1 bài viết hay về nền kinh tế

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi nothingtolove, 10/06/2008.

741 người đang online, trong đó có 296 thành viên. 06:59 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 769 lượt đọc và 5 bài trả lời
  1. nothingtolove

    nothingtolove Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/05/2006
    Đã được thích:
    2
    1 bài viết hay về nền kinh tế

    Bảng 3 cho thấy qui mô và nhịp độ cổ phần hóa của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2005 rất nhỏ so với Trung Quốc. Tổng mức tiền thu được từ cổ phần hóa của Việt Nam chỉ bằng 1% mức GDP năm 2000 với qui mô trung bình của mỗi dự án là 3 triệu USD; trong khi các con số này của Trung Quốc là 4,8% và 252 triệu USD.

    Thiếu quyết đoán chiến lược ở thời điểm bước ngoặt

    Trong tiến trình phát triển thường xuất hiện những thời điểm có tính bước ngoặt, đòi hỏi tính quyết đoán chiến lược của người lãnh đạo. Tại thời điểm này, một quyết đoán sáng suốt sẽ giúp tạo nên một cục diện mới tạo sức phát triển nhảy vọt; trái lại, sự chần chừ, lúng túng sẽ làm mất đi thời cơ quí giá này và dẫn đến một bước lùi tai hại trong tiến trình phát triển.
    Tiến trình cải cách của Việt Nam và Trung Quốc đều xuất hiện những thời điểm có tính bước ngoặt vào năm thứ 13 của cải cách sau khi công cuộc cải cách đã thu được những thành quả bước đầu tạo nên tâm lý thỏa mãn, đồng thời làm nổi lên những lo ngại mang tính giáo điều về sự xa rời ?ochủ nghĩa xã hội?. Tiến trình cải cách do vậy có thể bị trì hoãn bởi những tranh cãi gay gắt trong nội bộ lãnh đạo.
    Trung Quốc ở vào tình thế này vào năm 1991, năm thứ 13 của cải cách, khi đó thậm chí có kiến nghị đòi bãi bỏ các khu kinh tế đặc biệt. Trong tình thế đấu tranh căng thẳng này, ông Đặng Tiểu Bình quyết định không nhượng bộ mà chọn cách đương đầu quyết liệt bằng tiến hành một chuyến đi về các tỉnh và thành phố cải cách ở phía Nam vào tháng 1 năm 1992 để tập hợp được lực lượng ủng hộ cải cách, làm hậu thuẫn cho quyết định của hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị tháng 3 năm 1992 về đẩy mạnh hơn nữa nhịp độ cải cách và mở cửa[2]. Với quyết định này, cải cách và mở cửa của Trung Quốc kể từ năm thứ 13 của cải cách không những không bị chậm lại mà lại có bước tiến nhảy vọt.
    Việt Nam vào năm thứ 13 của cải cách (năm 1999) cũng đứng trước một cơ hội đòi hỏi sự quyết đoán đặc biệt, đó là việc ký hiệp định thương mại với Mỹ vào tháng 9 năm 1999. Thế nhưng chúng ta từ chối ký hiệp định này mặc dù mọi việc chuẩn bị dường như đã sẵn sàng. Điều này làm nhiều người ngỡ ngàng.

    Một quan chức của Bộ Thương mại Mỹ khi đó nhận xét: ?oKhi các bạn so sánh điều này với những nỗ lực của Trung Quốc trong các đàm phán thương mại [ ] nó cho thấy rằng, Việt Nam chưa thực sự tin vào mở cửa[3]?.

    Giáo sư Dwight Perkins của Đại học Harvard, nhà nghiên cứu hàng đầu về các mô hình phát triển Đông Á nhận xét: ?oViệc từ chối [này] của Việt Nam trong việc ký hiệp định thương mại với Mỹ là một minh chứng về việc [Việt Nam] ngại ngùng trong việc chấp nhận một chính sách công nghiệp có lẽ là thích hợp nhất cho đất nước của mình[4]?.
    Với sự thiếu quyết đoán này, Việt Nam đã tự làm minh tụt hậu trong nhịp độ tăng trưởng so với Trung Quốc kể từ năm thứ 13 của cải cách.

    2- Điểm yếu thứ hai, chúng ta thiếu tầm chiến lược trong hoạch định công cuộc phát triển

    Ba minh chứng cho kết luận này dựa trên mức tiêu thụ điện cho tăng trưởng, khả năng nắm bắt cơ hội thị trường, và nỗ lực bước lên trên nấc thang công nghệ trong quá trình hội nhập quốc tế.

    Về tiêu thụ năng lượng cho phát triển, mỗi nhà hoạch định chính sách đều hiểu rằng năng lượng ngày càng khan hiếm và giá của nó có xu hướng tăng nhanh hơn các loại sản phẩm khác. Do vậy, phát triển kinh tế và công nghiệp hóa phải đi hướng về các lĩnh vực và sản phẩm tiết kiệm năng lượng nói chung và điện nói riêng. Thế nhưng chúng ta không đi theo hướng này.
    Nguồn:Từ số liệu của Ngân hàng Thế giới; Bộ Công-Thương Việt Nam; Niên Giám Thống kê Trung Quốc, 2006
    Bảng 4 cho thấy, khác với Trung Quốc, mức tăng về điện tiêu thụ ở nước ta trong giai đoạn 1990-2005 cao hơn nhiều mức tăng của giá trị gia tăng, trên qui mô của toàn bộ nền kinh tế cũng như của riêng ngành công nghiệp. Trên qui mô toàn bộ nền kinh tế, chúng ta tăng trưởng bình quân 7,6% trong khi tiêu thụ điện tăng 14,1% . Trong lĩnh vực ngành công nghiệp nói riêng, mức tăng trưởng của giá trị gia tăng là 10,9% trong khi mức tăng điện năng tiêu thụ là 14,3%.

    Nghĩa là, phát triển kinh tế và công nghiệp của Việt Nam đang đi theo hướng tổn phí năng lượng. Tình hình này nếu không được sớm khắc phục sẽ không chỉ gây nên tình trạng thiếu điện nghiêm trọng mà còn làm cho nền kinh tế nước ta ngày càng kém sức cạnh tranh và dễ tổn thương do sự biến động ngày càng gia tăng của giá năng lượng quốc tế.

    Về nắm bắt cơ hội thị trường, Việt Nam chung biên giới với Trung Quốc nhưng kém xa các nước Đông Nam Á khác trong khai thác thị trường khổng lồ và tăng trưởng rất nhanh này trong khi lại nhanh chóng lệ thuộc vào nó một cách thụ động.

    Bảng 5 cho thấy, trong giai đoạn 2000-2005, tỷ trọng Trung Quốc trong toàn bộ xuất khẩu của Việt Nam chỉ tăng không đáng kể, từ 6,6% năm 2000 lên 7,6% năm 2005; trong khi các con số này tương ứng là 3,9% lên 8,6% với Singapore; 1,7% lên 9,9% với Philippine; và 4,5% lên 7.8% với Indonesia; 4,1% lên 8,3% với Thái Lan. Mặt khác, cùng trong thời gian này, Việt Nam lại tăng mạnh nhập khẩu từ Trung Quốc, từ tỷ trọng 11,5% trong toàn bộ nhập khẩu năm 2000 lên 17,5% năm 2005.
    Về nỗ lực bước lên trên nấc thang công nghệ trong hội nhập quốc tế, bảng 6 cho thấy, từ năm 2000 đến năm 2005 tỷ trọng công nghệ cao trong xuất nhập khẩu của chúng ta còn thấp và tăng chậm. Trong xuất khẩu, tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao tăng thêm +1,8%, từ 5,8% lên 7,6%; trong khi con số này của Trung Quốc là +12,3%, từ mức 28,9% lên mức 41,3%.

    Trong nhập khẩu của Việt Nam, tỷ trọng các sản phẩm công nghệ cao gia tăng không đáng kể (+0,6%), đồng thời có một bước thụt lùi về công nghệ là chúng ta giảm nhập công nghệ trung-cao (-6,5%) để nhập công nghệ trung-thấp (+7,4%). Trong khi đó, Trung Quốc tăng mạnh tỷ trọng nhập sản phẩm công nghệ cao (+6,2%) và giảm mạnh tỷ trong nhập sản phẩm công nghệ thấp (-7,3%).

    Bảng 6. Cấu trúc xuất nhập khẩu giai đoạn 2000-2005

    3- Điểm yếu thứ ba, chính phủ chưa thực sự hợp tác sát cánh cùng doanh nghiệp và người dân, đặc biệt là nông dân, để tạo sự yểm trợ hiệu quả trong công cuộc phát triển

    Một quốc gia với chiến lược phát triển khôn ngoan thường tìm cách tạo nên giá trị gia tăng cao hơn trên mỗi đơn vị sản phẩm. Để làm được việc này, Chính phủ phải dành một phần quan trọng nguồn lực của mình giúp các doanh nghiệp và người dân có được thông tin thấu đáo và kịp thời về thị trường và công nghệ để họ có các quyết định sáng suốt hơn trong đầu tư và tổ chức sản xuất của mình.

    Ở Việt Nam, Chính phủ chưa làm được việc này. Vì vậy, mặc dù các doanh nghiệp và người dân, đặc biệt đã rất năng động, chịu khó nhưng hiệu quả thu được vẫn thấp.

    So sánh tăng trưởng của ngành nông nghiệp giữa Việt Nam và Trung Quốc cho thấy sự tương phản này. Sản lượng nông nghiệp (qui theo chỉ số định lượng) trong giai đoạn 1986-2004[5] của Việt Nam tăng nhanh hơn hẳn Trung Quốc . Thế nhưng, nhưng năng suất lao động nông nghiệp (tính bằng lượng giá trị gia tăng trên lao động nông nghiệp) của Việt Nam thua kém Trung Quốc một cách rõ rệt.

    Một minh họa cho thực trạng này là ý kiến của lão nông Lê Văn Lam trong thư gửi Thủ tướng Chính phủ ngày 4/5/2008: ?oNgười nông dân luôn phải lao đao về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, khi thì đào ao nuôi cá, lúc thì bỏ ruộng trồng bắp nhưng hầu như không mang lại hiệu quả, cũng vì người nông dân thiếu kiến thức về thị trường cũng như kỹ thuật sản xuất[6]... ?o

    Kết luận

    Douglas North, nhà kinh tế được giải thưởng Nobel, có kết luận đại ý rằng, môt nước không khá lên được là do thể chế của nó tạo nên các qui tắc vận hành xã hội không khuyến khích các nỗ lực kiến tạo nên giá trị mới[7]. Các qui tắc này thường làm cá nhân và doanh nghiệp rơi vào vòng xoáy của chụp giật với sự thúc đẩy của động lực hưởng thụ, tích cốc phòng cơ, và phô trương hình thức.

    Công cuộc phát triển của Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn. Hệ thống thể chế với những qui tắc vận hành kinh tế xã hội như hiện nay không chỉ chưa tạo được động lực chân chính và mạnh mẽ cho cá nhân và doanh nghiệp nỗ lực kiến tạo nên giá trị mới mà còn làm thang bảng giá trị của xã hội bị méo mó và xuống cấp.

    Trước những khó khăn gay gắt tạm thời hiện nay, chúng ta đang đứng trước sự lựa chọn giữa hai cách ứng xử.

    Cách thứ nhất dựa trên các giải pháp xử lý có tính tình thế; có thể quyết liệt tức thời về sự vụ nhưng tránh né không động chạm đến những yếu tố nền móng. Cách giải quyết này có thể làm khó khăn đang gặp phải tạm thời lắng đi trong ít năm để rồi sau đó lại trỗi dậy với mức độ gay gắt và nguy hại lớn gấp nhiều lần trong khi nền móng phát triển mỗi ngày một suy yếu.

    Cách thứ hai dựa trên cách tiếp cận chiến lược, với ý chí nâng cấp căn bản nền tảng phát triển, trong đó hệ thống thể chế là trụ cột chính yếu, tạo dựng cho nền kinh tế Việt Nam phát triển trên nền móng của một quốc gia có đẳng cấp hàng đầu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore đã và đang làm. Cách tiếp cận thứ hai này không chỉ giúp nước ta vượt qua khó khăn hiện thời mà còn tạo nên một khí sắc đổi thay có sức đột phá mạnh mẽ cho công cuộc phát triển của Việt Nam.

    Nhiều chuyên gia quốc tế cho rằng Việt Nam sẽ lựa chọn cách tiếp cận thứ nhất và sẽ xoay sở thành công để thoát ra khó khăn hiện tại, cũng giống như Việt Nam đã vượt qua các nạn dịch cúm gia cầm, lợn tai xanh, hay khuẩn tả. Thế nhưng, chúng tôi thấy xót xa cho hiện tại và lo ngại cho tương lai nếu Việt Nam quả thực lựa chọn cách tiếp cận này bởi lẽ chúng ta không chứng minh được rằng Việt Nam là một dân tộc có thể lớn lên từ thất bại, mạnh lên từ khó khăn, thách thức.

    Từ cách nhìn của chúng tôi, cải cách hệ thống và nâng cấp nền móng phát triển không chỉ là bước đi khẩn thiết để vượt qua khó khăn hiện tại mà còn là mệnh lệnh thiêng liêng để thế hệ hôm nay không phải hổ thẹn với quá khứ và tương lai./.

    Ts. Vũ Minh Khương (ĐHQG Singapore)


    -> Suy nghĩ của anh em thế nào???
    http://www.tuanvietnam.net//vn/thongtindachieu/3956/index.aspx

    Được nothingtolove sửa chữa / chuyển vào 11:02 ngày 10/06/2008
  2. quangaqa

    quangaqa Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    25/01/2006
    Đã được thích:
    0
     

    Kinh tế Việt quá non và mong manh trước những cơn bão táp của các đại gia tư bản siu pơ xù (siêu kếch xù)!!

    Cho nên cần nhiều người siêu tài năng để nâng tầm kinh tế cho Việt Nam. Về định hướng, chiến lược và thậm chí trong từng nước cờ nhỏ nhưng mang tính quyết định. Đó phải là một người thực sự vĩ đại để đưa Việt Nam cất cánh và trả hết nợ. Gọi là người hùng kinh tế Việt.

    Vài suy nghĩ chia sẻ.




     


    được khoile28 sửa chữa / chuyển vào 18:04 ngày 11/06/2008
  3. quy1001

    quy1001 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    23/05/2008
    Đã được thích:
    24
    Không có ai có thể hơn được ĐTB, trừ MTĐ.
    ĐTB --> 2 lần "man of year"
  4. kekhatgai

    kekhatgai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/02/2007
    Đã được thích:
    3
    Mấy ông VN còn xem mèo nào hay mèo nào dở, còn Đặng tiên sinh thì : Mèo trắng hay mèo đen ko thành vấn đề miễn là bắt được chuột. Tư tưởng thoáng vậy mới làm nên sự thần kỳ cho Tàu khựa hôm nay.

    VN còn nghèo rớt mồng tơi vài chục năm nữa.
  5. gmatvt

    gmatvt Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/11/2003
    Đã được thích:
    0
    Anh Khương này đi Harvard về đây mà, lại sang Sing làm thuê à.

    Bài viết cũng chỉ dừng lại ở phân tích hiện trạng, chứ giải pháp thì cũng chẳng có gì, kiểu chung chung như thi đua yêu nước thôi.
  6. quy1001

    quy1001 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    23/05/2008
    Đã được thích:
    24
    Mời các bác đọc những mẩu truyện về ĐTB, đọc để phần nào hiểu được chữ NHẪN.

Chia sẻ trang này