****************Breaking News!*****************

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi CTGMvst, 20/04/2008.

807 người đang online, trong đó có 323 thành viên. 17:27 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 1148 lượt đọc và 16 bài trả lời
  1. CTGMvst

    CTGMvst Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    22/04/2007
    Đã được thích:
    0

    Hô... đi ngang, híc!
  2. phamhongphuong

    phamhongphuong Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    23/06/2005
    Đã được thích:
    0
    Nhận định phân tích thì phải là lên hoặc xuống chứ ko thì nhận định gì?
  3. CTGMvst

    CTGMvst Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    22/04/2007
    Đã được thích:
    0
    http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/sukien/4882/

    Không thể thờ ơ

    (TBKTSG) - Không thể thờ ơ hơn nữa với tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán của Việt Nam, bởi đó là một trong ba ngòi nổ của khủng hoảng kinh tế. Đó là quan điểm của Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển các ngân hàng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), ông Lê Xuân Nghĩa.

    TBKTSG: Cán cân thanh toán của Việt Nam thời điểm này, theo ông, có đáng lo ngại chưa?

    - Ông LÊ XUÂN NGHĨA: Cán cân thanh toán của một quốc gia là một trong ba ngòi nổ của khủng hoảng kinh tế (bên cạnh tình trạng bong bóng trên thị trường bất động sản và tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng - NV).

    Người ta đang nói nhiều về cán cân thanh toán của Mỹ trong đó thâm hụt thương mại lên tới trên 700 tỉ đô la, là vấn đề trầm trọng không chỉ với kinh tế Mỹ. Nhưng mức thâm hụt đó mới chỉ bằng 5% GDP của Mỹ, tuy cao nhưng chưa nguy hiểm. Trong khi Việt Nam hiện thâm hụt thương mại lên tới 16-17% GDP và quí 1 năm nay, mức thâm hụt lên đến 7,4 tỉ đô la Mỹ, là mức lớn nhất từ trước tới nay.

    Cái tai hại của thâm hụt thương mại là được tài trợ bởi luồng vốn ngắn hạn. Trong trường hợp các luồng vốn ngắn hạn này ra khỏi Việt Nam (đảo chiều), các khoản nợ sẽ rất nghiêm trọng, lúc bấy giờ muốn phục hồi cán cân thương mại thì phải phá giá đồng tiền và mất ổn định kinh tế vĩ mô.

    TBKTSG: Vì sao cán cân thanh toán của Việt Nam có vấn đề?

    - Theo tính toán của chúng tôi, có mấy con đường khiến cán cân thanh toán ngày càng trở nên trầm trọng. Thứ nhất, vốn nước ngoài vào làm thu nhập dân cư trong nước tăng lên trong khi các khoản đầu tư khác của Nhà nước vào khu vực sản xuất, hay đầu tư công của Chính phủ tuy lớn nhưng chưa cho ra sản phẩm và thu nhập ngay. Chính vì vậy, cầu tiêu dùng được đẩy lên rất lớn.

    Thống kê về nhập khẩu được công bố cho thấy nhập khẩu hàng tiêu dùng không nhiều nhưng tôi cho rằng đó là con số thống kê không chính xác, bởi hàng hóa nước ngoài đang tràn ngập trên thị trường. Đại bộ phận hàng tiêu dùng hiện nay đều được nhập từ Thái Lan và Trung Quốc nhưng không biết đường nào, kể cả gạo. Hàng nhập qua đường tiểu ngạch chưa được thống kê, song phải nói là rất lớn.

    Quí 1 vừa qua, một số nhà xuất khẩu có ngoại tệ không bán được cho ngân hàng nên tìm cách nhập hàng về bán trong nước lấy tiền đồng, vừa bán được ngoại tệ vừa có lợi nhuận nhờ nhập khẩu. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam có giấy phép xuất nhập khẩu nên làm việc đó đơn giản. Điều đó khiến nhà nhập khẩu chuyên nghiệp khan hiếm ngoại tệ, phải vay trên thị trường ngân hàng. Và gần đây, thanh khoản ngoại tệ của ngân hàng bắt đầu khó khăn.

    Một yếu tố khác, hầu hết hàng xuất khẩu Việt Nam có hàm lượng nhập khẩu lớn. Nhiều nguyên liệu gần đây trở nên đắt đỏ, giá trị nhập khẩu cũng tăng lên rất nhanh. Với việc kiên quyết chống lạm phát thì một ngày nào đó giá đầu ra sẽ không thể bù đắp chi phí đầu vào nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn ít sẽ gặp khó khăn lớn, thậm chí có thể làm đình đốn một số cơ sở sản xuất trong nước.

    Nếu xét theo một chuẩn khác thì trước khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, một loạt các nước Đông Nam Á có chỉ tiêu kinh tế vĩ mô lành mạnh, song chỉ có hai điểm không lành mạnh là bong bóng bất động sản và thâm hụt thương mại lên tới 12-13% GDP. Một số nhà kinh tế đã dự báo đó sẽ là ngòi nổ khủng hoảng, nhưng không mấy ai tin, và thực tế đã đúng vậy. Việt Nam hiện cũng vậy, ngoài những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chung như thâm hụt ngân sách, lạm phát, ICOR cao thì chúng ta cũng gặp bong bóng bất động sản.

    TBKTSG: Một quan chức của NHNN tuyên bố rằng dư nợ tín dụng bất động sản chỉ khoảng 10%, hình như ông quá lo về ngòi nổ này?

    - Bong bóng bất động sản ở Mỹ so với giá trị thực chỉ có 10% đã nguy hiểm còn ở Việt Nam, bong bóng này so với giá trị thực bao nhiêu không ai biết. Bởi cơ chế quản lý, giá nhà nước một đường thị trường một nẻo, quyền mua bán thuộc chính quyền địa phương và những ai chạy được dự án mới có cơ hội nắm cung bất động sản. Đây mới là những cái lớn, nhà hoạch định chính sách cần để ý chứ không phải mấy cá nhân mua nhà này bán nhà kia. Hầu hết các dự án có được nhờ xin-cho mới là nơi tập trung phần lớn vốn bất động sản.

    Bất động sản đang căng thẳng vì thiếu vốn, vì chứng khoán, vì những tác động xấu bên ngoài. Thị trường bất động sản nếu sụp đổ sẽ đánh thẳng vào hệ thống ngân hàng, nơi cả cho vay, cả thế chấp đang lên tới 50-60% tổng tài sản của các ngân hàng. Không ngân sách nào của Việt Nam chịu đựng nổi. Đó là điều rất đáng lo ngại.

    TBKTSG: NHNN liệu có đưa ra một Chỉ thị 03 bất động sản?

    - Không, từng ngân hàng thương mại cũng sợ và đã cẩn thận hơn trong cho vay bất động sản. Song, cần nói lại là khả năng kiểm soát của NHNN cũng đáng nghi ngờ bởi đáng lẽ khi phát sinh những khoản đầu tư vào bất động sản anh phải biết rồi chứ không phải để chúng lên rất cao rồi mới thanh tra, cũng như khi phát hiện có ngân hàng cho vay chứng khoán quá nhiều rồi anh mới điều tra, mới công bố biện pháp thì quá chậm. Hệ thống thông tin quản lý quá yếu và không có công cụ nên chính sách giật cục là vì thế.

    TBKTSG: Vậy là chúng ta sẽ không thể đảo chiều thâm hụt thương mại ngay lập tức?

    - Việc giảm thâm hụt thương mại có tác động kinh tế vĩ mô rất quan trọng, giúp kinh tế ổn định và giúp các doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa không bị tiêu diệt bởi hàng hóa ngoại. Một mình thâm hụt thương mại không ghê gớm nhưng nếu cộng với cân đối vĩ mô khác và bong bóng bất động sản, với tình trạng ta đã mở cửa thị trường vốn (vốn vào và ra đều có thể rất nhanh) nên đã đến lúc chúng ta không thể thờ ơ.

    Chính phủ dường như đã nhận ra điều này và bắt đầu có nhiều biện pháp giảm nhập khẩu. Đó là những điều cần thiết. Điều quan trọng nhất trong điều kiện mở cửa là dự báo và phản ứng trước, nếu sai cũng đừng đột ngột quay trở lại mà phải từ từ vì không có gì đột ngột mà thành công được.

    Bao nhiêu năm trời, chúng ta mới thâm hụt đến mức ấy, muốn đảo chiều thâm hụt thương mại mạnh mẽ nhất là làm tiền đồng yếu đi một cách quyết liệt, có thể đến mức 17.000 đồng hay 18.000 đồng ăn 1 đô la Mỹ. Lúc đó nhập khẩu có thể giảm ngay nhưng cái giá về tỷ giá phải trả là rất lớn. Cần phải thăm dò sức chịu đựng của thị trường trước khi đưa ra chính sách.

    Chính chúng ta đã đẻ ra lạm phát do chạy theo tăng trưởng, vì vậy khi lạm phát đã lên cao rồi thì hãy lặng lẽ kéo về, không thể nóng vội bằng những biện pháp khẩn cấp. Lạm phát như cholesterol trong máu, khi tỷ lệ này quá cao ta phải hạ từ từ xuống, nhưng thanh khoản lại là máu, không có nó thì chống cholesterol vô nghĩa. Thanh khoản mà lung lay thì vô phương cứu chữa.

    TBKTSG: Nhưng chúng ta còn những khoản tài trợ khác với cán cân thanh toán?

    - Thâm hụt thương mại được bù đắp một phần bằng kiều hối. Rất may là nguồn kiều hối của Việt Nam khá lớn. Trong cán cân thanh toán quốc tế năm 2007, kiều hối khoảng 6,5 tỉ đô la, bằng vốn đầu tư gián tiếp (FII). Nguồn này tương đối ổn định, không chạy ra chạy vào kiểu đầu cơ. Gần như một nửa thâm hụt thương mại của chúng ta được tài trợ bởi kiều hối.

    TBKTSG: NHNN có kế hoạch tăng dự trữ ngoại hối ra sao?

    - Chính phủ đang tiếp tục tăng dự trữ ngoại hối. Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam so với các nước trong khu vực hiện đang thấp, bằng khoảng một phần ba tổng kim ngạch nhập khẩu trong khi Thái Lan, Singapore hay Malaysia tỷ lệ này là hai phần ba đến ba phần tư.

    Chúng ta mở cửa thị trường tài chính, nên nhà đầu tư sẽ nhìn vào dự trữ ngoại hối. Họ cần biết nếu họ tháo chạy (bằng ngoại tệ) thì liệu quốc gia đó có đủ ngoại tệ bán cho họ hay không. Dự trữ ngoại tệ là bảo lãnh cho đầu tư, đặc biệt là cho những nhà đầu tư gián tiếp. Dự trữ ngoại tệ có thể là nguồn tài trợ thương mại quan trọng trong trường hợp khẩn cấp và đối trọng với nợ nước ngoài. NHNN vẫn tiếp tục mua vào dự trữ ngoại tệ.

    TBKTSG: Cấp hạn ngạch cho vốn nước ngoài như một số ý kiến đề xuất lên Thủ tướng có phải là cách khôn ngoan?

    - Tiền gián tiếp là thế, phải để nó ra nhanh thì nó mới vào, mình không thể tỏ ra khôn ngoan hơn nhà đầu tư được. Nếu thấy không an toàn họ sẽ không vào. Chúng ta phải sống với thói quen ấy, còn chuyện nó ra nhanh là lỗi của anh, không phải tội của nhà đầu tư gián tiếp.

    Tất cả những kịch bản để quản lý vốn gián tiếp đều chứng minh rất tốn kém tiền của mà hiệu quả rất thấp, không thể quản lý được. Dòng vốn này có thể đi nhiều đường, qua nhiều người, có cấp hạn ngạch ta cũng không thể quản lý được vì nó có thể đứng tên nhiều người, khai nhiều kiểu.

    Trung Quốc đã thất bại với kiểu làm như thế. Vốn gián tiếp vào Việt Nam đang là bao nhiêu? Trung Quốc từ năm 2005 đến nay chỉ số chứng khoán tăng từ 1.200 lên 6.000 thì chúng ta mới tăng gấp đôi nay lại về điểm xuất phát. Đồng tiền gián tiếp vào chứng khoán của ta rất nhỏ, chưa ghê gớm và chưa cần phải hốt hoảng.

    Thuế là phương tiện sàng lọc tốt hơn cả. Nó có thể sàng lọc được loại vốn nào cho vào loại nào hạn chế theo trung, dài và ngắn hạn.

    TBKTSG: Có thể có những kịch bản gì khi vốn gián tiếp đảo chiều?

    - Malaysia đã đóng cửa thị trường lại khi vốn gián tiếp bị rút quá nhiều. Một số nước khác dùng những hàng rào kỹ thuật, ví dụ đưa biên độ xuống thấp cũng là một cách. Hay bán ngoại tệ theo hạn mức, không bán ồ ạt cho mọi nhu cầu.

    Biện pháp nhiều nước thành công nhất là áp dụng tỷ giá hối đoái kép, mua ngoại tệ của nhà xuất khẩu với tỷ giá có lợi cho họ, ví dụ mua 16.500 đồng/đô la Mỹ trong khi tôi mua ngoại tệ bên ngoài chỉ 15.500 đồng/đô la Mỹ. NHNN có đủ số liệu để biết ngoại tệ nào từ nguồn nào. Đài Loan, Singapore hay Malaysia đã một thời làm thế. Tất nhiên có sự rò rỉ chút ít, nhưng không quan trọng. Thụy Điển khi dòng vốn đảo chiều đã tăng lãi suất lên 100% khiến nhà đầu tư không thể ra đi vì ?ohời? quá.

    TBKTSG: Vậy chúng ta nên chấp nhận suy thoái kinh tế một thời gian?

    - Những dự báo lạc quan nhất cho rằng kinh tế Mỹ suy thoái từ nay đến tháng 9. Nếu vậy thì may cho cả Việt Nam. Nhưng nếu Mỹ suy thoái kéo dài hơn (điều này nhiều khả năng hơn) thì quả là khó khăn. Nói Việt Nam phụ thuộc kinh tế Mỹ ở đây không phải phụ thuộc có tính chất hữu hình mà là lòng tin của thị trường. Nếu chỉ có chuyện trước đây xuất khẩu 6 tỉ đô la nay còn 3 tỉ thì quá đơn giản. Không đơn giản như vậy. Khủng hoảng tài chính không phải chỉ là tổn thương thực thể mà là lòng tin của con người.

    Những dự báo lạc quan nhất cho rằng kinh tế Mỹ suy thoái từ nay đến tháng 9. Nếu vậy thì may cho cả Việt Nam. Nhưng nếu Mỹ suy thoái kéo dài hơn (điều này nhiều khả năng hơn) thì quả là khó khăn. Nói Việt Nam phụ thuộc kinh tế Mỹ ở đây không phải phụ thuộc có tính chất hữu hình mà là lòng tin của thị trường. Nếu chỉ có chuyện trước đây xuất khẩu 6 tỉ đô la nay còn 3 tỉ thì quá đơn giản. Không đơn giản như vậy. Khủng hoảng tài chính không phải chỉ là tổn thương thực thể mà là lòng tin của con người.

    Kinh tế của Việt Nam sẽ suy giảm là chắc chắn, chỉ còn xem sẽ đến mức độ nào. Dự đoán của tôi, GDP năm nay chỉ khoảng 5,1-5,2%. Với con số này, nhiều người có thể cho rằng đó là suy thoái nhưng so với nhiều nước vẫn là mức cao.

    TBKTSG: Xin cảm ơn ông
  4. CTGMvst

    CTGMvst Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    22/04/2007
    Đã được thích:
    0
    http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/chungkhoan/4958/

    Nhà đầu tư nước ngoài lỗ 1,3 tỉ đô la

    (TBKTSG Online) - Chỉ trong ba tháng và 17 ngày đầu của năm 2008, mười tổ chức nước ngoài đang đầu tư chứng khoán tại Việt Nam đã thua lỗ 1,3 tỉ đô la Mỹ (khoảng 20.800 tỉ đồng), giám đốc danh mục đầu tư của Indochina Capital, Thomas Ngô, cho biết.

    Ông Thomas Ngô trong buổi nói chuyện với nhà đầu tư tại Công ty chứng khoán Đại Việt ngày 18-4 đã thông báo thống kê này được thực hiện bởi Indochina Capital trên một số quỹ lớn tại Việt Nam như Indochina Capital, Dragon Capital, PXP?

    Theo ông Ngô, vào đầu năm 2008, mười tổ chức này đều dự đoán VN-Index cuối 2008 sẽ là 1.100 điểm nhưng có ai ngờ chỉ sau ba tháng, VN-Index chỉ còn 500 điểm, chứng tỏ thị trường có những biến động rất lớn mà khó ai dự đoán được.


    ?oĐiều này cho thấy không chỉ nhà đầu tư trong nước mà cả các nhà đầu tư nước ngoài cũng bị lỗ trong thời điểm thị trường chứng khoán đi xuống như hiện nay?, ông Ngô nói và cho rằng vì thế nhà đầu tư cá nhân cũng đừng nên nhìn theo nhà đầu tư nước ngoài để quyết định đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài cũng có những nhà đầu tư ngắn hạn và nếu nhà đầu tư trong nước đi theo sau thì khó mà có lợi.

    Một số nguyên nhân làm ảnh hưởng đến tình hình thị trường chứng khoán hiện nay được ông Thomas Ngô đề cập là lạm phát, khan hiếm tiền đồng khiến vốn khó chảy vào thị trường, và sự suy yếu của các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, châu Âu vốn là những thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam.

    Ông Ngô nhìn nhận trong vòng hơn một năm qua, nhà đầu tư cá nhân đã chuyên nghiệp hơn rất nhiều và chính điều này sẽ thúc đẩy thị trường phát triển hơn. ?oSự điều chỉnh hiện nay chỉ là ngắn hạn, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tin tưởng mạnh mẽ và tiếp tục đầu tư vào Việt Nam?, ông Ngô cho biết.

    Trong tổng số vốn đầu tư 600 triệu đô la Mỹ dành cho chứng khoán thì Indochina Capital hiện còn 250 triệu đô la ở dạng tiền đồng đang chờ đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam.
  5. CTGMvst

    CTGMvst Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    22/04/2007
    Đã được thích:
    0
    http://www4.thanhnien.com.vn/Kinhte/Chungkhoan/2008/4/21/235423.tno

    Chứng khoán sẽ tăng hay giảm?

    Cập nhật cách đây 5 giờ 40 phút

    Ngày 11.4, Báo Thanh Niên đăng bài Thị trường chứng khoán: Từ tăng kịch trần sang "răng cưa" và giảm. Diễn biến thực tế của 4 phiên kể từ ngày đó cho thấy đã có 3 phiên giảm và 1 phiên tăng đối với cả VN-Index và HASTC-Index, tính chung 4 phiên VN-Index giảm 8,42 điểm và HASTC-Index giảm 9,27 điểm.

    Như vậy, khi thu hẹp biên độ giao dịch xuống 5 lần (từ 5% xuống 1% đối với VN-Index và từ 10% xuống 2% đối với HASTC-Index), thì giá chứng khoán tăng kịch trần, đã thế lại hầu như chỉ có bán mà không có mua. Nhưng chỉ vừa mới nới rộng biên độ lên một chút, thì chỉ số giá chứng khoán ở cả hai sàn lại đồng loạt xuống ngay. Duy chỉ có 1 phiên tăng, nhưng lại chủ yếu diễn ra ở cuối phiên - một động thái hiếm thấy, vì đầu phiên thì giảm kịch sàn, cuối phiên thì tăng kịch trần làm ngơ ngác các nhà đầu tư cũng như các chuyên gia. Điều đó đã làm cho ai cũng tưởng rằng việc thu hẹp hay nới rộng biên độ, một biện pháp có tính chất kỹ thuật, đã có tác động gần như quyết định đến sự lên, xuống của chỉ số giá chứng khoán. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu là thực lực của các nhà đầu tư và những yếu tố có liên quan đến cung - cầu trên thị trường mới quyết định đến sự lên, xuống của chỉ số giá chứng khoán. Vậy đó là những yếu tố gì?
    Trước hết là cung chứng khoán. Cung chứng khoán vẫn tiếp tục gia tăng ở các nguồn. Các nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán tăng giá trong thời gian biên độ giao dịch được thu hẹp (tăng 11,2% đối với VN-Index và tăng 19,1% đối với HASTC -Index), nay đẩy mạnh bán ra thu lãi, hoặc để bù vào sự thua lỗ trước đó, hoặc để trả vốn vay đến kỳ đáo hạn, hoặc là trên cơ sở dự đoán giá chứng khoán sẽ còn giảm xuống nữa nên bán sớm để mua ở giá đáy, hoặc là rút vốn rời khỏi thị trường chứng khoán chuyển sang kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn hay đỡ rủi ro hơn. Xem trên bảng điện tử trong mấy ngày nay, bên mua thì trống trơn, còn bên bán thì dày đặc, ngược hẳn với trước đó.

    Một nguồn khác là các cổ phiếu cầm cố, thế chấp mà các nhà đầu tư vay ngân hàng, nay do giá giảm nên các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán "xả mạnh". Số cổ phiếu này trước đây đã được yêu cầu hoặc khuyến cáo dừng lại, nhưng nay đứng trước tình hình lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tăng cao, huy động tiền gửi ở thị trường gặp khó khăn do lãi suất vẫn bị thực âm, tính thanh khoản gặp khó khăn trở lại, giá chứng khoán tiếp tục giảm xuống và hiện ở mức thấp đã buộc một số ngân hàng thương mại phải trở lại giải chấp và hàng lại được xả ra làm tăng cung.

    Đó là chưa nói sau khi quyết toán, có một số công ty niêm yết đã chia thưởng không phải bằng tiền mặt mà bằng cổ phiếu, về thực chất cũng là tăng cung, lại càng làm cho giá cổ phiếu bị pha loãng và giảm xuống là khó tránh khỏi.

    Về cầu chứng khoán, không những không tăng mà còn giảm. Người đầu tư mới hầu như không có. Người đang đầu tư thì không mua vào, thậm chí còn bán ra. Nhà đầu tư nước ngoài đẩy mạnh mua vào cũng không kéo được nhà đầu tư trong nước mua vào theo mà vẫn trong tình trạng bán tháo. Lượng tiền đầu tư vào thị trường chứng khoán không tăng, mà còn giảm do tính thanh khoản bị hạn chế. Tính thanh khoản của một số ngân hàng thương mại cũng đã đến lúc gặp khó khăn do lượng tiền huy động từ dân cư giảm mạnh khi trần lãi suất huy động được thỏa thuận giảm xuống còn 11%, thấp xa so với tốc độ tăng giá tiêu dùng làm cho lãi suất bị thực âm lớn; do lượng tiền gửi với lãi suất cao hơn và với kỳ hạn ngắn cách đây một vài tháng, nay đã đến kỳ đáo hạn. Hơn nữa các ngân hàng dù không gặp khó khăn về tính thanh khoản, thì cũng không dám cho vay đầu tư khi giá chứng khoán vẫn giảm; đó là chưa nói, lượng tiền ngân hàng đọng ở thị trường chứng khoán chính thức có thông tin vẫn còn ở mức trên 20 nghìn tỉ đồng, trong đó lượng vốn cầm cố thế chấp vào khoảng gần 10 nghìn tỉ đồng.

    Ngoài các yếu tố trực tiếp liên quan đến quan hệ cung - cầu chứng khoán trên thị trường, theo một số chuyên gia còn do những yếu tố ở bên ngoài thị trường này. Đó là lòng tin của các nhà đầu tư bị ảnh hưởng. Đó là tâm lý chờ đợi, ỷ lại vào sự can thiệp vào thị trường của các cơ quan quản lý, mà sự can thiệp này trong một số trường hợp còn phản tác dụng. Đó là tâm lý chung khi lạm phát tăng cao và tăng trưởng kinh tế chậm lại để dành ưu tiên cho kiềm chế lạm phát.

    Với những tác động như trên, một số chuyên gia đã dự đoán VN-Index cũng như HASTC-Index không chỉ biến động theo hình "răng cưa" (lúc tăng, lúc giảm), mà đang như muốn nhắm đến các mốc đáy tương ứng 496 điểm và 166 điểm vào ngày 25.3 nhưng xen kẽ vẫn có những phiên tăng lên. Hy vọng cuối năm các chỉ số giá chứng khoán mới tăng vững, khi lạm phát đã được kiềm chế.
  6. CTGMvst

    CTGMvst Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    22/04/2007
    Đã được thích:
    0
    http://vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=06&id=c888cd228864ea

    CẬP NHẬT: 2008-04-26 01:36:02 (GMT+7) BẢN ĐỂ IN

    Lạm phát giảm tốc: Lạc quan ít, bi quan nhiều
    Loạt giải pháp kiềm chế của Chính phủ bắt đầu có kết quả, nhưng còn nhiều áp lực ở phía trước.

    Tháng 4, đà tăng của lạm phát nằm trong dự báo trước đó, giảm tốc và thấp nhất kể từ đầu năm; tăng 2,2% so với các mức 2,38%, 3,56% và 2,99% lần lượt ba tháng trước đó.

    Diễn biến trên trước hết được giải thích từ loạt chính sách mạnh, đặc biệt là chính sách thắt chặt tiền tệ, bắt đầu phát huy tác dụng. Cơ sở này cũng đã được một số nhà quản lý dẫn đến khi nói về đà tăng của lạm phát trong tháng 3 trước đó.

    Tại buổi thuyết trình của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chiều 25/4, số liệu về lạm phát tháng 4/2008 trở thành dữ liệu nóng và thu hút những bình luận nhất định. Và theo một ý kiến đánh giá, đó là một thành công bước đầu của Chính phủ.

    ?oCó thể còn nhiều quan ngại, nhưng trong bối cảnh giá cả tăng cao cả trong và ngoài nước hiện nay, sự giảm tốc đó là một thành công?, ý kiến trên bình luận.

    Trong khi đó, trong câu chuyện với VnEconomy, chuyên gia kinh tế Huỳnh Thế Du (Chương trình Fulbright - Mỹ), lại cho rằng đó là một diễn biến thường thấy của giá cả sau mùa tiêu dùng cao điểm đầu năm mới. Và ?ocũng khó nói? về kết quả của những biện pháp kiềm chế của Chính phủ ở những dữ liệu trên.

    Nếu xét về thành công, đó là kết quả được khẳng định trong bối cảnh lạm phát tháng 4 chịu nhiều tác động mạnh và tiêu cực.

    Trong các nhóm hàng, lương thực - thực phẩm vẫn là đầu tàu tăng giá (nhóm lương thực tăng tới 6,11%), trước ảnh hưởng của dịch bệnh tai xanh, dịch tả tại khu vực Bắc Trung Bộ; cũng như cuộc khủng hoảng lương thực nhen nhóm trên thế giới.

    Giá cả nguyên liệu, hàng hóa đầu vào trên thế giới tiếp tục tạo sức ép lớn. Nếu giá bán xăng dầu trong nước không được kiềm chế (theo định hướng chưa tăng đến hết tháng 6/2008), sức ép sẽ lớn hơn khi giá dầu thế giới lên tới gần 120 USD/thùng và luôn duy trì gần đỉnh này. Mặt khác, nếu giá các mặt hàng trọng điểm khác như than, điện, nước, một số mặt hàng vật liệu xây dựng? không được ?oép? bình ổn, sẽ không có được kết quả khả quan trên.

    Tuy nhiên, sự khả quan chỉ nằm trong so sánh với ba tháng trước đó, bởi tính chung bốn tháng đầu năm, lạm phát đã lên tới 11,6%, gần bằng mức của cả năm 2007.

    Mức tăng 2,2% của tháng 4/2008 cũng là một đột biến so với những năm gần đây; tháng 4/2007 chỉ tăng 0,49%, tháng 4/2006 chỉ có 0,2%. Sự đột biến đó đi cùng với quan ngại thực sự về một thời kỳ mới. Nhiều khả năng năm nay sẽ chứng kiến một sự bùng nổ; mốc dự báo 15,6% cả năm 2008 của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) mới đây có thể là khiêm tốn.

    Đà tăng lạm phát năm 2008 vẫn còn tới 8 tháng để có những thay đổi. Liệu những giải pháp của Chính phủ có tiếp tục phát huy để kiềm chế?

    Trước câu hỏi này, chuyên gia của IMF bình luận rằng Việt Nam đã khá nhanh chóng đúng hướng khi mạnh tay thắt chặt tiền tệ; may mắn hơn là sau đó được bổ sung bằng gói những giải pháp tổng thể khác. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ thắt chặt bất ngờ đã gây biến động xấu trên thị trường tiền tệ, cụ thể là tháng 2/2008. Theo đó, khuyến nghị đưa ra là cần có một lộ trình từng bước, tránh gây sốc và cần được chia sẻ gánh nặng từ các biện pháp khác.

    Gần đây, Chính phủ định hướng rà soát và dãn một số dự án công, tiết kiệm chi tiêu công, kêu gọi doanh nghiệp đầu ngành giảm chi phí sản xuất, hạn chế tăng giá bán sản phẩm?, bước đầu tạo cơ sở lạc quan cho thời gian tới.

    Nhưng, sự dồn nén càng tạo thêm sức bật bùng nổ, đặc biệt là giá xăng dầu, giá các mặt hàng trọng điểm, khi sức chịu đựng và khả năng giảm chi phí sản xuất của doanh nghiệp có giới hạn. Mặt khác, yêu cầu đặt ra là các doanh nghiệp lại phải đảm bảo kinh doanh không lỗ.

    Trong chính sách tiền tệ, định hướng từng bước thực hiện lãi suất thực dương cũng là một áp lực. Nếu tính bình quân 4 tháng đầu năm, lạm phát đã gần 3%/tháng, trong khi lãi suất huy động VND cao nhất chỉ là 1%/tháng. Nếu tính theo cả năm, với khả năng lạm phát lên tới trên 15%, trần lãi suất thỏa thuận 11%/năm còn giữ được bao lâu?

    Và khi lãi suất huy động ?othực dương?, lãi suất cho vay đầu ra tăng cân đối, chi phí sản xuất và tiêu dùng lại tăng cao, lạc quan bước đầu về kết quả kiềm chế lạm phát trong tháng 4 này sẽ trở nên xa xỉ.
  7. baodainhanvn

    baodainhanvn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    06/06/2007
    Đã được thích:
    0


    *** thằng HSBC!!!

Chia sẻ trang này