Báo Cáo Tổng Quan Thị Trường Cổ Phiếu Niêm Yết Việt Nam Năm 2007

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi hoanglong010, 11/01/2008.

1236 người đang online, trong đó có 494 thành viên. 18:58 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 570 lượt đọc và 0 bài trả lời
  1. hoanglong010

    hoanglong010 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    30/09/2005
    Đã được thích:
    0
    Báo Cáo Tổng Quan Thị Trường Cổ Phiếu Niêm Yết Việt Nam Năm 2007

    Báo Cáo Tổng Quan Thị Trường Cổ Phiếu Niêm Yết Việt Nam Năm 2007
    Thứ sáu, 11.01.2008, 06:38pm (GMT+7)

    http://luotsongclub.com/viewtopic.php?t=360&r=0&v=1
    [​IMG]
    Hà Nội Ngày 10 Tháng 1 Năm 2008, Công ty Chứng khoán Biển Việt (tên viết tắt: CBV) đã công bố bản Báo Cáo Tổng Quan Nghiên Cứu Thị trường Cổ Phiếu Niêm Yết Việt Nam Năm 2007?. Bản nghiên cứu đã phân tích những điểm nổi bật của TTCK Việt Nam trong năm 2007 cũng như đề ra chiến lược đầu tư cho quý 1 năm 2008.


    Năm 2007, TTCK niêm yết Việt Nam đã cho tỉ suất lợi nhuận 35.05%, cao hơn tỉ suất lợi nhuận của chỉ số MSCI Emerging Markets là 33.05%. Tổng giá trị vốn lưu động năm qua đạt 15.7 tỷ đô, chiếm 50.01% tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường.



    Về giá trị giao dịch, dẫn đầu là các ngành Tài chính (39.83%), Công nghiệp (12.05%), Dịch vụ tiêu dùng (11.54%), và Hàng tiêu dung (10.84%). Những ngành này cũng dẫn đầu bảng về giá trị vốn hóa lưu động thị trường, chiếm gần 79% tổng giá trị. Về tỉ suất lợi nhuận, Tài chính, Y tế, Nguyên vật liệu, và Hàng tiêu dung vượt trội các ngành khác với tỉ suật lợi nhuận năm qua lần lượt là 77.29%, 74.59%, 41.87% và 40.13%.



    Về quy mô vốn, CBV-SmallCap dẫn đầu với tỉ lệ tăng trưởng cao nhất là 16.1%, kế đến là CBV-MidCap, tăng 7.6% và CBV-LargeCap, giảm 5.6%. Về giá trị cổ phiếu, những công ty trong chỉ số Giá Trị chiếm ưu thế với hai chỉ số dẫn đầu là CBV-Small-Value và CBV-MidCap-Value với tỉ suất lợi nhuận lần lượt là 93.75% và 61.01%.



    Ngân hàng thương mại Á Châu dẫn đầu các công ty có giá trị vốn hóa lưu động thị trường lớn nhất với 2.2 tỷ đô, tăng 3.31% trong quý 4. Kế đến là Vinamilk với 2 tỷ đô, giảm 10.2% và STB, giảm 7.09% còn 1.8 tỷ đô.



    Trọng tâm của bản báo cáo xoay quanh 5 điểm nổi bât sau của TTCK Việt Nam năm 2007:



    1) Mỗi liên hệ dài hạn và ngắn hạn

    Bản nghiên cứu chỉ ra rằng về măt ngắn hạn, TTCK Việt Nam có mối liên hê không chặt chẽ với các thị trường khác trên thế giới. Tuy nhiên, CBV ủng hộ giả thuyết rằng về mặt dài hạn TTCK Việt Nam sẽ thiết lập mối tương quan với những TTCK khác khi Việt Nam hòa nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.



    2) Ảnh hưởng của điều tiết chính sách của Nhà nước

    Sỡ hữu nhà nước trong top 50 công ty dẫn đầu về tính thanh khoản và giá trị vốn hóa TTCK niêm yết là tương đối lớn (khoảng 37%). Do đó, TTCK Việt Nam rất nhạy cảm với những điều tiết trong chính sách Nhà nước bởi vì đó là nguồn thông tin đầu tư quan trọng và tin cậy của các nhà đầu tư trong nước. Vai trò lớn của Nhà nước trong top 50 công ty cũng ám chỉ rằng TTCK Việt Nam là khá an toàn và bền vững.



    3) Giao dịch của nhà đầu tư tổ chức và sự bình ổn thị trường

    TTCK Việt Nam là thị trường mới nổi, chiếm tỉ lệ đa số bởi các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ. Do đó, TTCK Việt Nam có nhiều biến động hơn hầu hết các thị trường đã phát triển khác. Theo nghiên cứu gần đây ở TTCK Trung Quốc, giao dịch của các nhà đầu tư nước ngoài có tác dụng bình ổn giá cổ phiểu. Do sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức ở Việt Nam là vẫn còn hạn chế, việc Nhà nước lới lỏng các rào cản đầu tư sẽ giúp mở rộng hơn số lượng các nhà đầu tư tổ chức và do đó giúp cho TTCK trở nên ổn định hơn.



    4) Động lực thị trường và trị giá thị trường

    Việt Nam là thi trường chứng khoán đắt giá thứ 3 ở Châu Á năm 2007 dựa trên một chỉ số định giá như P/E, P/B và tổng giá trị vốn hóa thị trường. Động lực thị trường đã phần nào yếu đi sau khi thị trường có sự điều chỉnh trong quý 4. Tuy nhiên, động lực thị trường được trông đợi là sẽ tăng mạnh vào cuối tháng này khi mà kì vọng vào lợi nhuận thị trường là lớn.



    5) Biến động giá và xu hướng thị trường

    Bằng phương pháp phân tích hồi quy, bản nghiên cứu đã chỉ ra rằng cổ phiếu các công ty ngành Y tế có mối tương quan rất yếu với toàn thị trường. Điều này được phản ánh rõ qua sự vượt trội của tỉ suất lợi nhuận ngành Y tế trong năm qua là 74.59% so với toàn thị trường là 35.05%. Trong khi đó, cổ phiếu các công ty trong CBV-Index và CBV-20 có mối tương quan mạnh với toàn thị trường.



    Ở cuối bản báo cáo, chiến lược đầu tư cho quý 1 năm 2008 đã được khuyến nghị, dựa trên 3 yếu tố: ngành, quy mô doanh nghiệp và giá cổ phiếu:



    ? Xét về ngành, Tài chính, Y tế, Hàng tiêu dùng và Nguyên vật liệu được khuyến nghị đầu tư dựa trên tỉ suất lợi nhuận cao của các ngành này trong năm 2007.



    ? Xét về quy mô doanh nghiệp, đầu tư vào các công ty trong danh mục CBV-MidCap (có tổng giá trị vốn hóa thị trường từ 12-62 triệu đô) được khuyến nghị do độ rộng thị trường trong quý 4 đã hẹp dần.



    ? Xét về giá cổ phiếu, các công ty có độ lệch giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách ít nhất trong danh mục CBV-Value tiếp tục được khuyến nghị đầu tư dựa trên các cơ sở mà CBV đã đưa ra trong bản báo cáo quý 2, cũng như dựa trên sự vượt trội của các chỉ số Giá trị so với chỉ số Tăng trưởng trong năm 2007.

Chia sẻ trang này