Bài đăng trên trang web của Văn Phòng Quốc hội - Không có cuộc tấn công tiền tệ mang tính đầu cơ ở V

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi hoathuong_thich_du_thu, 02/06/2008.

2366 người đang online, trong đó có 946 thành viên. 15:59 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 1204 lượt đọc và 10 bài trả lời
  1. hoathuong_thich_du_thu

    hoathuong_thich_du_thu Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    10/07/2006
    Đã được thích:
    1
    Bài đăng trên trang web của Văn Phòng Quốc hội - Không có cuộc tấn công tiền tệ mang tính đầu cơ ở Việt Nam

    Các bác đọc bài này chưa?

    Không có cuộc tấn công tiền tệ mang tính đầu cơ ở Việt Nam
    31/05/2008
    Một số chuyên gia mới đây bày tỏ lo ngại rằng, trong tình trạng rối ren về chính sách lãi suất và tỷ giá như hiện nay tại Việt Nam thì nguy cơ xảy ra một cuộc tấn công tiền tệ của những nhà đầu cơ nước ngoài là rất cao. Kết cục là một cuộc khủng hoảng tài chính với cuộc tháo chạy của các nhà đầu tư và đầu cơ nước ngoài khi VND bị phá giá không kiểm soát. Vậy khả năng đổ vỡ và khủng hoảng xảy ra theo kịch bản này là như thế nào?

    Cơ chế tấn công tiền tệ của các nhà đầu cơ nước ngoài thường là như sau: Ngân hàng trung ương tuyên bố (hoặc ngầm định) giữ tỷ giá cố định hoặc biên độ trong một biên độ giao động hẹp. Nếu các nhà đầu cơ tin/kỳ vọng rằng đồng nội tệ đang bị định giá cao hơn giá trị thực (tức là phải bị phá giá hơn nữa) so với USD, và nếu họ biết rõ về khả năng can thiệp vào tỷ giá của ngân hàng trung ương thông qua sử dụng quỹ dự trữ ngoại tệ của mình là có hạn, thì họ sẽ tấn công vào cơ chế neo giữ tỷ giá này bằng cách liên tục vay bằng nội tệ (VND) rồi mua USD tại nước sở tại (Việt Nam) theo tỷ giá trên thị trường ngoại hối chính thức. Vì cầu USD tăng lên nên ngân hàng trung ương phải bán USD ra để can thiệp nhằm bình ổn tỷ giá. Nhưng hành động can thiệp này có hạn, phụ thuộc vào mức độ dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương cũng như phụ thuộc vào mức độ tấn công dai dẳng của nhà đầu cơ. Trong tình huống xấu nhất, ngân hàng trung ương mặc dù đã dùng quá nhiều dự trữ ngoại hối của mình nhưng vẫn không thắng nổi ý chí tấn công liên tục của nhà đầu cơ nên buộc phải từ bỏ ý định can thiệp ổn định tỷ giá. Kết cục là đồng bản tệ bị phá giá tự do không kiểm soát, gây hoảng loạn trong giới đầu tư nước ngoài, làm nhu cầu chuyển đổi từ nội tệ sang ngoại tệ càng tăng mạnh, đến lượt nó lại làm cho nội tệ mất giá hơn nữa trong một vòng xoáy trôn ốc.
    Đến lúc này các nhà đầu cơ tiền tệ mới ung dung tung một phần USD mà họ mới vừa mua trước đây ở nước sở tại ra để mua nội tệ nhằm thanh toán các khoản vay bằng nội tệ từ hệ thống ngân hàng sở tại dùng để tấn công hệ thống tỷ giá nước này. Nói là họ chỉ tung ?omột phần? USD vì đồng nội tệ đã bị phá giá rất nhiều so với thời điểm họ vay ngân hàng nên nay họ chỉ cần một phần trong số USD mua gom được là cũng đủ để mua lại đúng số bản tệ mà họ đã vay. Kết quả là nhà đầu cơ thu được một khoản USD chênh lệch đáng kể từ hoạt động tấn công mang tính đầu cơ này. Còn nền kinh tế sở tại thì bị tổn thương nghiêm trọng với đồng bản tệ mất giá, nhà đầu tư nước ngoài nghiêm túc (dài hạn) thì hoảng sợ bỏ chạy, các hoạt động sản xuất và kinh doanh bị đình đốn, và nền kinh tế thậm chí có khả năng rơi vào khủng hoảng.
    Tuy nhiên, điều kiện để xảy ra kịch bản trên không hoàn toàn dễ dàng. Nhà đầu cơ chỉ có thể tấn công cơ chế tỷ giá khi: (1) nhà đầu cơ có thể dễ dàng vay nội tệ từ hệ thống ngân hàng sở tại với mục đích không rõ ràng; (2) nhà đầu cơ có thể dễ dàng mua USD từ hệ thống ngân hàng; (3) một tỷ trọng lớn vốn đầu tư nước ngoài vào nước sở tại là vốn đầu tư ngắn hạn; (4) nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng mang vốn ngoại tệ ra nước ngoài; (5) ngân hàng trung ương kiên định thái quá vào việc bảo vệ cơ chế neo tỷ giá chặt chẽ (hầu như cố định) bằng mọi giá.
    Nếu không thỏa mãn được những điều kiện này thì hoặc là nhà đầu cơ không vay được nội tệ để thực hiện đòn tấn công ?otay không bắt giặc?, hoặc là họ vay được nội tệ nhưng cho dù tỷ giá có bị thả nổi chăng nữa nhưng nhà đầu tư và cả đầu cơ không thể mang USD ra ngoài lãnh thổ nước sở tại nên sẽ không tạo ra được vòng xoáy trôn ốc nói trên và làm mất đi động cơ tấn công đầu cơ là để kiếm chênh lệch USD mang lại từ hành động đi vay và hành động mua USD ở nước sở tại.
    Rất may cho Việt Nam là hiện nay tất cả những điều kiện trên đều không tồn tại. Với tình trạng khan hiếm VND như hiện nay và việc thắt chặt cho vay, hầu như không một nhà đầu cơ tiền tệ nào có thể vay nổi VND từ hệ thống ngân hàng (có lẽ trừ khi họ vạch ra những dự án sản xuất kinh doanh ?oma? nào đó để thuyết phục ngân hàng cho vay, nhưng dẫu vậy thì khả năng thành công cũng rất thấp). Việc mua USD từ hệ thống ngân hàng cũng đã bị thắt chặt, và họ chỉ mua được trừ khi chứng minh được mục đích hợp pháp theo quy định quản lý ngoại hội hiện hành (tất nhiên không có mục đích dành cho đầu cơ). Thậm chí trong tình hình cung cầu ngoại tệ căng thẳng như thế này thì việc mua được USD từ hệ thống ngân hàng cũng không đơn giản. Còn việc chuyển vốn ngoại tệ ra nước ngoài thì càng gian nan hơn với nhiều quy định và thủ tục nhằm chứng minh nguồn gốc của khoản ngoại tệ và mục đích chuyển ra nước ngoài. Thêm nữa, phần lớn nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam hiện nay là nhà đầu tư dài hạn (FDI) nên động cơ tháo chạy của họ không mạnh bằng của những nhà đầu tư ngắn hạn. Và cuối cùng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không có ý định cố định tỷ giá, và luôn tuyên bố (cũng như trên thực tế có làm như vậy) một cơ chế tỷ giá linh hoạt. Tất cả những yếu tố này hoặc là làm nản lòng nhà đầu cơ tiền tệ, hoặc là ngăn họ không thể thực hiện được hành động tấn công mang tính đầu cơ tại Việt Nam.
    Như vậy, có thể kết luận lại rằng hành động tấn công mang tính đầu cơ ?" vốn là nguồn gốc gây ra khủng hoảng tài chính ở khu vực và các nơi khác trên thế giới ?" không có điều kiện xảy ra ở Việt Nam, ít nhất là trong bối cảnh hiện tại. Cảnh báo sớm, nếu đúng, là một điều tốt để cho các cơ quan quản lý chức năng nhận thức rõ hơn nguy cơ để từ đó có biện pháp phòng bị. Nhưng cảnh báo, nhất là đưa ra công khai trên báo chí, dựa trên nhận thức mang tính sách vở, hời hợt, chủ quan, và phiến diện thì chỉ có tác dụng hà hơi thêm cho tình trạng rối ren của nền kinh tế, và có khi chính vì thế đẩy nền kinh tế rơi vào khủng hoảng.

    http://www.nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/3/ContentID/42038/Default.aspx
  2. nhathuoconline

    nhathuoconline Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    30/05/2006
    Đã được thích:
    0
    Ko có hay chưa có, hay cơ hôik là bao nhiu % . Chứ ngày xưa kiểu mua là thắng như thế đã đủ giết chít em roài
  3. ycat

    ycat Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    30/08/2004
    Đã được thích:
    0
    Không tấn công thì lợi dụng, cùng là động từ cả thôi.
  4. vepodo

    vepodo Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    03/06/2008
    Đã được thích:
    0
    Trên Vietnamnet vừa đăng 1 bài của WB về VN đây này:

    http://www.tuanvietnam.net//vn/sukiennonghomnay/3901/index.aspx

    WB: VN không có thành tố của khủng hoảng tài chính 03/06/2008 07:37 (GMT + 7)
    Quyền Giám đốc, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Martin Rama cho rằng, VN không có thành tố của một khủng hoảng tài chính như Thái Lan năm 1997. Chính phủ cần giải thích rõ chính sách cho dân để tái thiết lòng tin.
    Vấn đề lòng tin được kinh tế gia trưởng, quyền Giám đốc quốc gia của WB tại Việt Nam, Martin Rama nhắc đi nhắc lại trong tình hình kinh tế VN hiện nay. Theo ông, để tái thiết niềm tin, cần có chính sách đúng và thường xuyên đối thoại, giải thích chính sách...

    Kinh tế gia trưởng của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam Martin Rama.

    - Vừa qua, một loạt ngân hàng JP Morgan, Merrill Lynch, Morgan Stanley... công bố báo cáo đánh giá tiêu cực về tình hình kinh tế VN, xem VN là ví dụ cho điều hành kém sau khi đã đạt thành công. Là một kinh tế gia sống ở VN và hiểu VN, ông nhìn nhận như thế nào về những đánh giá này?

    Martin Rama: Một điều rõ ràng là kinh tế VN đang trong giai đoạn khó khăn. Nhưng một điều khác cũng rõ ràng là, trong nhiều trường hợp, các đánh giá trên là cường điệu hóa.

    Tôi thấy, trong cách nhìn của cộng đồng DN về VN, nếu vài tháng trước VN là "con cưng", hình mẫu thành công (poster child) thì hiện nay, VN là hình mẫu của những rắc rối (problem child). Có thể cả 2 đánh giá này đều bị cường điệu hóa.

    Chúng ta đều thấy vấn đề. Đến thời điểm này, Chính phủ VN đã đưa ra những tuyên bố đúng đắn, nhưng vẫn còn quá sớm để nói rằng những động thái chuyển động đã hoàn toàn theo đúng hướng hay chưa. Vấn đề nằm ở việc triển khai thực hiện.

    Các ngân hàng như Morgan Stanley, Merrill Lynch hay JP Morgan đã tô đậm hình ảnh Việt Nam quá mức vào năm ngoái để rồi năm nay đưa ra đánh giá ảm đạm.

    Họ từng nói về một Việt Nam như con hổ mới Á châu, sự kỳ diệu mới trong phát triển kinh tế châu Á, tức là tựa như tâm lý tuổi mới lớn, lúc thì yêu hết mình, lúc thì chỉ như muốn tự vẫn ngay lập tức. - Jonathan Pincuss, kinh tế gia trưởng của UNDP tại VN nói.

    Theo tôi, Chính phủ phải làm hai việc: Một là, phải xác định rõ và triển khai mạnh chính sách cũng như thông tin đầy đủ về những gì họ đang làm, từ đó giúp mọi người không bị lúng túng và băn khoăn.

    Mặt khác họ phải thông tin để cộng đồng DN bình tĩnh, và giúp DN hiểu rằng các yếu tố nền tảng của nền kinh tế vẫn rất vững mạnh.

    Không có khủng hoảng tiền tệ như Thái Lan 1997

    - Nhiều người đã đặt ra nghi vấn về khả năng một cuộc khủng hoảng tiền tệ ở VN như từng xảy ra ở Thái Lan năm 1997. Ý kiến của ông?

    Tôi nghĩ là không.

    Có một số yếu tố dẫn đến những đánh giá về khả năng có thể khủng hoảng. Thứ nhất là đầu cơ ngắn hạn và tỉ giá đồng đô la thay đổi. Thứ hai là kỳ vọng tiền đồng sẽ mất giá. Thực tế không phải như vậy. Chính phủ VN vẫn muốn giữ tỉ giá tiền đô la. Cách đây vài tháng thì Ngân hàng Nhà nước VN lúc đó mua một lượng lớn đô la nhằm giữ giá cho tiền đồng.

    Từ đó đến nay có nhiều yếu tố đã thay đổi. Lượng vốn ngắn hạn đã ít đi, ít người đầu tư đô la vào TTCK hơn. Thứ hai là lạm phát tăng cao. Nên nếu lấy tỉ giá là 16,000 nếu bạn so với lạm phát thì rõ ràng là tỉ giá đáng lẽ phải cao hơn số đó. Vì vậy, tiền đồng Việt Nam đang lên giá nếu chúng ta so sánh với mặt bằng chung.

    Đây là áp lực làm cho tiền đồng lên giá một cách tự nhiên, vì vậy chúng tôi không thấy những yếu tố của cuộc khủng hoảng tiền tệ.

    Nhưng không phải nói thế là nền kinh tế VN không có vấn đề và chúng ta đang giải quyết nó. Nhưng chúng tôi không thấy có dấu hiệu của cuộc khủng hoảng tiền tệ.

    - Những báo cáo tiêu cực của các tổ chức quốc tế sẽ tác động như thế nào đến kinh tế VN?

    Chắc chắn dư luận sẽ tác động ngắn hạn lên nền kinh tế. VN sẽ nhận được ít hơn nhiều những dòng đầu tư ngắn hạn vào TTCK, BĐS. Những dòng vốn dạng này sẽ nằm chờ đợi. VN có thể sẽ gặp khó khăn do thiếu hụt nguồn vốn này để bổ sung cho thâm hụt ngân sách.

    Tuy nhiên, không nên làm mất lòng tin của các nhà đầu tư dài hạn, do nó liên quan đến lòng tin vào sức mạnh nội tại lâu dài của nền kinh tế. Một khi nhà đầu tư tin tưởng vào khả năng đối phó tốt, dòng vốn sẽ không chảy ra. Duy trì đầu tư lâu dài vào VN phải là một ưu tiên của chính phủ.

    Không thể đổ lỗi cho ai

    - Theo ông, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế và báo giới không, khi trước đây dành quá nhiều lời khen, khiến Chính phủ VN chủ quan, không nhìn nhận đúng thực tế, từ đó thất bại trong quản lý vĩ mô?

    Tôi không nghĩ nên đổ lỗi cho ai cả. Cộng đồng DN làm việc của DN, đó là nỗ lực kiếm lợi nhuận, và chúng ta không thể đổ lỗi cho họ.

    Vấn đề hiện đang xảy ra với quy mô lớn, trong một nền kinh tế đã hội nhập sâu vào kinh tế thế giới về thương mại, nhưng lại chưa hội nhập sâu rộng trong vấn đề tài chính.

    Việt Nam phải đối mặt với những yếu tố chưa gặp bao giờ, như năm ngoái lượng vốn FDI cam kết lên tới 20 tỉ USD trong khi GDP chỉ khoảng 70 tỉ. Rất khó để quản lý, cho dù NHNN có mạnh đến đâu, Bộ Tài chính có mạnh đến đâu. VN tiếp tục đưa ra những chính sách kinh tế chỉ phù hợp với nền kinh tế có lượng vốn nhỏ, và không quá phức tạp. Nền kinh tế này cần thời gian để điều chỉnh thích ứng.

    Chính phủ cũng cần hiểu rằng, giống như cách cộng đồng DN mang tiền vào nhanh chóng, họ cũng có thể rút tiền đi một cách nhanh chóng như vậy. Chính phủ phải truyền thông rõ để mọi người hiểu Chính phủ đang làm những gì, chiến lược phát triển chính sách tài khoá, tiền tệ... ra sao trong cải cách lâu dài. Nếu tình hình tốt, các nhà đầu tư sẽ trở lại.

    - Nghĩa là, theo ông, hiện nay nhà đầu tư đã mất lòng tin vào VN?

    Có thể nói, đã xuất hiện sự lo lắng vốn không có trước đây. Trong quá khứ, mọi người đều lạc quan, đều xem VN là con hổ tiếp theo của châu Á, còn hiện nay, tình hình có những lo lắng.

    Hôm trước có nhà báo hỏi tôi rằng vậy có phải Việt Nam chỉ là con mèo hay không? Tôi nghĩ rằng cả hai đều là hơi quá. Những nhân tố cơ bản lâu dài vẫn còn rất mạnh ở đất nước này.

    Tuy nhiên cũng còn nhiều vấn đề. Đó là các vấn đề của kinh tế hội nhập, một số chính sách chưa kịp thích ứng. VN chưa có ngân hàng trung ương đủ mạnh, và đang phải vấn đề trong tái cơ cấu khu vực kinh tế nhà nước...

    Còn nhiều việc phải tiến hành. Nhưng chúng ta đều hiểu rằng, không có việc gì có thể tạo bước chuyển ngay lập tức. Điều Chính phủ cần làm là chỉ rõ họ đang làm điều đúng đắn một cách vững chắc.

    Tái thiết lòng tin

    - Vậy vấn đề nghiêm trọng nhất đối với kinh tế VN tại thời điểm này mà Chính phủ cần ưu tiên giải quyết là gì?

    Một là, Chính phủ phải tái thiết lòng tin rằng tình hình đang trong tầm kiểm soát. Để xây dựng lòng tin, Chính phủ phải làm một số việc, trong đó có những việc đã bắt đầu làm. Chính phủ phải có nhiều chính sách tạo khả năng thích ứng tốt hơn như đối với tín dụng, đối với chi tiêu công... vì nếu chỉ áp dụng chính sách thắt chặt tín dụng thì mọi áp lực sẽ đổ lên lãi suất. Cần phải chuyển áp lực sang những chỗ khác nữa.

    "Nền kinh tế hội nhập, dòng tiền lớn đổ vào VN trong khi nền kinh tế chưa kịp thích ứng"

    Chính phủ cần ra thông báo danh sách những dự án đầu tư công nào cần phải dừng lại, hoãn trong mấy tháng, và phải làm càng sớm càng tốt, để giảm áp lực lên việc thắt chặt tín dụng.

    Cũng cần tạo sự thích ứng trong chính sách tài khóa. Có những ngân hàng cổ phần nhỏ hiện cho vay quá nhiều mà không quản lý. Cần có biện pháp quản lý để họ có thanh khoản, để người gửi tiền yên tâm về khoản tiền của họ trong ngân hàng. Như vậy chính phủ cần làm ba việc.

    Tóm lại, một mặt, Chính phủ tiếp tục các chính sách hiện nay, mặt khác, đẩy mạnh các chính sách tài chính và có biện pháp nâng tính thanh khoản của ngân hàng, thường xuyên trao đổi với người dân. Khi đó, lòng tin sẽ trở lại.

    Ổn định phải là ưu tiên hàng đầu

    - Nhiều người cho rằng, VN nên xem tình hình hiện nay là cơ hội để cải cách mạnh mẽ cơ cấu kinh tế. Ông có đồng tình với quan điểm này?

    VN vẫn đang tiến hành nhiều cải cách cơ cấu: xây dựng một Ngân hàng trung ương đủ mạnh, cải cách khu vực DN nhà nước... Một bài học VN cần rút ra trong quá trình điều chỉnh, đó là, mặc dù khủng hoảng tạo động lực cho cải cách, nhưng cũng đúng khi nói rằng, cố gắng triển khai cải cách trong khi kinh tế vĩ mô không ổn định không phải là một ý kiến hay.

    Ưu tiên hàng đầu phải là giữ và duy trì ổn định, mà trước hết là ổn định thị trường tài chính, tín dụng. Nếu làm được điều này thì phải tiếp tục tiến trình cải cách trong dài hạn.

    - Duy trì ổn định tình hình trong bối cảnh lòng tin suy giảm như ông nói, không phải là chuyện đơn giản. Ông tư vấn gì để VN sớm khôi phục lòng tin?

    Không chỉ đưa ra chính sách đúng, CP phải trao đổi rõ ràng với người dân, đại diện DN về những việc CP đang làm, và những con số thực tế, để mọi người không cần phải phỏng đoán, suy luận về việc CP có tiền cho việc này hay không, có cắt giảm dự án này hay không.

    Một việc nên được xem là ưu tiên, không thể trì hoãn là công bố các dự án đầu tư công bị cắt giảm. Có vẻ như CP dự kiến sẽ công bố vào tháng 7, nhưng không có lí do gì để buộc DN và người dân đợi tới tháng 7.

    Đối với những báo cáo tiêu cực, CP nên chủ động trao đổi để chỉ rõ, tại sao lại nói những báo cáo này chưa chính xác, giải thích để báo giới hiểu rằng những đánh giá đó có thể sai. Đồng thời, CP cung cấp và làm rõ các chỉ số kinh tế.

    Tháng 5 thực sự là một tháng tồi tệ với giá tiêu dùng tăng cao. Trong vài tháng tới, CP phải làm cho làm phát có xu hướng đi xuống, tỏ rõ quyết tâm và thường xuyên trao đổi với DN, người dân. Có thể phải vài tháng thì tình hình mới tốt hơn, lạm phát giảm, và người dân có thể tiếp tục tin tưởng vào quyết tâm và thiện chí của CP.

    Đảm bảo cạnh tranh là cách tốt nhất để người sản xuất hưởng lợi

    - Lạm phát và kinh tế khó khăn là nỗi ám ảnh với từng người dân, khi đời sống của họ chịu tác động hằng ngày. Ông có tư vấn chính sách gì cho CP để hỗ trợ người dân, nhất là người nghèo đảm bảo cuộc sống?

    Đây là một vấn đề phức tạp. Tình hình hiện nay tác động khác nhau lên mỗi đối tượng. Ví dụ, năm 2008, giá gạo đã tăng lên 80%. Đó là một tin xấu đối với bất kì ai mua gạo, nhưng lại rất tốt đối với người sản xuất gạo. Có kẻ thắng và người thua trong nền kinh tế.

    VN là nước xuất khẩu lương thực. Như vậy giá lương thực tăng cao sẽ tốt cho VN, nhưng điều này không đúng với tất cả mọi người. Những người dân đô thị không sản xuất lương thực nhưng tiêu dùng lương thực sẽ gặp khó khăn lớn.

    Sẽ rất khó để đưa ra một công cụ riêng rẽ nào để giải quyết vấn đề. Nhưng chúng tôi hy vọng có cơ hội thảo luận những khuyến nghị cụ thể. Chúng tôi đánh giá cao một số chương trình đã được triển khai để hỗ trợ người nghèo, can dự vào các dịch vụ, đóng góp vào việc tạo dựng an sinh xã hội bền vững cho người nghèo, tăng học bổng cho sinh viên, học sinh nghèo... Những biện pháp này có thể giúp phần nào, nhưng VN cần làm nhiều hơn thế nữa.

    - Liên quan đến chuyện giá gạo, thực tế ở VN, chỉ có những DN "đại gia" được lợi từ giá gạo tăng, trong khi người nông dân không được hưởng lợi nhiều?

    Đây cũng là vấn đề rất phức tạp. Giá gạo cao, nhưng chi phí vận chuyển, phân bón cũng tăng cao. Đây là về chi phí, do lạm phát, giá cả các mặt hàng đều tăng. Hai là, có nhiều mức giá khác nhau: giá trên thị trường quốc tế, giá bán trong siêu thị, giá mua vào từ nông dân... Mức giá thay đổi khác nhau ở các khu vực khác nhau.

    Trong nhiều trường hợp, cạnh tranh sẽ giúp cân bằng giá cả. Ở Việt Nam, một số mặt hàng giá chuyển động theo đường sin. Một số trường hợp khác thì có các chính sách cụ thể, như hạn chế xuất khẩu để tách giá trong nước khỏi giá quốc tế.

    Tình hình thế giới đã khác nhiều so với vài năm trước. Lạm phát không phải là vấn đề của riêng VN. Giá dầu, giá gạo thế giới đều tăng... Ngay cả khi không có chuyện gì xảy ra đối với chính sách kinh tế của VN, thì năm 2008 cũng là năm khó khăn hơn 2007.

    Khi hết thời hạn giữ bình ổn giá các mặt hàng vào tháng 6 tới, VN cần phải làm gì để giữ giá các mặt hàng? Chúng ta thấy có những vấn đề là nội tại, nhưng có những vấn đề nằm ngoài tầm kiểm soát trong nước và sẽ luôn luôn làm phức tạp hóa tình hình. Chúng ta phải hiểu điều đó.

    Cho dù có quản lý tốt thế nào thì giá lương thực, giá xăng dầu vẫn tăng. Không thể trốn thực tế đó được.

    - Vai trò của CP như thế nào trong việc đảm bảo người sản xuất được hưởng lợi từ việc giá tăng?

    Đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh. Không nên để các đối tượng trung gian là người hưởng lợi.

    - Đảm bảo sự cạnh tranh bằng cách nào, thưa ông?

    Phản ứng của Chính phủ vào thời điểm sốt gạo vừa qua là một ví dụ tốt, đã giúp giá gạo giảm xuống chỉ sau 48 giờ. Nhưng nó cũng cho thấy là tình huống đã khó khăn và nguy hiểm hơn nhiều. Tôi hi vọng rằng một lần nữa, chính quyền sẽ làm điều đúng đắn, và người dân không mất đi sự kiên nhẫn và biết rằng những yếu tố cơ bản của nền kinh tế VN vẫn còn rất mạnh.
  5. diendienkhungkhung

    diendienkhungkhung Thành viên gắn bó với f319.com Not Official

    Tham gia ngày:
    28/07/2006
    Đã được thích:
    515
    Tất nhiên là 1 cuộc tấn công như kịch bản trên thì chưa chắc đã xảy ra.
    Nếu xảy ra 1 cuộc tấn công với kịch bản khác thì sao? Có ai dám chắc là kô có bất kỳ 1 kịch bản tấn công nào khác.
  6. futureprecedor

    futureprecedor Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/05/2006
    Đã được thích:
    467
  7. damcamau

    damcamau Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    28/05/2008
    Đã được thích:
    0
    - Không đề cập đến lượng VND đang được sở hữu bởi các tổ chức khác, số lượng này chắc cũng không nhỏ nếu so sánh với thực lực của VN.
    - Tác giả cứ tưởng ở VN là quản lý ngoại hối tiền tệ chặt, chắc tác giả nghĩ là ở nước ngoài họ ngu hết, ở đâu cho vay mà chả cần lý do, ở nước nào chuyển tiền ra ngoài không được kiểm soát chặt chẽ chắc?
  8. dbp

    dbp Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    25/09/2003
    Đã được thích:
    0
    Cần gì nước ngoài tấn công mới sập?
    Tham nhũng mafia tấn công mà không sập được à???
  9. Vvuvant

    Vvuvant Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    05/06/2008
    Đã được thích:
    0
    Có thực sự ngân hàng và doanh nghiệp đều bị lỗ? 10:15'' 05/06/2008 (GMT+7)
    - Doanh nghiệp kêu khổ vì lãi suất tín dụng, còn ngân hàng than thở về lãi suất huy động. Còn các chuyên gia thì cho rằng nhiều khi nhân khó khăn, các đơn vị kinh doanh lại tranh thủ kêu ca.

    Tất cả đều kêu lỗ, kêu khổ!

    Một chủ DN chế biến nước chấm ở quận 6, TP.HCM, cho biết ông dự định vay ngân hàng 5 tỷ đồng mở mang cơ xưởng. Tuy nhiên sau khi lãi suất tín dụng của ngân hàng lên quá cao, ông đã dừng việc đầu tư lại.

    Hầu như tất cả các DN đều kêu ca, cho rằng với mức lãi suất ngân hàng 18%, cộng với các khoản phí, đã lên tới 25%. DN làm ăn có lãi đến 30% là cao. Như vậy sau khi trả lãi ngân hàng chẳng còn gì đáng kể.

    Trong khi đó, các ngân hàng cũng cho rằng không còn lời lãi. ?oNgân hàng huy động vào 15-16%, phải gánh cho khoản bảo hiểm tiền gửi, dự trữ bắt buộc? nên cho vay 18% chắc chắn là lỗ. Vì vậy khoản phí thu thêm từ khách hàng nhằm bù đắp vào những khoản mà trước kia trả từ khoản lãi từ chênh lệch lãi suất? - TGĐ một ngân hàng có lãi suất thuộc tốp cao cho biết.

    Doanh nghiệp và ngân hàng đều kêu lỗ. Ảnh: Đặng Vỹ

    Doanh nghiệp có thực sự lỗ?

    Tuy nhiên theo khá nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, nguyên tắc phải so sánh chi phí lãi vay với giá vốn hàng bán, chứ không thể so sánh với lợi nhuận của DN.

    Lấy ví dụ như Công ty cổ phần Đường Biên Hòa, theo báo cáo tài chính 2007 thì tỉ lệ chi phí tài chính trên giá vốn hàng bán chỉ là 4,02%. Cứ cho rằng năm 2007 lãi suất vay là 12-13%/năm, và cơ cấu vốn vay trên vốn chủ sở hữu năm nay không thay đổi thì năm 2008 về lý thuyết chi phí tài chính chỉ tăng lên 4,02% nữa. Với mức tăng lên này, các chuyên gia cho rằng không phải là chi phí quá lớn.

    Có những đơn vị như Công ty Nông dược 2, tỷ lệ chi phí lãi vay trên giá vốn hàng bán chỉ là 1,78%. Nếu năm 2008 lãi suất tín dụng tăng gấp đôi thì về lý thuyết, chi phí tài chính chỉ tăng lên 1,78% nữa trong giá thành sản phẩm.

    Các chuyên gia cho rằng không thể làm phép trừ giữa lợi nhuận từ SXKD và lãi vay ngân hàng để cho rằng không có lãi. Lấy ví dụ bài toán giả sử DN có cơ cấu vốn tự có 50 triệu đồng, vốn vay ngân hàng 50 triệu đồng, lợi nhuận trước lãi và thuế trong năm là 30 triệu đồng, lãi suất vay ngân hàng là 25% (bao gồm cả các loại phí). Vậy DN chỉ trả lãi ngân hàng là 12,5 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí lãi vay, lợi nhuận trước thuế của DN sẽ là 17,75 triệu đồng chứ không phải là 5 triệu đồng.

    Trừ tiếp đi thuế thu nhập DN 28% là 4,9 triệu đồng, khoản lãi còn lại của DN là 12,6 triệu đồng. Như vậy tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 25,2%. Tỷ lệ lợi nhuận này không phải là nhỏ.

    Ngân hàng kêu lỗ là phi lý!

    Cũng có ý kiến cho rằng ngân hàng kêu lãi suất huy động đến 16% như hiện nay bị lỗ là chưa chắc đã là trung thực. ?oCòn nhiều khoản ngân hàng huy động với chi phí thấp nhưng đã không đưa ra? - một chuyên gia tài chính ngân hàng nói.

    Theo đó, mức huy động 16% hiện nay mà ngân hàng đưa ra để ?okêu? chỉ là mức cao nhất, trong khi đó trong ngân hàng còn có các khoản huy động với chi phí rất thấp, như tiền gửi thanh toán, tiền gửi tài khoản ATM có mức lãi suất không kỳ hạn... Đó là chưa kể có những khoản như tiền chuyển giữa các khách hàng, chênh lệch giữa thời điểm gửi và nhận cũng là khoảng thời gian ngân hàng được giữ tiền mà không trả lãi.

    ?oVề nguyên tắc tính vốn là phải tính chi phí bình quân, chứ không thể đưa ra mức cao nhất rồi kêu ca là đắt đỏ? - chuyên gia này nói.

    Thời điểm thanh lọc

    Theo các chuyên gia, vì vậy, nếu DN và ngân hàng cứ nói rằng SXKD không có lãi nữa, bị thua lỗ, là thông tin chưa chắc đúng. ?oNó chỉ đúng trong trường hợp DN và ngân hàng kinh doanh kém hiệu quả? - một chuyên gia nói.

    Ông nói rằng hình như các DN và ngân hàng tranh thủ kêu được gì thì kêu, chứ thực tế không chắc là quá đỗi khó khăn.

    ?oDĩ nhiên là DN và ngân hàng có khó khăn hơn trước đây. Nhưng trong bối cảnh cả nước khó khăn, mỗi người phải ghé vào vào gánh bớt một chút, chia sẻ với nhau. Không nên nhân cơ hội để kêu ca đòi thêm cái này cái khác? - tiến sĩ Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa QTKD trường ĐHNH TP.HCM, nói..

    Tiến sĩ Dương nói rằng đây là lúc DN làm ăn tốt hay kém đều sẽ phải bộc lộ, và đây là thời điểm để thanh lọc.

    ?oDN nào, kể cả ngân hàng, làm ăn kém thì phải giải thể, để thị trường còn lại những người đủ khả năng. Đó là điều cũng rất cần thiết?.
  10. virgo79

    virgo79 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    27/10/2006
    Đã được thích:
    0
    Chỉ cần lạm phát tăng đến 39% thì cũng đủ tèo rồi, không cần tấn công tiền tệ gì. Hiện nay những gì VN phải hứng chịu cũng là tự ta gây ra chứ có phải ai tấn công gì đâu. Không cần lo sợ quá nhưng cũng phải nhìn vào thực tế mà phòng bị là vừa.

Chia sẻ trang này