BID - Khủng khiếp quá khủng khiếp - Cơ hội quá cơ hội - Mạnh và cực mạnh!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi dongtay79, 20/05/2017.

2598 người đang online, trong đó có 1039 thành viên. 10:49 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 24881 lượt đọc và 207 bài trả lời
  1. hoangketcau

    hoangketcau Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    22/04/2010
    Đã được thích:
    61.845
    Ae vẫn cầm BID hay xuống rồi?
  2. pine872003

    pine872003 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    10/05/2003
    Đã được thích:
    3.381
    Chưa phải lúc xuống :)
  3. camap512

    camap512 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/06/2010
    Đã được thích:
    121
    Bid đợt này tiền vào mạnh quá...2 phiên đầu tuần đã 26tr rồi...mai chắc đóng cửa trên 19
  4. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Mai đạp xuống mua thêm...;)
  5. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
  6. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Tin tốt dồn dập nhưng có lẽ nhiều người không hiểu nên nghĩ xấu,...:-@:-@:-@:-@

    Thứ 3, 23/05/2017, 08:24 PM

    TS Lê Xuân Nghĩa: Khả năng chống đỡ rủi ro của các ngân hàng Việt Nam đang rất thấp
    Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, chỉ cần một cú sốc tài chính từ bên ngoài hoặc từ thị trường tài sản (thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán) sẽ có tác động rất xấu đến toàn bộ hệ thống tài chính và nền kinh tế mà phải mất nhiều năm mới có thể khôi phục được.

    Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia tài chính ngân hàng việc xử lý nợ xấu và tái cấu trúc ngân hàng đang là vấn đề cấp bách nhất hiện nay. Theo báo cáo của các ngân hàng thương mại và VAMC thì tổng số nợ xấu chưa được xử lý vào khoảng 450 đến 500 nghàn tỷ đồng, tương đương với khoảng 20 đến 25 tỷ đô la.

    "Điều đáng quan ngại là số nợ xấu này tập trung vào một số ngân hàng yếu kém đang trong quá trình tái cơ cấu, với nguồn vốn bổ sung rất hạn chế. Mặc dù Chính phủ đã có đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD từ năm 2011, nhưng kết quả đạt được vẫn còn khá khiêm tốn. Chủ yếu là do nguồn lực tài chính hạn hẹp, không có nguồn lực tài chính tập trung đủ lớn để giải quyết nhanh nợ xấu. Mặt khác, Việt Nam vẫn chưa xây dựng được hành lang pháp lý đủ mạnh để xử lý nợ xấu nhanh và hiệu quả", ông Nghĩa nêu quan điểm.

    Theo chuyên gia, về cơ bản, việc xử lý nợ xấu cho đến nay dựa chủ yếu vào nguồn lực tài chính của hệ thống ngân hàng mà chủ yếu là thu hồi nợ, phát mại tài sản bảo đảm hoặc sử dụng dự phòng rủi ro được trích lập từ kết quả kinh doanh của chính các ngân hàng thương mại.

    Cho đến nay, các ngân hàng thương mại đã tự xử lý được khoảng 250 nghàn tỷ nợ xấu. Đây là những lỗ lực to lớn rất đáng ghi nhận của hệ thống ngân hàng, tuy nhiên điều này cũng khiến cho nền tảng tài chính của họ bị suy giảm nghiêm trọng. Khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại chỉ còn một nửa so với cách đây 10 năm và thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á, một số ngân hàng thương mại bị âm vốn tự có.

    "Điều này cho thấy khả năng chống đỡ rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam đang rất thấp và chỉ cần một cú sốc tài chính từ bên ngoài hoặc từ thị trường tài sản (thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán) sẽ có tác động rất xấu đến toàn bộ hệ thống tài chính và nền kinh tế mà phải mất nhiều năm mới có thể khôi phục được. Trong bối cảnh quốc tế hiện tại sự bất ổn của thị trường tài chính có thể diễn ra bất cứ lúc nào và với quy mô ngày càng lớn", chuyên gia đánh giá.

    Cần có hành lang pháp lý riêng để xử lý nợ xấu

    TS Lê Xuân Nghĩa cho biết thêm việc xử lý nợ xấu quy mô lớn trong mọi trường hợp theo kinh nghiệm quốc tế đều cần có hành lang pháp lý riêng, ví dụ như Hàn Quốc và Thái Lan năm 1997 mặc dù có sự hỗ trợ về nguồn lực tài chính rất lớn từ IMF khoảng 50 đến 70 tỷ đô la cũng phải có một hành lang pháp lý đặc biệt. Ví dụ các quy định quốc hữu hoá các ngân hàng tư nhân để tái cấu trúc và sau đó lại tư nhân hoá hoặc các quy định về quyền lực mua và bán nợ, quyền thu hồi tài sản đảm bảo để phát mại của các ngân hàng thương mại.

    Ở Việt Nam, nếu không có nguồn lực tài chính tập trung mà dựa vào năng lực tự tái cấu trúc của các ngân hàng thương mại thì càng đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý mạnh mẽ hơn nữa. Vì bản thân các ngân hàng thương mại không đủ quyền lực, quyền chủ nợ để thu hồi nợ, thu hồi tài sản đảm bảo hoặc mua bán nợ theo nguyên tắc thị trường mà không xung đột với các đạo luật có liên quan khác.

    Cho đến nay việc xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại và tại VAMC cần phải vượt qua những rào cản pháp lý, ví dụ như việc thu hồi tài sản bảo đảm, việc phát mại tài sản, việc thi hành án, việc tìm kiếm các nhà đầu tư mới để bổ sung vốn tự có, việc hạch toán ngoại bảng, việc xoá nợ bằng dự phòng rủi ro…vv. Những trở ngại pháp lý này đang khiến cho quá trình xử lý nợ xấu diễn ra chậm chạp, không hiệu quả, thậm chí làm lãng phí nguồn lực, ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng tài chính, khả năng mở rộng tín dụng và sức chống đỡ rủi ro của các ngân hàng thương mại, đông thời cũng ảnh hưởng đến việc giảm lãi suất, giảm chi phí đầu tư tài chính và khả năng tiếp cận vốn tín dụng của các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

    Ông Nghĩa chỉ ra trong một vài năm tới, nhiều khoản nợ xấu từ VAMC lại được trả về cho các ngân hàng thương mại trong khi các ngân hàng này hiện tại đang chật vật để xử lý các khoản nợ xấu chưa bán cho VMC thì những khó khăn về xử lý nợ xấu và tái cấu trúc của các ngân hàng này sẽ tăng lên gấp bội. Điều đó có thể làm ảnh nghiêm trọng đến an toàn tài chính của cả hệ thống ngân hàng.

    "Vì vậy, hơn lúc nào hết các cơ quan quyền lực nhà nước cần phải có quyết tâm chính trị đủ mạnh để vượt qua tư duy làm luật kiểu cũ, xây dựng nhanh một hành lang pháp lý riêng làm nền tảng cho các ngân hàng thương mại thực hiện thành công tiến trình xử lý nợ xấu như đã được đề ra trong đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD của Chính phủ. Đây cũng là giải pháp duy nhất để đảm bảo cho việc ổn định vững chắc toàn bộ khu vực tài chính và góp phần quyết định vào việc ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững của Việt Nam trong những năm tới", vị chuyên gia nhận định.
  7. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Kể cả tin này là tốt mà,...nhiều người có lẽ khó hiểu tại sao!

    Moody cảnh báo mức độ rủi ro của ngành ngân hàng Việt Nam
    Thứ Ba | 23/05/2017 14:52

    [​IMG]

    Rủi ro của ngành ngân hàng Việt Nam được coi là nghiêm trọng nhất trong số các quốc gia được Moody's xếp hạng ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương
    Dịch vụ tư vấn Moody’s Investors Service vừa cho biết, mức xếp hạng tín dụng B1 và triển vọng tích cực của Việt Nam phản ánh kỳ vọng rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mạnh mẽ sẽ tiếp tục giúp nền kinh tế của Việt Nam da dạng hóa nhiều hơn, khi so sánh với các nước có cùng xếp hạng.

    Moody's lưu ý thêm rằng tăng trưởng GDP của Việt Nam tiếp tục mạnh mẽ, cùng với sự ổn định về kinh tế vĩ mô và tình hình thế giới, là một điều kiện thuận lợi cho việc ổn định gánh nặng nợ của chính phủ.

    Mức xếp hạng B1 đối với trái phiếu do Việt Nam phát hành thể hiện quy mô và tính đa dạng của nền kinh tế nước này so với các nước có cùng xếp hạng. Việt Nam cũng đã cải thiện các đánh giá về chất lượng thể chế trong 4 năm qua, đặc biệt là về hiệu quả của chính phủ, mặc dù có xuất phát điểm không cao.

    Đánh giá chung trái phiếu chính phủ Việt Nam ở mức B1 Tích cực, báo cáo của Moody's cũng bao gồm các điểm cụ thể sau: Sức mạnh Kinh tế ở mức Cao (-); Sức mạnh Thể chế ở mức Thấp (+); Sức mạnh Tài chính ở mức Trung bình (-); Độ nhạy cảm với các Sự kiện Rủi ro ở mức Cao. Đây là bốn yếu tố chính trong Phương pháp Đánh giá Xếp hạng Trái phiếu Chính phủ của Moody's.

    Tuy nhiên, Moody's cũng cho rằng hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn là một hạn chế quan trọng. Việc phục hồi nhu cầu trong nước từ năm 2015 cũng trùng hợp với sự tăng trưởng tín dụng nhanh chóng, đặt ra một thách thức cho một hệ thống ngân hàng vốn đang bị ảnh hưởng bởi tình trạng thiếu vốn và các khoản nợ xấu triền miên.

    Moody's cho rằng những tiến bộ của Việt Nam trong khả năng cạnh tranh và cải cách một phần là do sự gia nhập một số hiệp định thương mại tự do trong những năm gần đây. Nền kinh tế Việt Nam có thế mạnh trong một loạt các ngành, bao gồm hàng hoá mềm; các ngành sản xuất thâm dụnglao động như giày dép và hàng dệt may; và gần đây có thêm các ngành sản xuất có giá trị gia tăng vừa phải, bao gồm điện thoại di động và các thiết bị điện tử khác.

    Về mặt tăng trưởng kinh tế, Moody's dự báo tăng trưởng GDP thực trong năm 2017 ở mức 6,5%, thấp hơn một chút so với mục tiêu của chính phủ là 6,7%. Sự cải thiện của môi trường bên ngoài đã giúp cải thiện xuất khẩu trong bốn tháng đầu năm, tăng 16,4% so với năm trước theo trị giá tính bằng USD, so với mức tăng 9,1% trong cả năm 2016.

    Việc tăng cường sức cạnh tranh và tiến độ cải cách của Việt Nam đã thúc đẩy dòng vốn FDI chảy vào, đạt mức trung bình 5,2% GDP trong giai đoạn 2014-2016, cao hơn mức trung bình 3,1% của các nước xếp hạng B1.

    Một nguy cơ đối với triển vọng kinh tế của Việt Nam là sự bảo hộ tăng lên từ các đối tác thương mại chính; đây cũng là rủi ro ảnh hưởng đến hệ thống thương mại toàn cầu nói chung. Một sự thay đổi trong chính sách của Mỹ theo hướng bảo hộ sẽ làm thương mại toàn cầu giảm đáng kể và dài lâu, điều này sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, vốn phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế.

    Chỉ số sức mạnh Tài chính của Việt Nam được đánh giá "Trung bình (-)" do tỷ lệ nợ công khoảng 50% -55% GDP và khả năng chi trả nợ cao. Nó cũng bao hàm sự suy giảm của các chỉ số này trong những năm gần đây. Các biện pháp kiểm soát thâm hụt là đủ để ngăn chặn sự gia tăng nợ chính phủ từ mức của năm 2016, dù thâm hụt vẫn sẽ tăng nhẹ trong trung hạn.

    Nợ công, bao gồm các khoản nợ do chính phủ bảo lãnh, đã ở mức 63,7% GDP vào năm 2016, gần sát giới hạn 65% của Chính phủ, khiến Việt Nam chậm phát hành các khoản bảo lãnh mới.

    Độ nhạy cảm cao của Việt Nam đối với các sự kiện rủi ro tiếp tục bị chi phối bởi rủi ro trong ngành ngân hàng, vốn được coi là nghiêm trọng nhất trong số các quốc gia được Moody's xếp hạng ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

    Tuy nhiên, rủi ro thanh khoản của chính phủ được đánh giá là 'Thấp' do yêu cầu vay nợ vừa phải và tỷ lệ sở hữu nợ của nước ngoài ở mức thấp. Hơn nữa, chính phủ đã củng cố việc tiếp cận thị trường quốc tế, và đã phát hành nhiều trái phiếu bằng USD trong thập kỷ qua.

    Quỳnh Như
  8. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Nếu điều đó là đúng thì sau chuyến đi của Thủ Tướng có kết quả thì giá BID làm ấm lòng cổ đông!

    Thứ 3, 23/05/2017, 09:15 PM

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ thăm chính thức Hoa Kỳ
    Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc sẽ thăm chính thức Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
    Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 23-5 đã ra thông cáo về chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tới đây.

    Theo đó, thông cáo nêu rõ: “Nhận lời mời của Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Donald Trump, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc sẽ thăm chính thức Hợp chúng quốc Hoa Kỳ từ ngày 29 đến ngày 31 tháng 5 năm 2017.

    Theo Viết Thịnh
    Pháp luật TPHCM
  9. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    21:23 | 23/05/2017
    Bản in Email
    Cần nhanh chóng tháo gỡ 'nút thắt' trong việc xử lý nợ xấu
    Cơ chế, chính sách, pháp luật về xử lý nợ xấu (XLNX) chưa hoàn thiện, quy định của pháp luật đối với việc xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) thu hồi nợ còn nhiều bất cập, chưa bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp, chính đáng của các TCTD, làm hạn chế hiệu quả của việc XLNX.

    [​IMG]Sửa đổi, bổ sung Luật các TCTD: Không kịp thời sẽ kéo theo nhiều hệ lụy
    [​IMG]Gỡ “điểm nghẽn” trong xử lý nợ xấu
    [​IMG]Xử lý nợ xấu: Vẫn thiếu một cơ chế pháp lý đủ mạnh
    Đó là những vấn đề được bàn thảo sôi nổi tại Hội thảo “Xử lý nợ xấu - Từ góc độ chính sách và pháp luật” do Báo Đại biểu nhân dân tổ chức chiều ngày 23/5/2017, tại Hà Nội dưới sự chủ trì của các Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội: Nguyễn Đức Kiên, Dương Quốc Anh và PGS.TS Nguyễn Kim Anh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam...

    [​IMG]
    Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh phát biểu tại Hội thảo
    Cơ chế cản bước xử lý nợ xấu

    Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của NHNN, thời gian qua các TCTD đã tích cực nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng và XLNX, đặc biệt là nỗ lực tự XLNX bằng các biện pháp đôn đốc thu hồi nợ, phát mại tài sản để thu hồi nợ, sử dụng dự phòng rủi ro…

    Kết quả, tính đến thời điểm 1/2017, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 616,7 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Trong đó, nợ xấu do các TCTD tự xử lý là 349,7 nghìn tỷ đồng (chiếm 56,7% tổng số nợ xấu được xử lý), còn lại là bán nợ cho các tổ chức, cá nhân khác (chiếm 43,3%). Nhờ đó, đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 2/2017 về mức 2,56% tổng dư nợ tín dụng. Kết quả xử lý nợ xấu của TCTD qua VAMC, lũy kế từ năm 2013 đến 31/3/2017, tổng số tiền thu hồi nợ qua VAMC đạt 53.236 tỷ đồng.

    Tuy nhiên, số nợ xấu hiện vẫn đang nằm trong bảng cân đối của các TCTD và nợ xấu đã bán cho VAMC chưa xử lý được đang chiếm một tỷ lệ khá cao là 5,8%/tổng dư nợ tín dụng và đầu tư đối với nền kinh tế của các TCTD. Nếu tính cả số nợ có khả năng cao chuyển thành nợ xấu trong thời gian tới thì tỷ lệ này đương nhiên cao hơn.

    [​IMG]
    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Đức Kiên phát biểu tại Hội thảo
    Một câu hỏi luôn đặt ra là “Tại sao lại chưa xử lý được dứt điểm số nợ xấu đó?”. Theo Phó Thống đốc Nguyễn Kim Anh, quá trình tổng kết cho thấy một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đó là do cơ chế, chính sách, pháp luật về XLNX chưa hoàn thiện và còn nhiều bất cập làm giảm hiệu quả của việc XLNX, nằm ở ba điểm mấu chốt.

    Thứ nhất nằm ở việc chưa bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của các TCTD. Như về việc mua bán khoản nợ xấu có TSBĐ là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất: Trong quá trình tổ chức mua nợ, VAMC xử lý nợ đã mua, khách hàng vay đồng ý bổ sung thêm tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nhưng theo các quy định tại Điều 174, 175, 176 Luật Đất đai 2013, VAMC, tổ chức mua nợ không được nhận thế chấp quyền sử dụng đất. Tương tự, khi VAMC, TCTD bán lại khoản nợ xấu đã mua cho bên mua nợ là các cá nhân, tổ chức không phải là TCTD thì các cá nhân, tổ chức này cũng không được nhận thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai. Do vậy, VAMC, TCTD sẽ khó có thể bán những khoản nợ xấu có TSBĐ là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cho cá nhân, tổ chức không phải là TCTD.

    Thứ hai, các quy định của pháp luật về xử lý TSBĐ còn nhiều vướng mắc, bất cập, không bảo đảm quyền xử lý TSBĐ của bên nhận bảo đảm như về quyền thu giữ tài sản. Bộ Luật Dân sự 2015 đã bỏ quyền thu giữ TSBĐ của bên nhận bảo đảm, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Điều này sẽ gây khó khăn rất lớn đến quyền xử lý TSBĐ của VAMC, TCTD. Bởi VAMC cũng như các TCTD không thể chủ động thu giữ nếu các chủ tài sản không đồng thuận, cố tình chống đối, thậm chí tạo ra các tranh chấp khác liên quan đến TSBĐ để khởi kiện ra tòa nhằm kéo dài thời gian xử lý.

    Thứ ba, thời gian xử lý nợ, TSBĐ qua tòa án không hiệu quả (thời gian giải quyết khoảng 400 ngày, nhưng thực tế là khoảng 2 năm. Chi phí chiếm khoảng 29% giá trị đòi nợ, chỉ số chất lượng tố tụng tư pháp của Việt Nam chỉ đạt 6,5/18). Trong khi đó, pháp luật về tố tụng dân sự chưa cho phép áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao TSBĐ của bên bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm.

    Hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ "nút thắt" xử lý nợ xấu

    Vì vậy, theo Phó Thống đốc, đây là những khó khăn, vướng mắc liên quan đến nhiều Luật hiện hành. “Để tháo gỡ triệt để được những khó khăn, vướng mắc này và thúc đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với XLNX trong giai đoạn 2016 - 2020, cần thiết phải có một văn bản pháp lý do Quốc hội ban hành mới đảm bảo tính pháp lý và khả thi trong tổ chức thực hiện”, Phó Thống đốc nhấn mạnh.

    Hiện trong tổng số nợ xấu được xử lý, hình thức bán, phát mại TSBĐ để thu hồi nợ ở mức khá thấp, đạt 17,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 2,8% tổng nợ xấu được xử lý). Phải thừa nhận rằng, việc xử lý hiệu quả TSBD đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật được xây dựng một cách đồng bộ, minh bạch, phù hợp, tôn trọng quyền chủ nợ hợp pháp, chính đáng của bên cho vay, tạo lập được khuôn khổ pháp lý cho các bên liên quan. Đặc biệt là chủ nợ thực thi được quyền hợp pháp của mình theo thỏa thuận, thiết lập được cơ chế, cách thức cho phép các bên lựa chọn được cách xử lý nhanh chóng, thuận tiện, tối đa hóa được giá trị thu nợ từ TSBĐ. Đồng thời, hệ thống pháp luật này phải được các cơ quan, tổ chức liên quan, các bên tham gia giao dịch thực hiện nghiêm minh.

    [​IMG]
    Toàn cảnh Hội thảo
    Cùng với việc phản ánh, thảo luận về nhiều bất cập trong các quy định hiện hành và thực tế của các TCTD trong xử lý TSBĐ, Hội thảo ghi nhận nhiều kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quyền xử lý TSBĐ của các TCTD cũng như trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền xử lý TSBĐ của cơ quan tư pháp các cấp.

    Các diễn giả cho rằng, quan điểm xây dựng và thực thi pháp luật hiện nay cần phải được thay đổi. Với vai trò là trung gian tài chính, số tiền TCTD cho vay được huy động từ người gửi tiền. Trong khi việc không cho phép thực hiện quyền thu giữ TSBĐ của TCTD sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng thu hồi nợ của TCTD, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản, khả năng chi trả các khoản tiền gửi đến hạn đã huy động để cho vay trước đây (tiền gửi của cá nhân).

    Hay nói cách khác, việc bảo vệ quyền của khách hàng chây ỳ, vi phạm cam kết theo hợp đồng sẽ có thể ảnh hưởng lớn đến quyền hợp pháp của đa số người gửi tiền, tiềm ẩn rủi ro gây mất an toàn hệ thống TCTD, an toàn trật tự xã hội. Do vậy, việc cho phép TCTD được quyền thu giữ TSBĐ là biện pháp quan trọng để bảo đảm quyền lợi người gửi tiền phù hợp với Nghị quyết của Đảng, Quốc hội.

    Phát biểu tại Hội thảo, các đại biểu đều cho rằng: Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý XLNX bằng việc ban hành một văn bản chuyên ngành để XLNX dưới hình thức Nghị quyết của Quốc hội là rất cần thiết, phù hợp, nhằm thể chế hóa chủ trương chính sách của Đảng và cần thực hiện ngay để kịp thời thực hiện các nhiệm vụ theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn.

    Các chính sách quy định tại dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu của các TCTD mà Chính phủ trình Quốc hội tại kỳ họ thứ 3 này được đánh giá là thiết thực, cần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo đảm tính khả thi, bảo đảm quyền chủ nợ hợp pháp, chính sách của TCTD, VAMC, quyền lợi của người gửi tiền, cũng như các bên có liên quan. Khắc phục các vướng mắc, bất cập của hệ thống pháp luật về XLNX, xử lý TSBĐ trong thời quan qua.

    Bên cạnh đó, các đại biểu cũng đã đánh giá cao những nội dung quy định tại dự thảo Nghị quyết. Trong đó nhấn mạnh đến vai trò của các cơ quan nhà nước, từ các cơ quan Chính phủ cho đến các cơ quan tư pháp trong quá trình giám sát, triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết này có ý nghĩa quan trọng để bảo đảm khả năng thực thi của Nghị quyết trong thực tế.

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội Nguyễn Đức Kiên

    Điểm chú ý trong Dự thảo Nghị quyết này là không phân biệt nợ xấu của NHTMNN hay NHTMCP. Nghị quyết này chỉ xử lý số nợ xấu đến ngày 31/12/2016. Với các nợ xấu hình thành từ năm 2017, các ngân hàng phải thực hiện theo Luật các TCTD hiện hành và cần thiết sẽ phải sửa đổi một số điều như trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật TCTD mà Quốc hội sẽ xem xét bỏ phiếu thông qua vào kì họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV.

    Quan điểm của Ủy ban Kinh tế Quốc hội là không dùng tiền ngân sách để XLNX và mọi việc phải tuân thủ theo Hiến pháp. Nghị quyết không kéo dài tránh tình trạng ỷ lại ở các NH và Nghị quyết ra là có hiệu lực ngay. Tinh thần Nghị quyết là đảm bảo theo nguyên tắc thị trường. Không loại trừ trách nhiệm hình sự các cá nhân sai phạm, gây ra nợ xấu.

    Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh

    Các nội dung của dự thảo Nghị quyết đã được NHNN, các bộ, ngành và Chính phủ chuẩn bị công phu trên cơ sở nghiên cứu thấu đáo các quy định của Hiến pháp, pháp luật hiện hành có liên quan; kinh nghiệm XLNX trong nước thời gian qua cũng như thông lệ quốc tế. Có thể nói, Bản dự thảo Nghị quyết là sản phẩm chung của nhiều cơ quan, nhiều chuyên gia, nhiều luật sư nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi và hiệu quả khi tổ chức thực hiện.
  10. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Thứ 3, 23/05/2017, 07:11 PM

    Điểm nghẽn xử lý nợ xấu chính là tài sản đảm bảo
    Trong 5 năm qua, nợ xấu đã xử lý được hơn 600 nghìn tỷ đồng, trong đó hình thức bán, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ ở mức khá thấp 17,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 2,8% tổng nợ xấu được xử lý).

    Chiều ngày 23/5, Ngân hàng Nhà nước phối hợp với báo Đại biểu nhân dân tổ chức Hội thảo Xử lý nợ xấu – từ góc độ chính sách và pháp luật.

    Nợ xấu là phần rủi ro trong hoạt động tín dụng mà TCTD phải gánh chịu trong quá trình cho vay, là hiện tượng luôn tồn tại trong hoạt động của các ngân hàng trên thế giới cũng như ở Việt Nam.

    Xét về nguyên nhân của các khoản nợ xấu, có thể thấy, nợ xấu của hệ thống ngân hàng gia tăng không có nghĩa là do ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, mà xuất phát từ những khách hàng vay không trả được nợ. Đặc biệt ở Việt Nam, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đến nay, nền kinh tế nước ta đã chịu tác động tiêu cực và kinh tế vĩ mô có nhiều yếu tố không thuận lợi. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn và đây là nguyên nhân chính dẫn đến nợ xấu...Có thể nói nợ xấu là vấn đề của cả nền kinh tế và để giải quyết nợ xấu.

    Tính đến đầu năm 2017, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 616,7 nghìn tỷ đồng nợ xấu (nợ xấu được xử lý năm 2012: 74,68 nghìn tỷ đồng; năm 2013: 87,98 nghìn tỷ đồng; năm 2014: 143,55 nghìn tỷ đồng; năm 2015: 186,89 nghìn tỷ đồng; năm 2016: 118,49 nghìn tỷ đồng và tháng 01/2017 là 5,14 nghìn tỷ đồng), trong đó nợ xấu do các TCTD tự xử lý là 349,7 nghìn tỷ đồng (chiếm 56,7% tổng số nợ xấu được xử lý), còn lại là bán nợ cho các tổ chức, cá nhân khác (chiếm 43,3%). Theo đó, nợ xấu đã được kiềm chế, đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 02/2017 về mức 2,56% tổng dư nợ tín dụng. Kết quả xử lý nợ xấu của TCTD qua VAMC, lũy kế từ năm 2013 đến 31/3/2017, tổng số tiền thu hồi nợ qua VAMC đạt 53.236 tỷ đồng.

    Quá trình xử lý nợ xấu đến nay cho thấy còn nhiều khó khăn vướng mắc chưa được tháo gỡ, đặc biệt quy định của pháp luật đối với việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ còn nhiều bất cập làm hạn chế hiệu quả của việc xử lý nợ xấu.

    Trong tổng số nợ xấu được xử lý, thì hình thức bán, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ ở mức khá thấp 17,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 2,8% tổng nợ xấu được xử lý).

    Việc xử lý hiệu quả TSBĐ đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật được xây dựng một cách đồng bộ, minh bạch, phù hợp, tôn trọng quyền chủ nợ hợp pháp, chính đáng của bên cho vay, tạo lập được khuôn khổ pháp lý cho các bên liên quan, đặc biệt là chủ nợ thực thi được quyền hợp pháp của mình theo thỏa thuận, thiết lập được cơ chế, cách thức cho phép các bên lựa chọn được cách xử lý nhanh chóng, thuận tiện, tối đa hóa được giá trị thu nợ từ tài sản đảm bảo. Đồng thời, hệ thống pháp luật này phải được các cơ quan, tổ chức liên quan, các bên tham gia giao dịch thực hiện nghiêm minh.

    Cùng với việc phản ánh, thảo luận về nhiều bất cập trong các quy định hiện hành và thực tế của các TCTD trong xử lý TSBĐ, Hội thảo ghi nhận nhiều kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quyền xử lý TSBĐ của các TCTD cũng như trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền xử lý TSBĐ của cơ quan tư pháp các cấp. Các diễn giả cho rằng, quan điểm xây dựng và thực thi pháp luật hiện nay cần phải được thay đổi.

    Với vai trò là trung gian tài chính, số tiền TCTD cho vay được huy động từ người gửi tiền. Việc không cho phép thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm của TCTD sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng thu hồi nợ của TCTD, có thể gây ra tình trạng TCTD không thu hồi được các khoản nợ này. Khi TCTD không thu hồi được nợ thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản, khả năng chi trả các khoản tiền gửi đến hạn đã huy động để cho vay trước đây (tiền gửi của cá nhân).

    Như vậy, việc TCTD không được quyền thu giữ tài sản bảo đảm như các quy định trước đây có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đa số người gửi tiền. Hay nói cách khác, việc bảo vệ quyền của khách hàng chây ỳ, vi phạm cam kết theo hợp đồng sẽ có thể ảnh hưởng lớn đến quyền hợp pháp của đa số người gửi tiền, tiềm ẩn rủi ro gây mất an toàn hệ thống TCTD, an toàn trật tự xã hội. Do vậy, việc cho phép TCTD được quyền thu giữ tài sản bảo đảm là biện pháp quan trọng để bảo đảm quyền lợi người gửi tiền phù hợp với Nghị quyết của Đảng,Quốc hội.

    Phát biểu tại Hội thảo các đại biểu cho rằng, việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý xử lý nợ xấu bằng việc ban hành một văn bản chuyên ngành để xử lý nợ xấu dưới hình thức Nghị quyết của Quốc hội là rất cần thiết, phù hợp, nhằm thể chế hóa chủ trương chính sách của Đảng và cần thực hiện ngay để kịp thời thực hiện các nhiệm vụ theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, cũng như đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn. Các chính sách quy định tại Nghị quyết được đánh giá là thiết thực, cần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo đảm tính khả thi, bảo đảm quyền chủ nợ hợp pháp, chính sách của TCTD, VAMC, quyền lợi của người gửi tiền, cũng như các bên có liên quan; khắc phục các vướng mắc, bất cập của hệ thống pháp luật về xử lý nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm trong thời quan qua.

    Bên cạnh đó, các đại biểu cũng đã đánh giá cao những nội dung quy định tại dự thảo Nghị quyết, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của các cơ quan nhà nước, từ các cơ quan Chính phủ cho đến các cơ quan tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) trong quá trình giám sát, triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết này có ý nghĩa quan trọng để bảo đảm khả năng thực thi của Nghị quyết trong thực tế.

Chia sẻ trang này