựa trên khu vực kinh tế Nhà nước rất lớn nhưng hiệu quả không cao ?" đó là một nguy cơ. Nếu càng dành được nhiều vốn ODA để Nhà nước đứng ra đầu tư thì càng nguy hiểm cho tương lai (thất thoát, hiệu quả thấp, chất lượng thấp, thu hồi vốn chậm...), càng tăng trưởng nóng, nguy cơ đổ vỡ càng lớn.Và thực tế thì khu vực kinh tế Nhà nước lớn là thế ,đồ sộ là thế nhưng chỉ tạo ra 40%GDP ??

    . Hiện nay hệ số ICOR (số vốn đầu tư cần thiết để tạo ra 1 đồng tăng trưởng thêm trong GDP) của các nước trong khu vực thấp hơn VN rất nhiều, đó cũng là một minh chứng cho việc chất lượng, hiệu quả tăng trưởng chưa cao?

    Hiện nay hệ số ICOR của Hàn Quốc là 3, để đạt tốc độ tăng trưởng GDP 7,9%/năm; Trung Quốc tăng trưởng 9,7%, ICOR là 4; lãnh thổ Đài Loan là 9,7% và 2,7. Chỉ số ICOR của VN hiện bình quân là 4,4, còn tính riêng khu vực Nhà nước là 8. Tất nhiên đầu tư của Nhà nước là đầu tư công, chủ yếu vào hạ tầng nên tốn kém, không thể có lãi nhanh... Đây là bằng chứng gián tiếp cho thấy tính kém bền vững của đầu tư công(cpi năm 2007)


    Hiện nay khoản chi ngân sách Nhà nước dựa trên tăng thu ngân sách, bán tài nguyên, xuất khẩu thô, tăng đô la để chi..., tất cả những khoản này đều không bền vững. Cơ chế kiểm soát dòng đầu tư công phải có hiệu quả. Khi mà một dự án đầu tư bị thất thoát, lãng phí tới 30% thì không thể nói là đầu tư hiệu quả, lành mạnh, không thể nói là không khủng hoảng.
    Tình hình kinh tế - xã hội những tháng đầu năm 2008 đã và đang có những diễn biến bất lợi. Tăng trưởng kinh tế vẫn cao, nhưng không đạt mục tiêu đề ra, tăng trưởng của công nghiệp - xây dựng thấp. Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có biểu hiện xấu.Giá tiêu dùng liên tiếp tăng và tăng cao. Chỉ số giá tiêu dùng 3 tháng đã là 9,19%, nêu tính cả tháng 4 đã là trên 11%, ảnh hưởng rất bất lợi đến sản xuất kinh doanh, đến đầu tư phát triển và tác động xấu đến đời sống nhân dân. Thị trường tài chính, thị trường chứng khoán có nhiều biến động bất thường, nhập siêu tăng cao, cán cân thương mại và cán cân thanh toán thiếu vững chắc,mới đây nhất là việc giá dầu tăng cao kỉ lục 128 USD/thùng .Nhóm hàng lương thực đã tăng 15,02%,nhóm hàng thực phẩm tăng 10,06% ,nhà ở và xây dựng tăng 11,01%... và chỉ có riêng nhóm hàng bưu chính viễn thông giảm được 2,91%

    2.Những yếu kém trong công tác điều hành quản lý của chính phủ
    Trong báo cáo trước Quốc Hội hôm 6/5Thủ tướng nêu rõ: những yếu kém, bất cập trong quản lý, điều hành của Chính phủ là nguyên nhân chủ quan trực tiếp khiến những mặt yếu vốn có của nền kinh tế nước ta bộc lộ rõ hơn và tác động sâu rộng hơn. Cụ thể là:
    Thứ nhất:Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng trong nhiều năm, nhất là trong năm 2007, làm tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng tăng cao, gây áp lực trực tiếp đến lạm phát. Nhiều ngân hàng cổ phần đã tăng dư nợ tín dụng quá cao và sử dụng tỷ lệ lớn vốn ngắn hạn cho vay dài hạn, cho vay kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản. Điều hành tỷ giá, nhất là tỷ giá đồng Việt Nam với đô la Mỹ chưa thật linh hoạt, phù hợp.
    Thứ hai:Bội chi ngân sách liên tục trong nhiều năm trong khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, chưa đặt ra kế hoạch phấn đấu giảm dần bội chi; do đó không tạo được áp lực đối với việc kiểm soát và tiết kiệm chi tiêu ngân sách. Chi đầu tư từ khu vực nhà nước còn lớn và hiệu quả thấp. Hệ số ICOR của nước ta cao hơn so với nhiều nền kinh tế ở thời kỳ phát triển tương đương làm giảm chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
    Thứ ba:Vai trò của Nhà nước trong quản lý thị trường, quản lý giá cả, quản lý xuất nhập khẩu còn nhiều bất cập, yếu kém; chậm đề ra các chính sách thích hợp, có hiệu quả để quản lý và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của các hoạt động này.
    Thứ tư:Công tác nghiên cứu dự báo và thông tin thị trường chưa được coi trọng đúng mức. Năng lực tham mưu tổng hợp về kinh tế vĩ mô chưa đáp ứng kịp yêu cầu quản lý điều hành. Đến những tháng cuối năm 2007, các đánh giá vẫn nặng về thời cơ, thuận lợi, chưa phân tích dự báo được hết những khó khăn thách thức mới, nên Chính phủ vẫn trình Quốc hội thông qua chỉ tiêu tăng trưởng cao trong năm 2008 (GDP tăng từ 8,5 đến 9%, phấn đấu đạt mức cao hơn) và dự báo tốc độ tăng giá tiêu dùng thấp hơn tốc độ tăng GDP.
    Thứ năm: Công tác thông tin tuyên truyền, giải thích tình hình chưa kịp thời, chưa đủ rõ và thiếu nhất quán, nhất là trước những diễn biến mới và khi ban hành các chính sách, giải pháp có tính nhạy cảm, gây xao động, lo lắng trong xã hội. Chưa quản lý và chỉ đạo tốt các phương tiện thông tin đại chúng tham gia thiết thực, hiệu quả trong việc thực hiện những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của đất nước.
  3. mrlinh89

    mrlinh89 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    May 24, 2008
    Likes Received:
    1
    cái này đọc ko nghỉ là chết liền,em vẫn còn số phần nữa
  4. spedia

    spedia Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 6, 2004
    Likes Received:
    2
    Được spedia sửa chữa / chuyển vào 15:46 ngày 21/07/2008

Share This Page