Bất chấp mọi nỗ lực (?) của CP, lạm phát vẫn tăng đều

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by Freelander, Jun 20, 2008.

2536 người đang online, trong đó có 1014 thành viên. 09:50 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. KOD82

    KOD82 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 1, 2003
    Likes Received:
    0
    Lịch sử đã chứng minh trên kia rồi, mỗi khi lạm phát cao và thâm hụt thương mại thì cách tốt nhất là Thả nổi tỉ giá

    Mà thích thì dùng từ dần dần cũng được

    Đường vòng hay đường thẳng cuối cùng cũng sẽ đến cái đích của nó
  2. kututu

    kututu Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 20, 2008
    Likes Received:
    0
    Thế có thêm 40 tỷ $ vay cỡ 100 năm thì có cần không hử cụ....
  3. KOD82

    KOD82 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 1, 2003
    Likes Received:
    0
    Càng tốt chứ sao ! Được nó đồng ý cho vay chứng tỏ là đã chấp nhận Thả nổi tỉ giá rồi
  4. kututu

    kututu Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 20, 2008
    Likes Received:
    0



    Lạm phát ở Châu Á: diễn biến, nguyên nhân và những hệ lụy

    Diễn biến lạm phát?

    Mới chỉ 6 tháng trước đây, hầu hết các quốc gia châu Á đều tự hào về tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát ở mức vừa phải, buộc cả thế giới phải nhìn với con mắt vừa kính nể vừa ghen tị. Lúc này, lo ngại chính của châu Á chỉ tập trung vào việc liệu khủng hoảng tín dụng ở hai bờ Bắc Đại Tây Dương sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa trên xuất khẩu của những nước này.

    Nhiều người kỳ vọng tác động của việc kinh tế Mỹ và khu vực đồng EUR suy giảm sẽ làm giảm áp lực tăng giá thế giới từ đó giảm áp lực đối với giá trong nước, trong khi đó xuất khẩu vào các nước phát triển có thể được thay thế bằng xuất khẩu lẫn nhau giữa các nước châu Á nên sẽ không tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Với lập luận như vậy, NHTW Indonesia đã cắt giảm lãi suất vào cuối tháng 12/2007 từ mức 8,25%/năm xuống 8,0%/năm.

    Tuy nhiên, mọi việc đã vượt ra ngoài dự đoán. Giá hàng hoá thế giới không có dấu hiệu giảm, cùng với những yếu tố nội tại của khu vực đã đẩy lạm phát trở thành cú sốc lớn nhất đối với các quốc gia châu Á. Lạm phát gia tăng liên tục đã gây ra lo ngại rằng các chính phủ châu Á không đủ khả năng ?" và quan trọng hơn là không đủ ý chí chính trị - để ngừng lại quá trình tăng giá trong nước cũng như giá nhập khẩu đang tàn phá nền kinh tế của họ.

    Tính đến tháng 4/2008, lạm phát giá tiêu dùng bình quân khu vực đã đạt mức 7,5%, gần bằng mức cao nhất trong 9 năm rưỡi qua và gấp hơn 2 lần so với mức 3,6% của một năm trước đó. Tháng 5/2008, lạm phát so với cùng kỳ của Pakistan đã tăng từ mức 17,2% của tháng 4 lên 19,3%; Ấn Độ cũng tăng lên mức cao nhất trong 7 năm 8,75%; chỉ riêng Trung Quốc là công bố mức lạm phát CPI giảm trong tháng 5/2008 xuống 7,7% từ mức 8,5% của tháng 4. Mặc dù vậy, lạm phát cơ bản tăng cao tại Trung Quốc vẫn đáng lo ngại do chi phí đầu vào tiếp tục gia tăng và chênh lệch giữa giá xăng do Nhà nước quản lý và giá thế giới đang ngày càng nới rộng.

    ? nguyên nhân?

    Nguyên nhân chủ yếu làm lạm phát tăng cao trên thế giới là do giá năng lượng và lương thực tăng mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh đó châu Á cũng có những yếu tố nội tại khiến lạm phát ở mức cao hơn nhiều so với các khu vực khác. Thứ nhất, quyền số nhóm lương thực chiếm tỷ trọng lớn trong rổ hàng hoá chi tiêu gia đình của nhiều nền kinh tế châu Á (lương thực chiếm tới 53% của Trung Quốc và 57% của Ấn Độ). Thứ hai, nhiều ý kiến cho rằng các nước châu Á đang phải trả giá cho việc duy trì mức tỷ giá và chính sách tiền tệ không hợp lý trong nhiều năm qua. Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-98, hầu hết các nước trong khu vực đều cố gắng duy trì mức tỷ giá thấp và ổn định nhằm khuyến khích đầu tư và tăng trưởng, ít nhất là trong thời gian đầu ngay sau khủng hoảng.

    Tâm điểm của thế ?otiến thoái lưỡng nan? mà các Chính phủ châu Á đang phải đối mặt chính là mâu thuẫn cơ bản trong chính sách đa mục tiêu mà họ đang theo đuổi, bao gồm cả thúc đẩy tăng trưởng và kiềm chế lạm phát. Các nhà kinh tế và các nhà làm chính sách ở phương tây đều biết rằng phương thức hiện đại để chống lại lạm phát chính là phải giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và vì thế giảm được mức độ bấp bênh của nền kinh tế, từ đó doanh nghiệp và người lao động phải suy nghĩ cẩn trọng về việc tăng giá và lương. Nhưng các chính phủ châu Á lại tin rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh trong hơn một thập kỷ qua đã làm tăng mức sống của dân châu Á dần lên gần với mức bình quân của châu Âu và Bắc Mỹ nên họ thường có xu hướng ưu tiên tăng trưởng hơn lạm phát.

    Bối cảnh tự do hoá tài chính trong quá trình toàn cầu hoá lại càng gây khó khăn đối với châu Á. Lý thuyết của Robert Mudell - nhà kinh tế từng đoạt giải Nobel - về nền kinh tế mở gợi ý rằng tồn tại ?obộ ba bất khả thi? trong chính sách kinh tế. Không nước nào có thể thực hiện đồng thời: tự do hoá hoàn toàn luồng vốn và kiểm soát cả tỷ giá lẫn chính sách tiền tệ. Ông đã chứng minh rằng chỉ có thể thực hiện đồng thời 2 trong 3. Hơn nữa, do việc kiểm soát luồng vốn là rất khó tại các nền kinh tế châu Á vì nhu cầu mở cửa nền kinh tế phục vụ cho thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài nên các nền kinh tế này nhìn chung phải lựa chọn giữa kiểm soát các điều kiện tiền tệ trong nước hay là ổn định tỷ giá. Các nước như Trung Quốc quản lý chặt chẽ tỷ giá nên họ thường gặp khó khăn trong việc thực thi một chính sách tiền tệ độc lập. Để ?otrung hoà? lượng tiền mặt bơm ra nền kinh tế do có thặng dư thương mại, họ bán trái phiếu cho hệ thống ngân hàng, hút một phần lượng tiền mặt đã bơm ra lưu thông về. Tuy nhiên, thực hiện chính sách này chẳng bao giờ là dễ dàng cả.

    Lạm phát cơ bản gia tăng, dự trữ ngoại hối tăng mạnh, tỷ giá tiếp tục được duy trì ở mức thấp(1) , thặng dư thương mại cao là những bằng chứng cho thấy châu Á đã và đang nỗ lực biến ?obộ ba bất khả thi? trở nên khả thi. Nhưng khi Fed giảm lãi suất, xung đột của bộ ba tăng lên. Lãi suất thấp của Mỹ làm tăng tính hấp dẫn của châu Á đối với các luồng vốn, làm tăng áp lực tăng giá đồng nội tệ của các nước châu Á. Kết quả là các NHTW châu Á ?" thường phải tập trung giải quyết sự căng thẳng gia tăng lên tỷ giá ?" đã phải bớt chú ý hơn đến lạm phát. Điều này cũng có giống như việc họ đã ?onhập khẩu? chính sách tiền tệ nới lỏng từ Mỹ.

    ? và những hệ lụy.

    Vấn đề lạm phát của châu Á không phải là vấn đề gì xa xôi cả, từ Washington đến Frankfurt, các ngân hàng trung ương ở các nước phát triển đều đã gióng trống về việc giá cả tăng cao. Các nền kinh tế mới nổi hàng đầu cũng đã hành động: NHTW Brazil tăng lãi suất từ tháng 4/2008, trong khi NHTW Thổ Nhĩ Kỳ tăng gần gấp đôi mục tiêu lạm phát năm 2009. Bởi, lạm phát luôn mang theo nó những hệ lụy nguy hiểm về chính trị và xã hội.

    Như đã đề cập ở trên, một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát ở các nước châu Á chính là việc các nước này cố gắng giữ ổn định tỷ giá trong điều kiện tự do tài chính mà lý thuyết về ?obộ ba bất khả thi? đã chứng minh. Mục tiêu của ổn định tỷ giá là nhằm hỗ trợ xuất khẩu, từ đó kích thích tăng trưởng. Song, lạm phát tăng cao lại làm tăng tỷ giá thực và tác động tiêu cực đến xuất nhập khẩu, và lúc này mục tiêu ổn định tỷ giá đã không còn có ý nghĩa.

    Về phương diện ngân sách, việc trợ cấp cho giá năng lượng đang khiến quốc khố trở nên căng thẳng. Trong các nước châu Á, duy chỉ có Trung Quốc có thể có đủ nguồn lực tài chính để duy trì trợ cấp phần lớn giá xăng dầu, đồng thời các nhà chính trị Trung Quốc cũng không mạo hiểm để xảy ra bất ổn xã hội trước thềm Olympic mùa thu này. Tuy nhiên, Bộ Tài chính của 7 nước châu Á khác đã tăng giá xăng bán lẻ trong nước vào tháng 5/2008, trong đó Malaysia được cho là đã tăng mạnh nhất với mức tăng 40%. Thông qua giảm trợ cấp xăng dầu, các chính phủ châu Á đang có xu hướng chuyển việc tăng chi phí năng lượng và lương thực sang phía người tiêu dùng và hy vọng sẽ giảm được cầu.

    Tuy nhiên, việc tăng giá xăng dầu cũng như giá các hàng hoá cơ bản khác do vượt ra khỏi mức sống của dân nghèo lại là nguyên nhân gây ra bất ổn chính trị. Một số bằng chứng cụ thể về bất ổn chính trị do tác động của lạm phát tại châu Á như: Bạo loạn ở Pakistan và Sri Lanka ?" nơi đang phải vật lộn với mức lạm phát khoảng 20%; biểu tình đường phố ở Nepal về vấn đề giá xăng dầu cùng với những nỗ lực của Đảng Cộng sản nhằm thành lập chính phủ liên minh. Bản thân chính quyền liên minh cấp tiến của Ấn Độ cũng đang kêu gọi bầu cử khẩn cấp trong tháng 5 do đảng cầm quyền hiện nay bị quy trách nhiệm là đã để lạm phát tăng cao.

    Trong khi đó, việc chấm dứt hoàn toàn trợ cấp xăng dầu là rất khó thực hiện, đặc biệt ở những nước không có hệ thống an sinh xã hội đủ mạnh. Do đó, bên cạnh việc giảm dần trợ cấp xăng dầu, nhiều NHTW đã thực hiện tăng lãi suất, tuy nhiên đến nay lãi suất vẫn thấp hơn mức tăng giá, khiến lãi suất thực vẫn âm nên tác động đến lạm phát là rất hạn chế. Theo tính toán của UBS, lãi suất thực (lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát) của châu Á (không bao gồm Nhật Bản) hiện đã âm bình quân khoảng 1,7%, thấp hơn nhiều so với mức trước và sau khủng hoảng tài chính năm 1997. Theo chuyên gia kinh tế Duncan Woolbridge (thuộc UBS), ?oviệc không thực hiện thắt chặt tiền tệ có nghĩa là mức lạm phát chi phí đẩy hiện nay sẽ chuyển thành lạm phát lâu dài (persistent inflation)?. Lạm phát không được kiểm soát có thể làm xói mòn mạnh mẽ uy tín mà các NHTW đã xây dựng lại được từ sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, đồng thời việc trì hoãn thực hiện các giải pháp thích hợp để kiềm chế lạm phát trong thời điểm này có thể dẫn tới việc phải thực thi những giải pháp mạnh tay hơn nữa trong thời gian tới, điều này sẽ gây ra bất ổn kinh tế mà khu vực đã nỗ lực tránh trong hơn một thập kỷ qua.

    Người ta bắt đầu quan ngại rằng châu Á đang bước vào giai đoạn tiền đổ vỡ kinh tế mà nguyên nhân cơ bản chính là lạm phát tăng cao, kéo dài và thiếu những phản ứng chính sách phù hợp. Đó là lý do tại sao ngày càng có nhiều cảnh báo hơn bao giờ hết. Stephen Roach, giám đốc Morgan Stanley châu Á đã nhận định rằng 2 rủi ro đối với kinh tế thế giới hiện nay chính là: tình trạng đình lạm toàn cầu (tăng trưởng kinh tế suy giảm cùng với lạm phát tăng cao) và triển vọng kinh tế châu Á.
  5. duongcondai

    duongcondai Thành viên tích cực

    Joined:
    Apr 16, 2006
    Likes Received:
    14
    VN ta năm nào chả lạm phát nhiều nhưng tỷ giá bị neo chặt. Cái gì quá bất hợp lý đến lúc nào đó đều dẫn tới thiệt hại lớn. Rõ ràng cần phải đưa tỷ giá về mức hợp lý. Nhưng phải từng tý một, mỗi tháng 1 tý. Trong nền KT năng động hiện nay đừng nên nói đến việc ổn định tỷ giá. Ai rồi cũng phải chấp nhận thực tế tỷ gia lên lên xuống xuống thường xuyên. Phải sống chung với lũ thôi.
  6. duongcondai

    duongcondai Thành viên tích cực

    Joined:
    Apr 16, 2006
    Likes Received:
    14
    Còn nếu muốn ổn định tỷ giá thì phải hạn chế in tiền. Còn cách nào khác đâu! Chẳng có phương pháp kỹ thuật nào có thể giữ giá mà vẫn in ra được. Trước sau gì cũng bị bục.

Share This Page