Bi quan hay bi kịch ??othiên nga đen???

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi redbull77, 31/01/2009.

946 người đang online, trong đó có 378 thành viên. 13:58 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 2234 lượt đọc và 20 bài trả lời
  1. redbull77

    redbull77 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/05/2007
    Đã được thích:
    3
    Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu năm mới với một phiên giảm điểm báo hiệu xu hướng xuống trong năm 2008 vẫn chưa tới hồi kết, trong khi mà xu thế giảm giá vẫn đang tiếp diễn trong những ngày đầu năm 2009.
    Vào thời điểm đầu năm 2008 có lẽ nhiều nhà đầu tư không thể nào tưởng tượng nổi một kịch bản tồi tệ đến vậy có thể xảy đến khi nhiều thị trường niêm yết giảm giá hơn 65% chỉ trong vòng một năm ngắn ngủi. Một câu hỏi đặt ra cho các nhà đầu tư là liệu giá cổ phiếu đã trở về với giá trị thực hay chưa và hiện tại có phải là thời điểm thích đáng để đầu tư.

    Bùng nổ hay ngủ đông?
    Mới đây nhóm nghiên cứu và phân tích của Công ty Chứng khoán Thăng Long (TSC) đã có một bản báo cáo phân tích về thị trường chứng khoán Việt Nam với tiêu đề ?oTriển vọng trong năm 2009: Thời kỳ bùng nổ?? trong đó nêu bật lên triển vọng bùng nổ của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2009. Hai luận điểm chính mà nhóm phân tích này đưa ra làm căn cứ cho nhận định của mình là, căn cứ vào hệ số P/E thấp và vốn hóa thị trường thấp/GDP. Và do đó thị trường chứng khoán Việt Nam cón nhiều ?oroom? để tăng trưởng trong thời gian tới hơn là các nước khác trong khu vực và trên thế giới.

    Quan điểm của nhóm phân tích Công ty Chứng khoán Thăng Long (TSC) đứng trên phương diện lý thuyết là khá hợp lý tuy nhiên phân tích kĩ hai chỉ số này các nhà đầu tư có thể thấy không ít mối quan ngại vẫn còn tồn tại.

    P/E thấp sẽ hấp dẫn nhà đầu tư?
    Theo như bản phân tích thì nếu như vào đầu năm, hệ số P/E của Việt Nam cao thứ 2 trong nhóm cùng loại (sau Trung Quốc) thì ngay sau đó, P/E đã giảm mạnh hơn hầu hết các nước, vùng lãnh thổ và hiện nay thấp thứ 2 trong nhóm so sánh - khoảng 7 lần (chỉ cao hơn Thái Lan). Tuy nhiên chỉ số P/E mà các tổ chức hoặc các nhóm phân tích đưa ra hiện nay cũng chưa thật sự thống nhất. Theo báo cáo của HSBC thì P/E trung bình của thị trường là 9 lần, còn theo trang web www.sbsc.com.vn thì P/E trung bình của HOSE là 10.2 và của Hastc là 7.7. Sự thiếu thống nhất của các con số khiến nhà đầu tư thêm băn khoăn trong quyết định đầu tư.

    Thêm vào đó chỉ số P/E thấp liệu đã đủ hấp dẫn nhà đầu tư quay lại với thị trường hay không còn là một vấn đề đáng bàn. Khi sử dụng chỉ số P/E nhà đầu tư thường không chỉ quan tâm đến mức độ thấp hay cao của chỉ số mà còn so sánh nó với khả năng tăng trưởng trong tương lai thông qua chỉ số P/(E.G). Chỉ số P/(E.G) càng thấp với một triển vọng tăng trưởng cao sẽ càng hấp dẫn nhà đầu tư khi đưa ra quyết định đầu tư. Như vậy nếu P/E thấp nhưng tăng trưởng kì vọng G cũng thấp thì chưa chắc các nhà đầu tư đã hào hứng trong quyết định đầu tư. Trong khi đó kì vọng tăng trưởng của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2009 là không khả quan.

    Thị trường đã phản ánh đầy đủ quy mô nền kinh tế Việt Nam hay chưa?
    Thông thường tỷ lệ Vốn hóa thị trường/GDP thể hiện quy mô của thị trường và sự định giá chứng khoán của giới đầu tư đối với quốc gia đó. Đối với các nước trên thế giới chỉ số nay giao động trong khoảng giữa 50% và 150%, tức trung bình 100% - nghĩa là giá trị vốn hóa thị trường bằng GDP. Những nước có giá trị vốn hóa thị trường cao hơn đáng kể so với GDP hàng năm được xem là định giá cao và ngược lại những nước có tỷ lệ này càng thấp được xem là đang được định giá thấp. Trong khi đó tỷ lệ này ở Việt Nam là khoảng 14.86% GDP theo báo cáo phân tích của Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT. Tuy nhiên, việc đưa ra kết luận từ dữ liệu này cũng cần thận trọng vì thị trường chứng khoán Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Thị trường niêm yết chứng khoán Việt Nam chưa thể mang tính đại diện đầy đủ nền kinh tế Việt Nam do số lượng các công ty niêm yết còn quá nhỏ so với các công ty đại chúng chưa lên sàn do quá trình cổ phần hóa của Việt Nam đang diễn ra một cách chậm chạp. Do đó tỷ lệ Vốn hóa thị trường/GDP của Việt Nam thấp cũng chưa đảm bảo một tương lai sáng sủa cho thị trường trong tương lai gần. Ngoài ra vấn đề cơ bản là thị trường luôn phản ánh kì vọng tăng trưởng của nền kinh tế do đó khó có khả năng chứng khoán phục hồi khi kinh tế chưa có dấu hiệu khởi sắc. Nền kinh tế Việt Nam cần bao lâu để thích nghi và ổn định trong bối cảnh khó khăn hiện nay quả thật là một ẩn số rất nan giải.

    Tóm lại, thị trường chứng khoán Việt Nam đang đi vào vùng đáy nhưng đáy dài rộng thế nào bao giờ mới ra khỏi vùng đáy là một câu hỏi chưa có hồi kết. Câu hỏi này sẽ tiếp tục thử thách bản lĩnh nhà đầu tư trong năm 2009.



    Hoàng Công Tuấn- SanOTC.com
  2. redbull77

    redbull77 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/05/2007
    Đã được thích:
    3
    TRI: Cổ phiếu đưa vào diện bị kiểm soát
    (CafeF) - Cổ phiếu TRI của CTCP Nước giải khát Sài Gòn - Tribeco bị Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM đưa vào diện bị kiểm soát.



    Cổ phiếu TRI bị đưa vào diện bị kiểm soát kể từ ngày 03/02/2009 theo Quyết định số 03/QĐ-SGDHCM ngày 02/02/2009 của SGDCK TPHCM.
    Lý do: kết quả kinh doanh năm 2008 lỗ vượt quá vốn chủ sở hữu tại thời điểm 31/12/2008.

    Tính đến thời điểm ngày 31/09/2008, lũy kế 9 tháng đầu năm của TRI lãi 505 triệu đồng. Hiện Sở vẫn chưa công bố chính thức báo cáo kết quả kinh doanh cả năm 2008 của TRI.


    Trước đó, cổ phiếu BBT của CTCP Bông Bạch Tuyết cũng bị đưa vào diện bị kiểm soát do công ty làm ăn thua lỗ và cổ phiếu này chỉ được giao dịch trong đợt khớp lệnh định kỳ cuối cùng của phiên giao dịch.

    Đóng cửa phiên giao dịch sáng nay (03/02), cổ phiếu TRI ở mức 7.000 đồng/CP.


    Hoàng Ly
  3. redbull77

    redbull77 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/05/2007
    Đã được thích:
    3
    Danh mục đầu tư của khối nước ngoài giảm gần 4 tỷ USD giá trị
    Việc NĐT nước ngoài bán ra hoặc rút một phần vốn gây sức ép lên tỷ giá. Nếu không xử lý tốt sẽ ảnh hưởng mạnh đến cung cầu ngoại tệ trong nước.




    Tính đến thời điểm tháng 12/2008, giá trị danh mục của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam vào khoảng 4,6 tỷ USD, giảm gần 4 tỷ USD so với thời điểm đầu năm 2008 - thời điểm giá trị danh mục đầu tư lớn nhất..


    TS. Nguyễn Sơn, Trưởng ban Phát triển thị trường của Ủy ban Chứng khoán nhận xét, trong năm 2008, diễn biến dòng vốn vào, ra của nhà đầu tư nước ngoài phản ứng rất linh hoạt theo tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam với bình quân trong các tháng đạt khoảng 300 triệu USD, cá biệt dòng vốn của tháng 10 lên đến 880 triệu USD và trong tháng 11 đạt khoảng 350 triệu USD.


    Nhìn chung những tháng đầu năm, doanh số mua vào của nhà đầu tư nước ngoài lớn hơn lượng bán ra, nhưng vào những tháng cuối năm xuất hiện lượng bán ròng khá lớn, đặc biệt là trái phiếu.


    Cũng theo TS. Sơn, mặc dù giá trị danh mục đầu tư giảm mạnh nhưng dòng vốn rút ra khỏi Việt Nam không nhiều, một phần do giá cổ phiếu giảm khoảng 70% giá trị, một phần do nhà đầu tư nước ngoài cơ cấu lại danh mục đầu tư, một phần dòng vốn chuyển sang các kênh đầu tư khác như đầu tư bất động sản.


    Ông Sơn cũng nhận định rằng, việc suy giảm của dòng vốn đầu tư nước ngoài trong năm 2008 cho thấy do ảnh hưởng của tình hình thế giới, việc bán ra của nhà đầu tư nước ngoài đã tăng lên, đặc biệt đối với trái phiếu Chính phủ và cổ phiếu có tính thanh khoản cao.


    Mức độ rút vốn gắn liền với suy giảm của thị trường qua các tháng khác nhau lúc tăng, lúc giảm. So với tổng mức dự trữ ngoại tệ quốc tế, quy mô đầu tư gián tiếp cũng không lớn do nhà đầu tư nước ngoài đã rút một phần vốn và giá chứng khoán trên thị trường bị sụt giảm.


    Ngoài ra, khả năng rút vốn cũng bị hạn chế vì vấn đề giá cả, tính thanh khoản và khả năng chuyển đổi từ đồng nội tệ sang ngoại tệ. Hơn nữa, khoảng 2/3 danh mục do các quỹ đóng nắm giữ nên sức ép thanh lý sẽ thấp hơn quỹ mở.


    ?oTuy nhiên, việc nhà đầu tư nước ngoài bán ra hoặc rút một phần vốn cũng gây sức ép lên tỷ giá, và nếu không xử lý tốt cơ chế tỷ giá và yếu tố tâm lý thì có thể dẫn đến nhà đầu tư trong nước rút tiền chuyển thành ngoại tệ, gây khó khăn cho vấn đề dự trữ ngoại tệ và tính thanh khoản của ngân hàng?o, ông Sơn nhấn mạnh.

    Theo Lan Hương
    VnEconomy
  4. redbull77

    redbull77 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/05/2007
    Đã được thích:
    3
    VN-Index rơi tự do xuống 288 điểm
    (CafeF) - Vn-Index đã có một phiên sụt giảm mạnh nhất trong vòng 1 tháng rưỡi qua.

    Ngay từ đầu phiên giao dịch, VN-Index đã mất gần 2% giá trị với giao dịch đạt trên 1 triệu đơn vị, tương đương 26 tỷ đồng.
    Cổ phiếu đồng loạt giảm giá, diễn biến tiếp tục xấu đi trong các đợt giao dịch sau đó, giá cổ phiếu giảm mạnh hơn kéo VN-Index đi xuống.

    Kết thúc phiên, chung cuộc chỉ số VN-Index giảm 8,83 điểm (tương đương giảm 2,97%) xuống còn 288,69 điểm.


    Như vậy, với việc giảm mất gần 3% giá trị phiên này, VN-Index lại về sát đáy 286 điểm được thiết lập hôm 10/12/2008.


    Điểm đáng lưu ý trong phiên giao dịch ngày hôm nay là khối lượng giao dịch phiên này tăng lên khá mạnh, tổng khối lượng cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được khớp lệnh thành công đạt hơn 8 triệu đơn vị với giá trị là trên 186 tỷ đồng. Tăng 70% về cả khối lượng và giá trị so với phiên giao dịch trước đó.

    Trong tổng số 176 mã niêm yết trên Hose, đã có 134 mã giảm giá trong đó 60 mã giảm giá sàn, 21 mã đứng giá, chỉ có 16 mã tăng giá với 2 mã tăng trần và còn lại là 5 mã không có giao dịch là FPC, PTC, SFN, VHC và VSG.

    2 cổ phiếu hiếm hoi tăng trần là BBT của CTCP Bông Bạch Tuyết và RIC của CTCP Quốc tế Hoàng Gia.


    Trong khi đó nhóm 10 cổ phiếu vốn hoá lớn trên sàn đều giảm giá mạnh trong đó 2 mã giảm sàn là VPL và PPC.

    Về giao dịch, STB dẫn đầu với gần 0,62 triệu cp, tiếp theo là các mã SSI, DPM, FPT, REE, PVF?


    Bên sàn Hà Nội, Hastc-Index đóng cửa phiên giao dịch giảm mạnh 4,2% xuống 94,5 điểm. Khối lượng giao dịch đạt 4,1 triệu cổ phiếu, gần gấp 2 phiên trước, đạt 82,95 tỷ đồng.


    Đóng cửa phiên giao dịch, toàn thị trường có 112 mã giảm giá, gấp 5 lần số mã tăng giá (21), 17 mã đứng giá và số còn lại chưa có giao dịch.


    Hastc-Index đuối dần vào cuối phiên khi lượng bán tăng mạnh, hàng loạt cổ phiếu giảm sàn như BVS, VSP, CCM, CIC, KBC, MIC, NTP?trong đó VSP có dư bán sàn nhiều nhất với 42.500 đơn vị. Cổ phiếu này đứng sau KBC về mức giảm mạnh nhất sàn khi giảm 2.700 đồng xuống 38.300 đồng.


    Các mã giảm mạnh nhất sàn phiên này ngoài VSP và KBC còn có MIC, NTP, HLY với mức giảm đều trên 6%.


    Các cổ phiếu tăng giá hiếm hoi trên sàn là L62, SRA, VE9, TCS và TPH. Tuy nhiên giao dịch tại các mã này thường xoay quanh mức 200 ?" 500 cổ phiếu.


    Về khối lượng giao dịch, ACB đột ngột giao dịch mạnh với trên 900.000 đơn vị, cá mã giao dịch mạnh là KLS, VCG, VSP và PVI. Năm mã này đều giảm điểm.

    Thanh Tú - Phương Mai
  5. redbull77

    redbull77 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/05/2007
    Đã được thích:
    3
    Đưng mơ mông khi Vni chưa xuống dưới 280, thực trạng xấu thật sự.
    Nếu có xác định đầu tư dài hạn dưới 280 hãy tính.
    http://www.vneconomy.vn/2009020310049119P0C10/nen-kinh-te-thuc-bi-sut-giam.htm
  6. tututiti

    tututiti Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    20/07/2008
    Đã được thích:
    0

    Vấn đề là lý thuyết về black swan hay fat tail thì là như vậy, tuy nhiên vận dụng vào thực tế như thế nào thì không phải ai cũng hiểu và làm được. Cảm ơn bác đã đưa lên đây cho mọi người cùng tham khảo, ít nhất thì cũng được biết về một câu chuyện được coi là best seller hiện nay!
  7. redbull77

    redbull77 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/05/2007
    Đã được thích:
    3
    Bóng ma bảo hộ đang đe dọa thương mại thế giới
    (CafeF) ?" Tổng Giám đốc WTO Pascal Lamy hẳn đã cảm nhận rõ sự đe dọa này khi gửi bức thư hối thúc các nước Ảrập nối lại vòng đàm phán Doha tháng 1 vừa rồi.

    Ông khẩn thiết tuyên bố ?othương mại quốc tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với các nền kinh tế do đó Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng rất quan trọng đối với các nước Ảrập.


    Đây chỉ là một trong rất nhiều lời kêu gọi khác mà ông Pascal Lamy đã đưa ra trước và sau đó, kêu gọi nối lại vòng đàm phán Doha, vốn đã lại rơi vào bế tắc từ hồi tháng 7/2008 .

    Cùng với khủng hoảng kinh tế, những đòi hỏi bảo hộ nền sản xuất nội địa có nguy cơ lan rộng.

    Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, hàng hóa sản xuất trong nước không xuất khẩu được ra thị trường nước ngoài do nhu cầu tiêu thụ của thế giới sụt giảm, sản xuất kinh doanh bị đình đốn, các doanh nghiệp và người dân thường có khuynh hướng ủng hộ các chính sách bảo hộ nền kinh tế sản xuất trong nước bằng cách yêu cầu chính phủ sử dụng các biện pháp bảo vệ sản xuất trong nước, đảm bảo công ăn việc làm cho người dân.

    Chủ nghĩa bảo hộ đang quay trở lại

    Mỹ là một quốc gia điển hình cho sự quay trở lại của chủ nghĩa bảo hộ. Mới đây Hạ viện Mỹ đã chấp thuận kế hoạch cứu kinh tế của Tổng thống Obama với tổng trị giá 819 tỷ USD kèm theo điều kiện "bảo hộ" ngành sản xuất thép trong nước: bản dự thảo yêu cầu tất cả các dự án cơ sở hạ tầng dùng tiền từ kế hoạch phải sử dụng sắt và thép sản xuất tại Mỹ.

    Các nhà sản xuất sắt thép, những công nhân trong ngành này của Mỹ sẽ rất vui mừng và hạnh phúc khi doanh thu và lợi nhuận của họ sẽ được tăng lên nhờ vào chính sách bảo hộ này.

    Tuy nhiên các nhà kinh tế lại lo ngại rằng nếu các quốc gia đang xuất khẩu sắt thép vào Mỹ áp dụng biện pháp trả đũa thương mại bằng cách yêu cầu các dự án trong nước không sử dụng hàng nhập khẩu từ Mỹ chuyện gì sẽ xảy ra? Những nhà nhập khẩu của Mỹ sẽ bị mất việc làm, những nhà thầu xây dựng của Mỹ sẽ phải mua sắt thép với giá cao hơn và cuối cùng là sự sụp đổ thương mại của Mỹ và các nước còn lại trên thế giới .?


    Dưới sức ép của những chủ trang trại nuôi tôm nội địa Mỹ, những con tôm này để vào được thị trường Mỹ sẽ phải chịu thêm một khoản thuế chống bán phá giá. Nhưng gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của loại thuế này có thể lại là những công nhân chế biến.


    Nhiều nhà kinh tế lẫn các nhà hoạch định chính sách đang lo ngại sự trở lại của bóng ma bảo hộ đó, đặc biệt trong thời kỳ kinh tế suy thoái, khi những yêu sách bảo hộ hàng nội địa ngày càng gay gắt hơn.
    Tại diễn đàn kinh tế thế giới tổ chức tại Davos, lãnh đạo các quốc gia lớn trên thế giới đều nhấn mạnh cam kết mở cửa.

    "Chính sách bảo hộ thương mại chỉ khiến cuộc khủng hoảng hiện nay càng kéo dài và tồi tệ thêm".
    Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo.

    "Khi các nước rơi vào khủng hoảng, phản ứng đầu tiên là phải bảo hộ thương mại. Tuy nhiên, đây là phản ứng hoàn toàn sai lầm".
    Bộ trưởng Thương mại Ấn Độ Kamal Nath
    Tuy nhiên, nỗi ám ảnh và lo sợ sự quay lại của bóng ma bảo hộ không phải là không có cơ sở khi mà ngay cả chính nền kinh tế lớn nhất thế giới, vốn được xem là đầu tàu của tự do hóa thương mại là Hoa Kỳ trong thời kỳ khủng hoảng cũng đang muốn quay trở lại với chủ nghĩa bảo hộ dưới sức ép của các nhóm lợi ích trong nước.

    Các nhà kinh tế ủng hộ tự do hóa thương mại cho rằng nếu Mỹ đơn phương áp dụng chủ nghĩa bảo hộ đối với các ngành sản xuất trong nước và các quốc gia khác "trả đũa" lại thì thương mại toàn thế giới sẽ sụp đổ.

    Một bóng ma

    Năm 1929, khi Mỹ rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử, hai nghị sĩ ủng hộ tư tưởng bảo hộ của Đảng Cộng hòa là Willis Hawley và Reed Smoot đã đề xuất một dự luật nhằm bảo vệ sản xuất trong nước bằng cách nâng thuế nhập khẩu lên một mức cao chưa từng có trong lịch sử kinh tế Mỹ.

    Dưới sức ép của những tiếng kêu gào đòi được "bảo vệ công ăn việc làm" của giới lao động trong nước Dự luật bảo hộ thương mại đó đã được Quốc hội thông qua.

    Hậu quả là sự thu hẹp của thương mại Thế giới (dĩ nhiên trong đó có cả Hoa Kỳ) khi các quốc gia khác cũng áp dụng các biện pháp "trả đũa" bằng cách nâng cao thuế quan tương tự. Giao dịch thương mại thế giới giảm hai phần ba trong khoảng 1929 ?" 1934 khi mà các nền kinh tế lớn trên thế giới sử dụng các biện pháp thuế quan để ngăn cản hàng nhập khẩu của các quốc gia khác.

    Chủ nghĩa bảo hộ với những biện pháp của chính phủ nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh với nước ngoài có một nguồn gốc sâu xa trong lịch sử kinh tế của các quốc gia trên thế giới.

    Những người ủng hộ chủ nghĩa bảo hộ cho rằng việc cản trở nhập khẩu từ nước ngoài sẽ khuyến khích người dân tiêu dùng hàng nội địa và qua đó sẽ khuyến khích sản xuất trong nước, giúp nền kinh tế tránh khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế từ bên ngoài.

    Tuy nhiên các nhà kinh tế cho rằng chủ nghĩa bảo hộ luôn đi liền với cái giá phải trả rất lớn khi thương mại bị ngưng trệ do các hành động bảo hộ sai lầm đó.

    Lịch sử đã ghi nhận lại nhiều hậu quả tai hại cho nền kinh tế do chủ nghĩa bảo hộ. Nửa đầu thế kỷ 19, nước Anh đã áp đặt thuế quan nhập khẩu để "bảo hộ" cho người nông dân và điền chủ Anh trước sự cạnh tranh của hàng ngũ cốc nhập khẩu rất rẻ từ nước ngoài. Song mức thuế quan nhập khẩu đó đã làm tăng giá thực phẩm ở các thành phố ở Anh, buộc tư bản công nghiệp miễn cưỡng phải trả lương cao hơn để công nhân có đủ tiền mua lương thực. Năm 1846, sau một cuộc đấu tranh lâu dài tại Quốc hội, các Đạo luật Bảo hộ sản xuất ngô (Corn Laws) mới bãi bỏ.

    Nhìn lại Đại suy thoái kinh tế 1930, các nhà kinh tế cho rằng sai lầm lớn nhất của các nhà hoạch định chính sách trong việc phản ứng với nền kinh tế trong thời kỳ Đại suy thoái là "đóng cửa" thương mại bằng việc sử dụng các rào cản thuế quan và các biện pháp bảo hộ mang tính chất kỹ thuật như yêu cầu các nhà sản xuất trong nước chỉ sử dụng hàng nội địa. Giao dịch thương mại thế giới giảm hai phần ba trong khoảng 1929 ?" 1934 khi các biện pháp thuế quan để ngăn cản hàng nhập khẩu được áp dụng.

    Nếu nguời trồng lúa không mua quần áo của thợ may thì nguời thợ may sẽ không có tiền để tiền để mua vải của thợ dệt và dĩ nhiên bác thợ dệt sẽ không có tiền để mua gạo của nông dân. Tình trạng người dân trong một quốc gia không được tự do giao thương với nhau là hình ảnh của việc "ngăn sông cấm chợ", hậu quả sẽ là người dân sẽ không muốn sản xuất vì không thể bán được hàng.

    Điều gì áp dụng với nội thương thì cũng có thể áp dụng đối với ngoại thương. Giả sử như chủ nghĩa bảo hộ thắng thế trên toàn thế giới thì quốc gia A sẽ không sử dụng sắt và thép nhập khẩu từ một nước B và quốc gia B sẽ không có tiền để mua phần mềm được sản xuất từ quốc gia A.

    Nếu tất cả các quốc gia trên thế giới đều áp dụng các biện pháp bảo hộ thương mại thì thương mại song phương và đa phương giữa hai quốc gia với nhau hay giữa các quốc với nhau sẽ rơi vào tình trạng thu hẹp, thậm chí đình trệ hoàn toàn. Hậu quả của nó đó là xuất nhập khẩu bị sụp đổ, hàng hóa bị ứ đọng do không bán được, thất nghiệp lan tràn, người tiêu dùng phải mua hàng hóa với giá đắt đỏ.

    Nhiều nghiên cứu kinh tế đã chỉ ra rằng mọi biện pháp "ngăn sông cấm chợ" nội thương hay bảo hộ thương mại trong ngoại thương đều dẫn đến hậu quả GDP của toàn thế giới sụt giảm.

    Bạch Huỳnh Duy Linh
  8. redbull77

    redbull77 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/05/2007
    Đã được thích:
    3
    Dự báo chiến lược: Khó nhưng rất cần
    Đình Tĩnh
    Thế giới & Việt Nam


    Tháng 9/2008, Lehman Brothers nộp đơn xin phá sản, gây dư chấn và đẩy nhanh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay. Trước đó, tháng 9/2001, nước Mỹ bị tấn công khủng bố. Tháng 9/1989, Ba Lan chính thức rời khối XHCN. Tất cả những sự kiện đó, ngoài mẫu số chung là xảy ra vào tháng 9 còn trùng hợp ở một sự thực khác: không ai dự báo được.

    Liệu chúng ta có thể dự báo được tình hình quốc tế và chính sách của các nước? Độ chính xác sẽ như thế nào? Những câu hỏi trên đã cuốn hút các học giả và giới hoạch định chính sách ở nhiều quốc gia, trong nhiều thế hệ qua.

    Khoa học dự báo
    ?oNguy cơ? và ?oKhó lường? là hai khái niệm trung tâm của khoa học dự báo. Theo Viện quốc tế về khoa học dự báo, DDH Pennsylvania, khoa học dự báo bao gồm đánh giá chủ quan và phương pháp định lượng. Nhưng quan điểm chung là dự báo cần dựa trên ?ocứ liệu và nguyên tắc?, thay cảm tính bằng cơ sở khoa học. Chẳng hạn, việc lặp lại thao tác quan sát đối với cùng một hiện tượng trong một thời gian sẽ giúp giảm thiểu yếu tố bất khả tri.

    Các nhà nghiên cứu thường cố gắng trả lời câu hỏi: Liệu lịch sử có lặp lại hay không? Thực vậy, chiến tranh vẫn tiếp tục xảy ra trên địa cầu của chúng ta. Nguyên nhân không khác nhiều so với các cuộc chiến tranh trước đây nhưng thể hiện ở nhiều hình thái mới. Ví dụ, trước đây người ta nhấn mạnh đến chiến tranh tổng lực, chiến tranh bộ binh, ngày nay quân đội các nước còn phải chú ý tới chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh thông tin hay chiến tranh ?obất cân xứng? ?" là chiến tranh giữa những đối thủ không tương xứng về sức mạnh như giữa Bin Laden và nước Mỹ.

    Vấn đề cốt tử là độ chính xác. Người ta thường so sánh dự báo tình hình thế giới với dự báo thời tiết, theo hàm ý tiêu cực: Không thực sự đáng tin. Hệ thống đo lường các cú sốc tương lai tinh vi của các nước khoa học tiên tiến như Mỹ cũng dự báo thiếu chính xác. Ví dụ, báo cáo Các xu hướng toàn cầu năm 2010 của CIA công bố năm 1997 ?" 1998 và cuộc khủng hoảng 10 năm sau vào năm 2008. Tương tự như vậy, bản báo cáo năm 2000 không đưa được bất kỳ tiên liệu nào về sự kiện tấn công khủng bố ngày 11/9/2001.

    Trong khi đó, thế giới ngày càng trở nên phức tạp và khó lường hơn.

    Dự báo, dự đoán và dự liệu

    Xét về mức độ tin cậy, dự báo (forecasting, projection, prognosis) cao hơn dự đoán (guessing predicting, crystal ban gazing) bởi dự báo sử dụng những cứ liệu khoa học thay vì chỉ phỏng đoán kết quả) một cách cảm tính. Người ta nói dự báo thời tiết chứ không nói dự đoán thời tiết. Ngược lại những người hâm mộ bóng đá có thể tham gia "dự đoán", chứ không "dự báo" kết quả trận đấu. Dĩ nhiên, nâng cao chất lượng của dự đoán là công việc đầy khó khăn.

    Nhằm phần nào hạn chế thách thức này, Alvin Toffler, nhà tương lai học, tác giả của những cuốn sách nổi tiếng như Cú sốc tương lai, Thăng trầm quyền lực và Làn sóng thứ ba nhấn mạnh dự liệu (anticipation) hơn là dự báo. Từng làm cố vấn cho Bộ Quốc phòng Mỹ, ông khuyến nghị các nhà hoạch định chính sách tập trung nhiều hơn vào khâu chuẩn bị thay vì dành phần lớn thời gian và công sức phán đoán tình hình thế giới.

    Tương tự như vậy là trường phái xây dựng các kịch bản. Trên cơ sở xem xét các kịch bản, người ta sẽ đưa ra nhận định về tình huống nào sẽ có khả năng xảy ra nhất. Tuy nhiên, việc xây dựng kịch bản chỉ khả thi về lý thuyết nhưng khó trong thực tiễn. Với chiến lược hai cuộc chiến tranh rưỡi", Lầu Năm Góc tiên liệu khả năng tham chiến đồng thời hai cuộc chiến tranh khu vực và một cuộc chiến tranh quy mô nhỏ hơn. Quân đội Mỹ không đủ sức dàn trải trường hợp xảy ra ba cuộc chiến tranh khu vực trở lên.

    Nhóm các giáo sư khoa học chính trị ở Đại học Tổng hợp Hawaii (nơi cũng có những phòng dự báo động đất và sóng thần rất tiên tiến), sử dụng tiếp cận ?onhững tương lai? hay ?otương lai thay thế", thay vì "tương lai duy nhất" (futures or alternative futures, instead of the future). Theo những nhà tương lai học này, chúng ta cần phấn đấu để xây dựng một tương lai khác, tốt hơn tương lai mà chúng ta vẫn thường nghĩ sẽ xảy ra?.

    GS. Jim Dator, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tương lai, đả phá tư duy ?ođịnh mệnh? một cách mạnh mẽ: bất cứ một lập luận nghiêm túc nào về tương lai cũng sẽ đều trở nên nực cười; chúng ta phải có trách nhiệm về hành động của chúng ta: thói quen sinh hoạt, tiêu dùng, bảo vệ môi trường. Đó cũng là mô hình triết gia Đức Immanuel Kant gợi ý. Khác với Aristotle, Kant đề cao hơn khía cạnh trách nhiệm so với lý tưởng đạo đức đơn thuần.

    Xác suất

    Công cụ ?oxác suất" (probability) giúp lượng hóa những tình huống "nguy hiểm?, "khó lường?. Điều này có thể được diễn tả đơn giản như sau. Nếu tung một đồng xu, chúng ta sẽ có xác suất 50% ngửa hoặc sấp. Thay vì lâm vào một tình huống hoảng loạn, các nhà hoạch định chính sách liên quan đến sự kiện tên lửa Cu ba vẫn có thể phấn đấu cho xác suất 50% các bên tháo ngồi nổ, tức là hoặc Liên Xô rút hoặc Mỹ nhân nhượng để ngăn thảm họa hạt nhân.

    Dĩ nhiên, sẽ có những tình huống khó đi đến kết luận xác suất hơn. Khả năng tăng giá kịch trần của một cổ phiếu là xác suất khó xác định, bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, kể cả hành vi của "đám đông? cổ đông. Tuy vậy, đây cũng là công cụ hữu hiệu. Ví dụ, đối với dự báo dân số, công cụ xác suất có thể chỉ ra sự phân bổ của từng biến số riêng lẻ. Chẳng hạn, có dự báo 80% tỷ lệ xác suất dân số thế giới sẽ nằm vào khoảng từ 8- 10 tỷ vào năm 2100, trong đó 90% xác suất tỷ lệ nữ giới sẽ cao hơn so với nam giới.

    Phân tích xu hướng

    Đây cũng là một cách tiếp cận ưa thích. Trên cơ sở phân tích chiều hướng diễn biến của sự việc trong quá khứ gần và hiện tại (trend analysis, tíme-series), đồng thời tổng hợp đánh giá những yếu tố có thể tác động, các nhà dự báo có thể phác họa những đường nét cơ bản trong tương lai của tình hình thế giới và chính sách đối ngoại các nước.

    Qua theo dõi diễn biến những chỉ số sức mạnh cơ bản, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Mỹ sẽ duy trì vị trí siêu cường duy nhất cho đến ít nhất là năm 2025. Quy mô nền kinh tế, tiềm lực quốc phòng, ảnh hưởng chính trị không dễ đột biến trong trung hạn. Những sự kiện như 11/9 tuy có làm đồ thị sức mạnh nước Mỹ từ nay đến năm 2025 có chỗ hõm xuống, nhưng không thay đổi lớn về hướng đi. Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học đã đưa ra dự báo: Trung Quốc sẽ bắt kịp Mỹ vào khoảng năm 2025 nhưng rồi bị Mỹ vượt trở lại vào năm 2075.

    Các lý thuyết về quan hệ quốc tế

    Các nhà phân tích chiến lược phương Tây còn sử dụng các lý thuyết cơ bản về quan hệ quốc tế để dự báo, dựa trên những giả định mà họ cho là đúng với khung lý thuyết nào đó. Ví dụ, thuyết hiện thực (realism) sẽ dự báo rằng xung đột Mỹ - Trung là khó tránh khỏi. Quốc gia nào cũng muốn chiếm vị trí bá quyền trong hệ thống, do vậy, mà không mấy tin vào khả năng hợp tác với "đối thủ?, theo tưởng tượng hay trên thực tế.

    Trong khi đó, những người theo chủ nghĩa tự do (liberalism) sẽ không dự đoán một tình huống đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc trong tương lai gần, vì họ cho rằng các thể chế quốc tế và lợi ích của sự hợp tác sẽ làm giảm thiểu xung đột.

    Thuyết kiến tạo (constructivism) lại cổ xúy việc tăng cường giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội và xây dựng những giá trị chung, nhằm tạo nên một tương lai tích cực hơn cho các quốc gia. Ví dụ, bằng cách phổ biến "phương cách ASEAN" các nước ASEAN sẽ có cơ sở để xây dựng được môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế.

    Và còn nhiều cách tiếp cận khác nữa?

    Mỗi một phương pháp trên đều có mặt mạnh riêng. Tuy nhiên, do việc ứng dụng đòi hỏi tính nhất quán, nên các nhà hoạch định chính sách chỉ có thể vận dụng một trong các phương pháp trên. Nếu sử dụng nhiều phương pháp, các nhà khoa học và hoạch định chính sách cần tiến hành chúng một cách độc lập. Thế giới là phức tạp, nhưng có lẽ như các nhà vật lý lượng tử lập luận, trong sự hỗn độn vẫn có những quy luật.


    Nguồn: Thế giới & Việt Nam
  9. redbull77

    redbull77 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/05/2007
    Đã được thích:
    3
    Thị trường và con người
    Hồ Quốc Tuấn, Nghiên cứu sinh tiến sĩ, Đại học Manchester, Anh

    Những khủng hoảng gần đây đều do đạo đức. Lòng tham đã tạo ra những hành động phi đạo đức, dẫn đến khủng hoảng.

    Xét lại luận điểm thị trường không hoàn hảo
    Gần đây, trong giới học thuật tài chính và giới kinh doanh thực tiễn, người ta đã nghiêm túc xem xét lại luận điểm về thị trường không hoàn hảo trong các vấn đề định giá. Hiểu một cách nào đó, thị trường hoàn hảo là thị trường trong đó người ta có thể bắt chước (replicate) bất kỳ một chiến lược mua bán nào, sản phẩm nào (quyền chọn, cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán từ nợ dưới chuẩn...) từ những sản phẩm cơ bản khác. Bỏ qua các yếu tố kỹ thuật, điều này có nghĩa là gì? Nó có nghĩa người ta có thể phòng ngừa bất kỳ loại rủi ro nào trong tương lai. Ít nhất, trong nhiều mô hình tài chính và bảo hiểm, đây là ý tưởng căn bản về một mô hình của thị trường hoàn hảo.

    Đây là luận điểm không mới và cũng không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là những mô hình tài chính được ứng dụng, vốn tưởng chừng cách xa các mô hình trong sách giáo khoa, cũng bằng cách này hay cách khác, vô tình hay cố ý, dựa trên những giải pháp trong đó giả định rằng tồn tại một thế giới mà trong đó người ta trung lập với rủi ro (risk neutral world), một thế giới mà các rủi ro có thể phòng ngừa được (hedgable).

    Với việc giả định những điều trên, người ta chấp thuận một phần nào khái niệm thị trường là hoàn hảo (complete market), nói nôm na, là có đủ ?ođồ chơi? để phòng ngừa rủi ro. Trong một hội thảo gần đây ở London, người ta đã tranh cãi khá nhiều về chuyện một số mô hình tưởng chừng không giả thiết rằng thị trường là hoàn hảo, cuối cùng lại dùng những kỹ thuật tài chính để giải quyết vấn đề mà cuối cùng kỹ thuật đó lại thừa nhận thị trường là hoàn hảo ở một khía cạnh nào đó.

    Cụ thể, các giải pháp này giả định rằng tất cả rủi ro có thể được phòng ngừa và nếu xuất hiện một cơ hội kiếm tiền mà không có rủi ro, thì cơ hội đó sẽ nhanh chóng mất đi (người ta thường gọi đây là giả định no arbitrage trong một thị trường hiệu quả). Nói cách khác, nhiều người làm tài chính đang giả định thị trường là hoàn hảo ở một khía cạnh nào đó trong cách tác nghiệp của mình, cho dù họ không thực sự tin thị trường là hoàn hảo.

    Điều này có ý nghĩa gì? Câu trả lời là nó làm trầm trọng tình hình khủng hoảng. Nói cách khác, thị trường không có khả năng tự sửa chữa sai lầm hay tự bảo vệ mình khi nó phát hiện ra đã có điều gì đó không ổn diễn ra.

    Có những rủi ro không thể (hay đúng ra là chưa thể) phòng ngừa được một cách thích hợp nhưng được giả định đã được phòng ngừa tốt. Ví dụ, rủi ro đối tác nhận phòng ngừa rủi ro phá sản, rủi ro của những sản phẩm phái sinh từ các khoản nợ dưới chuẩn, và rủi ro thị trường mất thanh khoản đột ngột...

    Bình thường, các rủi ro này xuất hiện thì mọi chuyện sóng yên, biển lặng, các chuyên gia về kỹ thuật tài chính (financial engineering) kiếm các khoản lương và thưởng 5, 6 con số; những chuyên gia về chứng khoán phát sinh từ nợ dưới chuẩn thì tha hồ kiếm hoa hồng từ việc bán các sản phẩm này. Đến khi xuất hiện một yếu tố gây sụp đổ một phần trong hệ thống tài chính, người ta mới giật mình nhận ra những cái gọi là phòng ngừa rủi ro hoàn toàn thất bại, và góp phần vào việc tạo ra khủng hoảng dây chuyền. Những ý tưởng này phần nào được Stiglitz, Taleb và nhiều học giả khác thừa nhận hay cảnh báo từ lâu. Nhưng ngành bảo hiểm và các sản phẩm phái sinh mới ra đời đã phớt lờ cảnh báo đó.

    Thị trường không hoàn hảo và yếu tố con người: thị trường sẽ mắc sai lầm

    Tuy nhiên, nếu các rủi ro thị trường không thể phòng ngừa được ở trên chỉ là yếu tố làm trầm trọng khủng hoảng, chứng tỏ là thị trường không thể tự sửa chữa sai lầm của mình, thì nó cũng không nhất định gây ra khủng hoảng. Nếu thị trường không mắc sai lầm thì sẽ không cần phải sửa chữa. Vấn đề là thị trường đã thực sự sai lầm. Khủng hoảng đến từ một yếu tố khác: yếu tố con người.

    Có nhiều luận điểm khác nhau để chỉ ra vì sao thị trường là sai lầm, nói cách khác, giá sản phẩm tài chính (giá cổ phiếu, trái phiếu, giá bất động sản, giá sản phẩm phát sinh từ nợ dưới chuẩn...) đều không đúng nữa vào thời điểm trước khủng hoảng. Những cơn sốt giá, và những đợt sụp đổ, là do những chủ thể tham gia thị trường đã đẩy thị trường đến những mức giá ?okhông đúng?. Điều này phá vỡ luận điểm của trường phái tin rằng thị trường sẽ luôn tự điều chỉnh về mức giá cân bằng và mức giá này ?ođúng?.

    Con người mắc sai lầm, và do đó thị trường mắc sai lầm. Và sau đó các định chế thị trường, các cơ chế phòng ngừa rủi ro, những thiết kế không hoàn hảo như người ta tưởng, đã không đủ sức sửa chữa một vài sai lầm ban đầu. Kết quả, chúng ta đối diện khủng hoảng tài chính.

    Hành vi phi đạo đức gây khủng hoảng

    Có nhiều trường phái mới nổi lên giải thích vì sao giá thị trường không đúng, vì sao thị trường vẫn có những cơ hội kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage opportunities) tồn tại lâu dài, vì sao tạo ra bong bóng và sụp đổ... trong đó viện dẫn nhiều nguyên nhân về bất cân xứng thông tin, về nhà đầu tư không hợp lý (trường phái tài chính hành vi mới nổi gần đây), về việc có nhiều loại các nhà đầu tư khác nhau, về thị trường hợp lý tối thiểu... Tuy nhiên, tìm kiếm đâu đó trong các lý thuyết này, trực tiếp hay gián tiếp, người ta ngụ ý rằng, tồn tại sự lừa gạt lẫn nhau, che giấu thông tin trên thị trường. Đó là vấn đề đạo đức, và là mầm mống căn bản của khủng hoảng.

    Giám đốc công ty phù phép số liệu lợi nhuận, thổi phồng giá cổ phiếu. Tổ chức tài chính bất chấp rủi ro, cứ bán sản phẩm phát sinh từ nợ dưới chuẩn vô tội vạ. Công ty xếp hạng tín nhiệm lại không biết vì động cơ gì, xếp hạng những loại chứng khoán từ nợ dưới chuẩn thuộc loại rất an toàn. Và giám đốc quỹ đầu tư không cần biết là giá của các loại chứng khoán này có bất hợp lý không, cứ thấy nó đang kiếm ra tiền là mua. Ngân hàng thương mại thoải mái chiêu dụ khách hàng không đủ điểm tín dụng đi vay mua nhà. Và còn nhiều nữa.
    Một người bạn của người viết đã có một nhận định đáng chú ý: khủng hoảng nào gần đây mà chẳng phải do đạo đức. Khủng hoảng 1997, hệ thống ngân hàng góp phần bằng việc cho vay vô tội vạ, đặc biệt là cho những tập đoàn tầm cỡ ?oquá lớn để đổ vỡ? vay. Năm 2000, là vụ việc Enron và các công ty dotcom, và nay, là vấn đề sản phẩm phái sinh từ nợ dưới chuẩn, mà sâu xa hơn là việc người ta khuyến khích người khác vay tiền mua nhà; người người mua nhà, nhà tăng giá, lại đem nhà thế chấp vay tiền. Đó là những tình huống mà lòng tham đã tạo ra những hành động phi đạo đức, vì lợi nhuận, bất chấp tất cả.

    Tiêu biểu là trường hợp Peter Kraus của Merrill Lynch bị ?ora đi? với khoản ?olương hưu? trị giá 10 triệu đô la Mỹ, gần như cùng lúc với tin Bank of America sẽ sa thải 500 nhân viên của Merril Lynch sau khi sáp nhập. Thật là một bức tranh tương phản gây nhiều suy nghĩ.

    Đối phó yếu tố phi đạo đức: pháp trị hay đức trị?

    Ngày càng nhiều người nhận ra rằng vấn đề đạo đức trở thành quan trọng trong việc duy trì một nền kinh tế khỏe mạnh. Trong ngành tài chính, các chứng chỉ như CFA chẳng hạn đều yêu cầu học các điều khoản về đạo đức. Các khóa học MBA bắt đầu nói nhiều hơn về đạo đức kinh doanh. Người ta đang cho rằng dạy về đạo đức kinh doanh thì sẽ ngăn ngừa được những hành vi phi đạo đức và ngăn ngừa khủng hoảng (?).

    Trong khi đó, một cách tiếp cận thực tế hơn (ít nhất là dưới mắt người viết), là việc siết chặt quản lý vốn đang bị bỏ lỏng quá nhiều đối với thị trường tài chính (nhất là thị trường Mỹ và những phương thức quản lý học theo kiểu của Mỹ). Đây có thể là cách nhìn pháp trị. Gần đây một số nước, bao gồm Mỹ, Pháp tỏ ra mạnh tay trong việc siết lại những ?ochiếc dù vàng? (tức các khoản bồi thường khi phải ra đi) của các nhà lãnh đạo các tập đoàn lớn đang tính ?ohạ cánh an toàn? trong khủng hoảng. Và nhiều người làm trong các tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn cũng đã bị quốc hội Mỹ ?ohỏi thăm? và ?ođể mắt? đến.

    Vậy là sau một thời kỳ người ta tin rằng hãy để thị trường tự điều chỉnh, nay người ta lại quay về với pháp trị. Điều đáng lo ngại là sau khi nới lỏng quá mức thì những luật định mới có thể lại quá khắt khe mà chưa chắc hiệu quả.

    Gợi ý cho Việt Nam

    Những thảo luận trên đây có thể tỏ ra có ích cho tình hình nước ta hiện nay. Chuyện suy đồi đạo đức gây khủng hoảng cho thấy cần phải chống tham nhũng và lãng phí mạnh hơn nữa.

    Thứ hai, Việt Nam cũng nên có giải pháp ngăn chặn những trường hợp kiểu ?ohạ cánh an toàn?. Những ?ochiếc dù vàng? ở Việt Nam có thể có nhiều dạng thức khác, không chỉ ở các tổ chức kinh doanh mà có thể ở đâu đó trong các tổ chức quản lý nền kinh tế hay là các tập đoàn lớn. Nó cũng là mầm mống gây khủng hoảng. Việc triệt tiêu những mầm mống này không thể chỉ bằng đức trị mà phải kết hợp với cả pháp trị.

    Thứ ba, như đã đề cập ở trên, thả lỏng quá rồi siết lại thì đúng nhưng siết theo kiểu dàn hàng ngang, không có mục tiêu cụ thể, thì không chừng siết chết động lực phát triển kinh tế. Vì vậy, khi điều chỉnh nới lỏng hay siết lại các hoạt động trong nền kinh tế, nên xem xét liều lượng cho phù hợp.

    Cuối cùng, là gợi ý về chuyện chống suy thoái. Không phải cứ có tiền kích cầu là có thể chống suy thoái. Từ chính sách đúng mà truyền động đến nền kinh tế thì phải thông qua con người. Con người mà không có hành động đúng trong trường hợp này thì dù có tiền cũng không đưa nền kinh tế về cân bằng được mà khủng hoảng trầm trọng hơn. Do đó, tiền và chính sách đúng để chống khủng hoảng chỉ mới là một mặt. Con người chống khủng hoảng mới là quan trọng. Vì chính con người là yếu tố quan trọng tạo ra khủng hoảng.

    Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online
  10. redbull77

    redbull77 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    31/05/2007
    Đã được thích:
    3
    KBC: Lỗ 365 tỷ đồng trong quý IV
    (CafeF) ?" Trong quý IV, CTCP Phát triển Đô thị Kinh Bắc (Mã CK: KBC) chỉ đạt 177 tỷ đồng doanh thu nhưng khoản giảm trừ doanh thu lại lên đến 573 tỷ đồng.


    Do phía KBC chỉ công bố báo cáo tài chính cả năm 2008 mà không công bố báo cáo tài chính quý IV nên những số liệu quý IV được tính ra qua so sánh giữa số liệu cả năm 2008 và số liệu lũy kế đến hết quý III.

    Lũy kế cả năm 2008, lợi nhuận trước thuế và sau thuế của KBC đạt lần lượt là 437 tỷ và 273,1 tỷ đồng.

    Trong khi đó, đến hết quý III, các kết quả tương ứng của KBC là 772,3 tỷ và 462 tỷ đồng.

    Như vậy có thể thấy lợi nhuận trước thuế của IV của KBC là -334,7 tỷ đồng.

    Nguyên nhân bị lỗ trong quý IV là do phát sinh khoản giảm trừ doanh thu lên tới 573 tỷ đồng trong khi doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chỉ đạt 177 tỷ đồng.

    Ngoài ra, chí phí tài chính cũng tăng mạnh, đạt 67,6 tỷ đồng ?" gấp 4 lần chi phí tài chính của cả 4 quý trước đó.

    Quốc Thắng

Chia sẻ trang này