Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và bóng ma khủng hoảng của CNTB. Đâu là sự thật?

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi TigerStock, 27/02/2009.

1317 người đang online, trong đó có 527 thành viên. 18:02 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1932 lượt đọc và 8 bài trả lời
  1. TigerStock

    TigerStock Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    02/01/2007
    Đã được thích:
    3
    Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và bóng ma khủng hoảng của CNTB. Đâu là sự thật?

    Nguồn vốn xã hội?
    Nguồn vốn cá nhân ?
    Vốn tài chính?
    Vốn thiên nhiên?
    Vốn cơ sở hạ tầng?

    Ở VN chúng ta nên lê phụng hiểu các yếu tố này ntn?

    Mời các bác cùng thảo luận.

    Nguyên nhân của các thời kỳ suy thoái ở Mỹ là bởi quản lý tiền tệ yếu kém. Thế còn ở VN?

    Mahatma Gandhi: ?oTư bản, tự thân nó không phải là tội lỗi; sử dụng sai trái nó mới là tội lỗi. Tư bản dù ở bất kỳ dạng nào cũng cần thiết.?
  2. TigerStock

    TigerStock Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    02/01/2007
    Đã được thích:
    3
    Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ). Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉ gồm hai pha chính là suy thoái và hưng thịnh (hay mở rộng)

    Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái.
    Phục hồi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái. Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế.
    Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh (hay còn gọi là pha bùng nổ). Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế.
    Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế khi nền kinh tế đã sang pha tiếp sau điểm ngoặt với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế đổi chiều giữa mức âm và mức dương. Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố tìm cách nhận biết dấu hiệu của suy thoái vì nó tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội. Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
    Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút.
    Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
    Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái.
    Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh. Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái.
    Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại.

    Trước đây, một chu kỳ kinh doanh thường được cho là có bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp tràn lan, các nhà máy đóng cửa hàng loạt, v.v? không xảy ra nữa.

    Ngày nay, quan sát các chu kỳ kinh tế ở các nền kinh tế công nghiệp phát triển, người ta phát hiện ra hiện tượng pha suy thoái càng ngày càng ngắn về thời gian và nhẹ về mức độ thu hẹp của GDP thực tế. Một trong những nguyên nhân quan trọng là chính phủ các nước này đã hiểu biết và vận dụng tốt hơn những hiểu biết về kinh tế vĩ mô. Bằng cách kết hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, nhà nước có thể ngăn chặn một cuộc suy thoái biến thành khủng hoảng.

    Kinh tế chính trị Marx-Lenin cho rằng một chu kỳ kinh tế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gồm bốn pha là: khủng hoảng, như hiện nay, phục hồi và hưng thịnh. hê hê
  3. WBuffett

    WBuffett Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    07/10/2008
    Đã được thích:
    0
    Mới học kinh tế chính trị à ?
  4. TigerStock

    TigerStock Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    02/01/2007
    Đã được thích:
    3
    Nhớ lại thủa hàn vi. hihi
  5. WBuffett

    WBuffett Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    07/10/2008
    Đã được thích:
    0
    Học mà không chịu hành thì khó mà ngấm được lắm !
  6. TigerStock

    TigerStock Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    02/01/2007
    Đã được thích:
    3
    học toàn điểm kém thì hành toàn răm thôi.
  7. TigerStock

    TigerStock Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    02/01/2007
    Đã được thích:
    3
    Những khủng hoảng gần đây đều do đạo đức. Lòng tham đã tạo ra những hành động phi đạo đức, dẫn đến khủng hoảng.

    Xét lại luận điểm thị trường không hoàn hảo

    Gần đây, trong giới học thuật tài chính và giới kinh doanh thực tiễn, người ta đã nghiêm túc xem xét lại luận điểm về thị trường không hoàn hảo trong các vấn đề định giá. Hiểu một cách nào đó, thị trường hoàn hảo là thị trường trong đó người ta có thể bắt chước (replicate) bất kỳ một chiến lược mua bán nào, sản phẩm nào (quyền chọn, cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán từ nợ dưới chuẩn...) từ những sản phẩm cơ bản khác. Bỏ qua các yếu tố kỹ thuật, điều này có nghĩa là gì? Nó có nghĩa người ta có thể phòng ngừa bất kỳ loại rủi ro nào trong tương lai. Ít nhất, trong nhiều mô hình tài chính và bảo hiểm, đây là ý tưởng căn bản về một mô hình của thị trường hoàn hảo.

    Đây là luận điểm không mới và cũng không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là những mô hình tài chính được ứng dụng, vốn tưởng chừng cách xa các mô hình trong sách giáo khoa, cũng bằng cách này hay cách khác, vô tình hay cố ý, dựa trên những giải pháp trong đó giả định rằng tồn tại một thế giới mà trong đó người ta trung lập với rủi ro (risk neutral world), một thế giới mà các rủi ro có thể phòng ngừa được (hedgable).

    Với việc giả định những điều trên, người ta chấp thuận một phần nào khái niệm thị trường là hoàn hảo (complete market), nói nôm na, là có đủ ?ođồ chơi? để phòng ngừa rủi ro. Trong một hội thảo gần đây ở London, người ta đã tranh cãi khá nhiều về chuyện một số mô hình tưởng chừng không giả thiết rằng thị trường là hoàn hảo, cuối cùng lại dùng những kỹ thuật tài chính để giải quyết vấn đề mà cuối cùng kỹ thuật đó lại thừa nhận thị trường là hoàn hảo ở một khía cạnh nào đó.

    Cụ thể, các giải pháp này giả định rằng tất cả rủi ro có thể được phòng ngừa và nếu xuất hiện một cơ hội kiếm tiền mà không có rủi ro, thì cơ hội đó sẽ nhanh chóng mất đi (người ta thường gọi đây là giả định no arbitrage trong một thị trường hiệu quả). Nói cách khác, nhiều người làm tài chính đang giả định thị trường là hoàn hảo ở một khía cạnh nào đó trong cách tác nghiệp của mình, cho dù họ không thực sự tin thị trường là hoàn hảo.

    Điều này có ý nghĩa gì? Câu trả lời là nó làm trầm trọng tình hình khủng hoảng. Nói cách khác, thị trường không có khả năng tự sửa chữa sai lầm hay tự bảo vệ mình khi nó phát hiện ra đã có điều gì đó không ổn diễn ra.

    Có những rủi ro không thể (hay đúng ra là chưa thể) phòng ngừa được một cách thích hợp nhưng được giả định đã được phòng ngừa tốt. Ví dụ, rủi ro đối tác nhận phòng ngừa rủi ro phá sản, rủi ro của những sản phẩm phái sinh từ các khoản nợ dưới chuẩn, và rủi ro thị trường mất thanh khoản đột ngột...

    Bình thường, các rủi ro này xuất hiện thì mọi chuyện sóng yên, biển lặng, các chuyên gia về kỹ thuật tài chính (financial engineering) kiếm các khoản lương và thưởng 5, 6 con số; những chuyên gia về chứng khoán phát sinh từ nợ dưới chuẩn thì tha hồ kiếm hoa hồng từ việc bán các sản phẩm này. Đến khi xuất hiện một yếu tố gây sụp đổ một phần trong hệ thống tài chính, người ta mới giật mình nhận ra những cái gọi là phòng ngừa rủi ro hoàn toàn thất bại, và góp phần vào việc tạo ra khủng hoảng dây chuyền. Những ý tưởng này phần nào được Stiglitz, Taleb và nhiều học giả khác thừa nhận hay cảnh báo từ lâu. Nhưng ngành bảo hiểm và các sản phẩm phái sinh mới ra đời đã phớt lờ cảnh báo đó.

    Thị trường không hoàn hảo và yếu tố con người: thị trường sẽ mắc sai lầm

    Tuy nhiên, nếu các rủi ro thị trường không thể phòng ngừa được ở trên chỉ là yếu tố làm trầm trọng khủng hoảng, chứng tỏ là thị trường không thể tự sửa chữa sai lầm của mình, thì nó cũng không nhất định gây ra khủng hoảng. Nếu thị trường không mắc sai lầm thì sẽ không cần phải sửa chữa. Vấn đề là thị trường đã thực sự sai lầm. Khủng hoảng đến từ một yếu tố khác: yếu tố con người.

    Có nhiều luận điểm khác nhau để chỉ ra vì sao thị trường là sai lầm, nói cách khác, giá sản phẩm tài chính (giá cổ phiếu, trái phiếu, giá bất động sản, giá sản phẩm phát sinh từ nợ dưới chuẩn...) đều không đúng nữa vào thời điểm trước khủng hoảng. Những cơn sốt giá, và những đợt sụp đổ, là do những chủ thể tham gia thị trường đã đẩy thị trường đến những mức giá ?okhông đúng?. Điều này phá vỡ luận điểm của trường phái tin rằng thị trường sẽ luôn tự điều chỉnh về mức giá cân bằng và mức giá này ?ođúng?.

    Con người mắc sai lầm, và do đó thị trường mắc sai lầm. Và sau đó các định chế thị trường, các cơ chế phòng ngừa rủi ro, những thiết kế không hoàn hảo như người ta tưởng, đã không đủ sức sửa chữa một vài sai lầm ban đầu. Kết quả, chúng ta đối diện khủng hoảng tài chính.

    Hành vi phi đạo đức gây khủng hoảng

    Có nhiều trường phái mới nổi lên giải thích vì sao giá thị trường không đúng, vì sao thị trường vẫn có những cơ hội kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage opportunities) tồn tại lâu dài, vì sao tạo ra bong bóng và sụp đổ... trong đó viện dẫn nhiều nguyên nhân về bất cân xứng thông tin, về nhà đầu tư không hợp lý (trường phái tài chính hành vi mới nổi gần đây), về việc có nhiều loại các nhà đầu tư khác nhau, về thị trường hợp lý tối thiểu... Tuy nhiên, tìm kiếm đâu đó trong các lý thuyết này, trực tiếp hay gián tiếp, người ta ngụ ý rằng, tồn tại sự lừa gạt lẫn nhau, che giấu thông tin trên thị trường. Đó là vấn đề đạo đức, và là mầm mống căn bản của khủng hoảng.

    Giám đốc công ty phù phép số liệu lợi nhuận, thổi phồng giá cổ phiếu. Tổ chức tài chính bất chấp rủi ro, cứ bán sản phẩm phát sinh từ nợ dưới chuẩn vô tội vạ. Công ty xếp hạng tín nhiệm lại không biết vì động cơ gì, xếp hạng những loại chứng khoán từ nợ dưới chuẩn thuộc loại rất an toàn. Và giám đốc quỹ đầu tư không cần biết là giá của các loại chứng khoán này có bất hợp lý không, cứ thấy nó đang kiếm ra tiền là mua. Ngân hàng thương mại thoải mái chiêu dụ khách hàng không đủ điểm tín dụng đi vay mua nhà. Và còn nhiều nữa.

    Một người bạn của người viết đã có một nhận định đáng chú ý: khủng hoảng nào gần đây mà chẳng phải do đạo đức. Khủng hoảng 1997, hệ thống ngân hàng góp phần bằng việc cho vay vô tội vạ, đặc biệt là cho những tập đoàn tầm cỡ ?oquá lớn để đổ vỡ? vay. Năm 2000, là vụ việc Enron và các công ty dotcom, và nay, là vấn đề sản phẩm phái sinh từ nợ dưới chuẩn, mà sâu xa hơn là việc người ta khuyến khích người khác vay tiền mua nhà; người người mua nhà, nhà tăng giá, lại đem nhà thế chấp vay tiền. Đó là những tình huống mà lòng tham đã tạo ra những hành động phi đạo đức, vì lợi nhuận, bất chấp tất cả.

    Tiêu biểu là trường hợp Peter Kraus của Merrill Lynch bị ?ora đi? với khoản ?olương hưu? trị giá 10 triệu đô la Mỹ, gần như cùng lúc với tin Bank of America sẽ sa thải 500 nhân viên của Merril Lynch sau khi sáp nhập. Thật là một bức tranh tương phản gây nhiều suy nghĩ.

    Đối phó yếu tố phi đạo đức: pháp trị hay đức trị?

    Ngày càng nhiều người nhận ra rằng vấn đề đạo đức trở thành quan trọng trong việc duy trì một nền kinh tế khỏe mạnh. Trong ngành tài chính, các chứng chỉ như CFA chẳng hạn đều yêu cầu học các điều khoản về đạo đức. Các khóa học MBA bắt đầu nói nhiều hơn về đạo đức kinh doanh. Người ta đang cho rằng dạy về đạo đức kinh doanh thì sẽ ngăn ngừa được những hành vi phi đạo đức và ngăn ngừa khủng hoảng (?).

    Trong khi đó, một cách tiếp cận thực tế hơn (ít nhất là dưới mắt người viết), là việc siết chặt quản lý vốn đang bị bỏ lỏng quá nhiều đối với thị trường tài chính (nhất là thị trường Mỹ và những phương thức quản lý học theo kiểu của Mỹ). Đây có thể là cách nhìn pháp trị. Gần đây một số nước, bao gồm Mỹ, Pháp tỏ ra mạnh tay trong việc siết lại những ?ochiếc dù vàng? (tức các khoản bồi thường khi phải ra đi) của các nhà lãnh đạo các tập đoàn lớn đang tính ?ohạ cánh an toàn? trong khủng hoảng. Và nhiều người làm trong các tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn cũng đã bị quốc hội Mỹ ?ohỏi thăm? và ?ođể mắt? đến.

    Vậy là sau một thời kỳ người ta tin rằng hãy để thị trường tự điều chỉnh, nay người ta lại quay về với pháp trị. Điều đáng lo ngại là sau khi nới lỏng quá mức thì những luật định mới có thể lại quá khắt khe mà chưa chắc hiệu quả.

    Gợi ý cho Việt Nam

    Những thảo luận trên đây có thể tỏ ra có ích cho tình hình nước ta hiện nay. Chuyện suy đồi đạo đức gây khủng hoảng cho thấy cần phải chống tham nhũng và lãng phí mạnh hơn nữa.

    Thứ hai, Việt Nam cũng nên có giải pháp ngăn chặn những trường hợp kiểu ?ohạ cánh an toàn?. Những ?ochiếc dù vàng? ở Việt Nam có thể có nhiều dạng thức khác, không chỉ ở các tổ chức kinh doanh mà có thể ở đâu đó trong các tổ chức quản lý nền kinh tế hay là các tập đoàn lớn. Nó cũng là mầm mống gây khủng hoảng. Việc triệt tiêu những mầm mống này không thể chỉ bằng đức trị mà phải kết hợp với cả pháp trị.

    Thứ ba, như đã đề cập ở trên, thả lỏng quá rồi siết lại thì đúng nhưng siết theo kiểu dàn hàng ngang, không có mục tiêu cụ thể, thì không chừng siết chết động lực phát triển kinh tế. Vì vậy, khi điều chỉnh nới lỏng hay siết lại các hoạt động trong nền kinh tế, nên xem xét liều lượng cho phù hợp.

    Cuối cùng, là gợi ý về chuyện chống suy thoái. Không phải cứ có tiền kích cầu là có thể chống suy thoái. Từ chính sách đúng mà truyền động đến nền kinh tế thì phải thông qua con người. Con người mà không có hành động đúng trong trường hợp này thì dù có tiền cũng không đưa nền kinh tế về cân bằng được mà khủng hoảng trầm trọng hơn. Do đó, tiền và chính sách đúng để chống khủng hoảng chỉ mới là một mặt. Con người chống khủng hoảng mới là quan trọng. Vì chính con người là yếu tố quan trọng tạo ra khủng hoảng.
  8. TigerStock

    TigerStock Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    02/01/2007
    Đã được thích:
    3
    Có thật là ?oquả đấm thép?

    Nhớ lại vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, chúng ta cho ra đời các TCty 90/91. Giải thích hiện tượng này, một số nhà lãnh đạo cho rằng, đó sẽ là những ?oquả đấm thép? của nền kinh tế Việt Nam. Đón trước xu thế hội nhập, chúng ta cần phải có những ?otờ rớt? (Trust) xuyên quốc gia. Các Tổng công ty này sẽ cạnh tranh ngang ngửa với các tập đoàn lớn trên thế giới; không chỉ chinh phục thị trường trong nước mà còn vươn ra các nước khu vực và thế giới. Song, qua gần 17 năm, ?oquả đấm thép? chưa thấy xuất hiện.

    Hàng chục năm qua, nguồn lực quốc gia đã được tập trung tối đa cho các Tổng công ty Nhà nước, cũng với đó là những ngành nghề kinh doanh béo bở, mang lại lợi nhuận cao. Mặc dù không có thay đổi nhiều về chất nhưng hàng chục Tổng công ty 90/91 đã được đôn lên thành những Tập đoàn kinh tế.

    Theo thống kê của Ban đổi mới doanh nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước đang chiếm giữ tới 80% lượng vốn tín dụng của các ngân hàng trong nước; 70% vốn vay nước ngoài, trong khi chỉ tạo ra 40% GDP, chưa kể trong 40% GDP ấy, phần lớn có được nhờ đặc quyền khai thác các tài nguyên quốc gia.

    Lý giải hiện tượng này, các chuyên gia kinh tế cho rằng, sự hình thành các tập đoàn kinh tế căn bản phải là sự thay đổi về sở hữu. Sự thay đổi này sẽ tạo ra sự thay đổi gì về chất lượng quản lý. Ở Việt Nam, chúng ta đã không có sự thay đổi đó. Hôm nay, ông X là Tổng giám đốc Tổng công ty, ngày mai, cũng chính ông ấy được gọi là Tổng giám đốc hay Chủ tịch tập đoàn. Vẫn con người cụ thể ấy, vẫn là người làm thuê cho một ông chủ vô hình có tên là ?oNhà nước? thì liệu có vì thế mà ông X giỏi hơn, liêm khiết hơn trước không!

    Từ mâu thuẫn về công năng đến sự mất cân đối

    Là những tập đoàn kinh tế sở hữu Nhà nước, nhưng về thực chất đây là những tập đoàn doanh nghiệp. Họ vừa phải đảm bảo công năng là ?oquả đấm thép? của Nhà nước khi cần, nhưng cũng không từ bỏ mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận.

    Điều này giải thích tại sao, khi thị trường tài chính sôi động, với lợi thế về quy mô, về tiền vốn và các mối quan hệ với hệ thống công quyền, các tập đoàn này đua nhau vươn vòi vào những lĩnh vực nóng sốt, có khả năng sinh lợi cao.

    Đầu tiên là tài chính, bảo hiểm, chứng khoán, rồi tiếp sau đó là truyền thông, ngân hàng và tương lai là bệnh viện, trường học, khách sạn?, đều là những lĩnh vực mà để có được giấy phép, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải mất nhiều năm trời với chi phí lobby cũng không phải ít.

    Tập đoàn Vinashin là một ví dụ. Là tập hợp của hàng trăm doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp đóng tàu, với vai trò là doanh nghiệp chủ lực trong chiến lược phát triển kinh tế biển, nhưng Vinashin đã vươn tới hàng trăm lĩnh vực khác. Vinashin có đủ đất đai ?otrên rừng, dưới biển?, chưa kể vô số các công ty to nhỏ của nó, kinh doanh thượng vàng hạ cám. Năm 2007, tập đoàn này được ưu tiên khai thác 750 triệu USD từ nguồn tiền bán trái phiếu Chính phủ. Gần đây, Vinashin lại được bảo lãnh để vay 2 tỉ USD từ một ngân hàng nước ngoài. Hiệu quả của những đồng vốn ấy, đang cần các số liệu tài chính được thông báo minh bạch trước bàn dân thiên hạ.

    ?oNền kinh tế vị thành niên? của chúng ta chỉ sở hữu một cánh đồng hữu hạn tài nguyên, nhưng với hơn 20 tập đoàn kinh tế được chiếm giữ tới 80% vốn tín dụng của các ngân hàng ấy, thì hàng ngàn doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện thiếu vốn cũng là một điều tất yếu.

    Cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu cũng đã khiến nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng ít nhiều. Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, nguyên thành viên ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, hai nguyên nhân chính của suy thoái kinh tế toàn cầu là khủng hoảng năng lượng và khủng hoảng lương thực. Với Việt Nam, là nước xuất khẩu dầu thô và xuất khẩu gạo, chúng ta hoàn toàn có thể đứng ngoài cuộc khủng hoảng ấy, nhưng vấn đề còn lại là sự mất cân đối tồn tại trong nhiều năm nay mới có dịp bộc lộ.

    Bao giờ trưởng thành?

    Nền kinh tế vẫn là ?ovị thành niên?, vậy bao giờ nó mới trưởng thành? Điều này tùy thuộc vào nhận thức của chúng ta. Nếu nhốt tư duy trong một định hướng có sẵn từ quá khứ thì dẫu tuổi tác nhiều nhưng không thể coi là người trưởng thành. Trong xu thế toàn cầu hóa, cần phải tôn trọng sự bình đẳng về cơ hội. Sự bất bình đẳng về phân bổ nguồn lực là một vật cản khiên các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có cơ hội phát triển. Trong khi đó, đây là khu vực tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa nhất, giải quyết nhiều việc làm nhất.

    Bà Phạm Chi Lan, nguyên Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn tự hào đóng góp nhiều nhất vào ngân sách, nhưng liệu đóng góp đó có tương xứng với tỷ lệ tài nguyên quốc gia họ đang được quản lý và sử dụng. Hiện nay doanh nghiệp Nhà nước đang dùng nhiều, góp ít. Đã đến lúc họ phải chia sẻ chung trong khó khăn, không thể tiếp tục tình trạng không chịu chìa vai gánh vác.

    Petro Việt Nam là một ví dụ. Được coi là một trong những tập đoàn thành công nhất ở Việt Nam, tuy nhiên nếu ghé mắt sang người láng giềng trong khối ASEAN là Malaysia, Petronas cũng ra đời cùng thời điểm với Petro Việt Nam, thì sau gần một phần tư thế kỷ sự khác biệt về quy mô và chất lượng doanh nghiệp. Khác với Petro Việt Nam là tập đoàn sống chủ yếu bằng xuất khẩu dầu thô thì Petronas là tập đoàn đa ngành, vươn tầm hoạt động kinh doanh ra hàng chục quốc gia khác nhau. Năm 2007, doanh thu của Petronas đạt 52 tỉ USD; Con số này của Petro VN là 14 tỷ USD.

    Với doanh nghiệp Nhà nước, họ cần tập trung vào lĩnh vực then chốt Nhà nước giao, bởi gần như họ được trao độc quyền. Đã được giao độc quyền, hưởng một vài đặc quyền, anh vẫn đòi quyền như những người không được hưởng những đặc quyền đó. Doanh nghiệp độc quyền Nhà nước rồi mà vẫn còn cho mình quyền làm sang lĩnh vực khác bên cạnh việc phân tán lực lượng, sẽ tạo bất công và thiếu sòng phẳng.
  9. tigerasia

    tigerasia Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    13/07/2008
    Đã được thích:
    0
    Tung của sẽ thành cường quốc trong thời kỳ khủng hoảng. Chiến lược: Sức lao động + Tư liệu sản xuất tạo ra Giá trị thặng dư đang được Tung của khai thác tối đa. Có thặng dư tích lũy lại mua tư liệu sản xuất. Dự kiến mua cả Rolls Royce để sản xuất may bay 100% Made in China. Còn các loại mỏ thì khỏi phải nói từ Úc đến Phi châu ... Sức lao động thì được đưa tới mọi hang cùng ngõ hẻm của TG. Pó tay

Chia sẻ trang này