Áp lực giải chấp khoảng 10.000 tỷ đồng, giải pháp cho nỗi ám ảnh mang tên “hàng giải chấp” và quản t

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi tiencua68, 04/09/2010.

938 người đang online, trong đó có 375 thành viên. 15:41 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1327 lượt đọc và 25 bài trả lời
  1. nqsoft2004

    nqsoft2004 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    21/05/2008
    Đã được thích:
    1
    Mấy tin này đúng là xấu nhất rồi, nhưng toàn cũ rích, nhờ nó đã được bung ra mà thị trường mới có mấy phiên đảo chiều. Nói chung tin xấu càng nhiều càng tốt :-bd

    Sợ nhất bây giờ là nhiều tin tốt bung ra đến nỗi thị trường bị bão hòa. >:)
  2. ultimate

    ultimate Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/08/2010
    Đã được thích:
    11
    Chuẩn đới cụ =D>
  3. leostockdowjon

    leostockdowjon Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    19/03/2010
    Đã được thích:
    0
    -cũ rich\:D/
  4. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    Toàn tin hôm 1-2/9, mới tinh :-ss
    Thế mới choáng chứ :-w
  5. ultimate

    ultimate Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/08/2010
    Đã được thích:
    11
    Ghê vãy sao cụ , vậy cụ có hàng phang ra hết dùm , tôi chưa mua được bao nhiêu , rất cần mua thêm :-bd
  6. saigonhanoi

    saigonhanoi Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/07/2010
    Đã được thích:
    0
    Cụ không cần bơm tin vịt đâu, tăng vài phiên nửa sẽ trả lại cho tha hồ mà múc.
  7. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    Tuần sau bác mua thoải mái. Kiểm chứng!!!!!
  8. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://tinnhanhchungkhoan.vn/RC/N/CFFGAE/phai-tri--benh--nhap-sieu.html
    Phải trị “bệnh” nhập siêu
    04/09/2010 17:13:33
    Theo PGS.TS Trần Hoàng Ngân, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, để ổn định vĩ mô, không thể tăng tỷ giá VND/USD mãi mà cần có chiến lược tiến tới xuất siêu nhằm ổn định tỷ giá. Ông nói:
    Từ năm 1986 đến nay tăng trưởng kinh tế khá cao, GDP bình quân tăng 7%/năm, thu nhập đầu người tăng lên 1.160 USD. Tuy nhiên, chúng ta luôn phải đối mặt với thách thức về ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó có vấn đề nhập siêu. Nhập siêu những năm qua đều ở mức rất cao, làm giảm nguồn dự trữ ngoại hối, phải liên tục tăng tỷ giá, làm giảm sức mua của đồng tiền. Vì vậy, để có thể tăng trưởng bền vững cần phải kiểm soát nhập siêu.

    [​IMG]
    Nhập siêu trong những năm gần đây - Đồ họa: Ngọc Thành

    Cơ sở nào để ông cho rằng nhập siêu đã ở mức báo động?

    Mục tiêu đặt ra là kiểm soát nhập siêu ở mức dưới 20% kim ngạch xuất khẩu. Chúng ta chỉ tính đến cán cân thương mại (chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu với nhập khẩu). Chỉ tiêu này chưa phản ánh hết bản chất của vấn đề. Trên thế giới, người ta còn tính thêm cán cân thanh toán vãng lai bao gồm cán cân thương mại và các khoản thu chi về dịch vụ (ngoại tệ chi cho du lịch, chữa bệnh, chuyển kiều hối ra nước ngoài, trả nợ...). Nếu cộng các khoản này thì thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai của Việt Nam cao hơn. Thông thường, nếu cán cân thanh toán vãng lai vượt quá 5% GDP là đã ở mức báo động, trong khi chúng ta trong ba năm qua liên tục ở mức 8% GDP.

    Do nhập siêu cao nên thời gian qua chúng ta liên tục điều chỉnh tỷ giá VND/USD. Năm 2010, có thể đạt mục tiêu kiểm soát nhập siêu dưới 20% kim ngạch xuất khẩu nhưng số nhập siêu tám tháng là 8,2 tỷ USD và dự kiến cả năm khoảng 13 tỷ USD. Những năm tới đây, nếu không kiểm soát nhập siêu tốt, khoảng cách giữa các lần tăng tỷ giá sẽ gần hơn, ảnh hưởng không tốt đến đời sống người dân cũng như môi trường đầu tư.

    [​IMG]
    "Năm 2007, nhập siêu tăng gần ba lần so với năm 2006, từ 5,1 tỷ lên 14,1 tỷ USD là do ở thời điểm đó thị trường chứng khoán, bất động sản tăng nóng, người dân có nhiều tiền để mua sắm; đầu tư xã hội lên đến 45,6% GDP trong khi các năm trước chỉ có 40% GDP; tăng tín dụng cũng ở mức kỷ lục, đến 54% trong khi các năm trước chỉ tăng khoảng 25%. Vì vậy cũng nên tính toán có thể chọn tăng trưởng bền vững, chấp nhận GDP hằng năm tăng ở mức 6,5% thay vì trên 7%"


    PGS.TS Trần Hoàng Ngân
    Có ý kiến cho rằng số ngoại tệ từ nhập siêu đã được bù đắp thông qua việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), kiều hối, vay nợ...


    Chúng ta đã ưu đãi để đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài và giải ngân nguồn vốn này, xem đó là nguồn thu ngoại tệ để bù đắp cho số nhập siêu. Tuy nhiên, nếu duy trì mãi chỉ giải quyết được khó khăn trước mắt, về lâu dài càng làm cho tình hình nhập siêu trầm trọng hơn. Đó là các dự án bất động sản, khi khởi động họ sẽ cần rất nhiều ngoại tệ để nhập khẩu vật tư xây dựng, sau đó bán sản phẩm tại thị trường Việt Nam và tìm mua ngoại tệ để chuyển về nước.

    Các dự án sản xuất hàng tiêu dùng cũng thế. Các nhà đầu tư nước ngoài với thế mạnh về vốn, công nghệ lấn lướt các doanh nghiệp trong nước. Họ nhập khẩu nhiều nguyên vật liệu sau đó bán tại thị trường Việt Nam, khi có lợi nhuận thì họ chuyển ngoại tệ về nước. Nếu cứ xem việc thu hút FDI để bù đắp thâm hụt ngoại tệ thì chẳng khác nào lấy cái sau trả cái trước.

    Nhiều năm qua, chúng ta quá quan tâm đến thu hút đầu tư nước ngoài mà chưa quan tâm ưu đãi doanh nghiệp trong nước. Chúng ta cũng bỏ quên thị trường trong nước, để hàng hóa nước ngoài tràn ngập. Vì vậy phải thay đổi, chỉ chấp nhận nhập khẩu máy móc thiết bị chứ không thể chi ngoại tệ ra nhập nhiều hàng tiêu dùng. Ngay cả việc vay nợ để bù đắp vào khoản thâm hụt do nhập siêu cũng chỉ là giải pháp tình thế.

    Nhưng hỗ trợ gì cho doanh nghiệp khi chúng ta phải tuân thủ các cam kết về công bằng trong kinh doanh khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới?

    Việc kiểm soát nhập siêu thông qua hàng rào kỹ thuật chỉ là một giải pháp. Quan trọng nhất là phải giúp doanh nghiệp sản xuất hàng hóa cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Chúng ta phải tính toán lại, nên có thêm ưu đãi cho doanh nghiệp phù hợp với các cam kết quốc tế và trong khả năng cho phép. Có nhiều biện pháp hỗ trợ như vốn, thuế, chính sách về đất đai....

    Về vốn, cần phải giảm lãi suất huy động xuống 8%/năm, hiện 11% là rất cao. Lãi suất cho vay phải kéo xuống phổ biến chỉ còn 12%/năm. Doanh nghiệp trong nước khó giảm được giá bán hàng hóa khi lãi suất đang cao ngất ngưởng. Các nước khác ngân hàng trung ương áp dụng lãi suất chưa tới 1%/năm, trong khi ở Việt Nam là 7-8%/năm. Cái này thì theo thị trường, không bị ràng buộc cam kết với các nước.

    Muốn giảm lãi suất, ngoài các biện pháp về chính sách tiền tệ, cũng cần thay đổi tư duy người gửi tiền phải được hưởng lãi suất dương (lãi suất tiền gửi tiết kiệm phải cao hơn lạm phát). Bởi vì như thế khuyến khích gửi tiền để lấy lãi tiêu xài hơn là đầu tư sản xuất kinh doanh. Đồng thời phải cho Ngân hàng Nhà nước quyền lớn hơn để có thể can thiệp thị trường trong trường hợp ngân hàng giảm lãi suất huy động, người gửi tiền không còn được hưởng lãi suất cao như hiện nay.

    Ông nghĩ sao khi có ý kiến cho rằng muốn kiểm soát được nhập siêu cũng cần phải kiểm soát chi tiêu công, đặc biệt là phải giảm mức bội chi ngân sách?

    Bội chi ngân sách ở mức cao là một trong những nguyên nhân gây áp lực lên nhập siêu. Khi ngân sách chi tiêu nhiều, nhu cầu mua sắm cũng cao hơn, với những mặt hàng trong nước chưa sản xuất được thì phải chi ngoại tệ để nhập khẩu. Để giải quyết hài hòa bài toán nhập siêu cũng cần phải kiểm soát bội chi ngân sách, phải giảm xuống còn 5% và mục tiêu tiếp theo là chỉ còn 3% GDP. Ngay cả trong chi tiêu ngân sách cũng phải ưu tiên cho hàng VN, bên cạnh việc vận động người Việt dùng hàng Việt.

    Các nước xung quanh có rơi vào tình trạng nhập siêu như Việt Nam và họ đã xử lý vấn đề này thế nào?

    Các nước trong khu vực cũng từng rơi vào tình trạng nhập siêu khi xảy ra khủng hoảng tài chính năm 1997, họ đã phải điều chỉnh. Kể từ năm 2002 đến nay các nước như Indonesia, Thái Lan, Philippines, Malaysia... chẳng những đã thoát khỏi cảnh nhập siêu mà còn trở thành nước xuất siêu.

    Kiểm soát nhập siêu có thể làm theo hai giai đoạn. Trong năm năm tới đưa nhập siêu về dưới 10% kim ngạch xuất khẩu, năm năm tiếp theo là cân bằng và tiến tới xuất siêu. Chỉ khi xuất siêu, dự trữ ngoại hối tăng lên thì chúng ta bớt lo về tăng tỷ giá, khi đó có thể tiến tới tự do hóa chuyển đổi VND.

    Để thực hiện được mục tiêu này, chúng ta cần phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chiến lược phát triển của từng ngành nghề. Ngành dệt may, da giày, làm sao phải nâng cao tỷ lệ nội địa hóa hàng xuất khẩu. Hiện ngành dệt may kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD/năm nhưng cũng chi nhiều tỷ USD để nhập nguyên phụ liệu.




    Theo TT
  9. ultimate

    ultimate Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/08/2010
    Đã được thích:
    11
    Ok đang cần vào khoảng 70% TK mong cho nó down , để kiẻm chứng xem cụ đúng không :-bd
  10. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    http://tinnhanhchungkhoan.vn/RC/N/CFFFFA/4-yeu-to-tac-dong-tieu-cuc-toi-ttck.html
    4 yếu tố tác động tiêu cực tới TTCK
    01/09/2010 07:11:48
    [​IMG]
    Lượng cung cổ phiếu và dòng tiền vào thị trường sẽ khó khăn là 2 trong 4 nguyên nhân chính tác động tiêu cực tới TTCK trong những tháng cuối năm - Ảnh minh họa: Hoài Nam

    TTCK đã bật trở lại sau một thời gian sụt giảm được cho là giảm quá đà. Tuy nhiên, NĐT cũng nên cẩn trọng, bởi lẽ có những yếu tố tác động tiêu cực đến TTCK trong những tháng cuối năm, trong đó một số yếu tố đã và đang tác động đến thị trường.
    Thứ nhất, cung cổ phiếu. Lượng cung cổ phiếu trong 4 tháng cuối năm được dự báo tăng mạnh. Số lượng cổ phiếu cần thiết để tăng vốn riêng cho khối ngân hàng trị giá khoảng 50.000 tỷ đồng. Tổng cộng toàn thị trường vào khoảng 80.000 tỷ đồng. Trong khi đó, việc chuẩn bị nguồn tiền cho việc tăng vốn nói trên có vẻ đang bị chậm.
    Thứ hai, dòng tiền. Dòng tiền vào TTCK có thể gặp khó khăn vì những nguyên nhân sau:
    1) Công tác huy động vốn để tăng vốn điều lệ của các ngân hàng và công ty chưa niêm yết khá lớn.
    2) Ngân hàng tập trung vốn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của các DN. Đồng thời, nguồn tiền phục vụ cho việc mua sắm hàng hóa tăng lên theo quy luật vào những tháng cuối năm.
    3) Các quy định mới về đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng cũng có tác động không nhỏ tới nguồn tiền vào TTCK. Cụ thể là quy định về tổng cho vay của các ngân hàng không được vượt quá 80% tổng huy động (trong đó không tính khoản tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế); quy định không cho phép các ngân hàng dùng vốn liên ngân hàng để cho vay. Điều này buộc các ngân hàng phải tăng tổng huy động tiền gửi dân cư.
    Ngoài ra, việc tăng tỷ lệ CAR từ 8% lên 9% cũng đã buộc một số ngân hàng phải bán bớt cổ phiếu mà họ nắm giữ để tái cơ cấu các tài sản của ngân hàng.
    Thứ ba, tình hình vĩ mô quốc tế có chiều hướng xấu. Các gói giải cứu, kích thích kinh tế của chính phủ các nước lớn trên thế giới tỏ ra kém hiệu quả và chưa thể giải quyết được tận gốc vấn đề. Các quốc gia cần phải có một quá trình để tái cơ cấu và thay đổi về chất. Trong khi đó, nếu nguồn vốn được sử dụng không hiệu quả thì những khoản vay mượn của chính phủ các nước có thể gây nên tác động nguy hiểm là vấn đề khủng hoảng nợ công.
    Thứ tư, kết quả kinh doanh các DN trong quý III và IV. Các khoản lợi nhuận đột biến sẽ không có nhiều như năm 2009 và nửa đầu năm 2010, vì lợi nhuận thu được do biến động tăng của giá cả đã hạch toán vào năm 2009 và đầu năm 2010.
    Hai ngành có giá trị vốn hóa trên TTCK là tài chính và bất động sản có thể đạt lợi nhuận thấp hơn.
    Ngành ngân hàng có các yếu tố làm giảm lợi nhuận như khoản thu phí dịch vụ từ sàn vàng không còn, ảnh hưởng từ quy định mới về an toàn hoạt động ngân hàng sẽ làm tăng trích lập dự phòng cụ thể, khoản trích lập dự phòng chung thì khả năng sẽ có nhiều ngân hàng phải hạch toán với số tiền lớn vào năm nay; quy định về tổng vốn cho vay tối đa bằng 80% tổng vốn huy động, cùng với quy định về trần cho vay, trần huy động cũng có tác động làm giảm chênh lệch giữa lãi huy động bình quân và cho vay bình quân.
    Đối với ngành bất động sản, thị trường bất động sản đầu năm sôi động, giá tăng, nhưng từ đầu quý III đến nay có xu hướng giảm, có hiện tượng đóng băng.




    Nguyễn Hồng Hải, DoBF

Chia sẻ trang này