Chưa đặt tên!

Chủ đề trong 'Giao Lưu' bởi hailua7777, 16/01/2011.

151 người đang online, trong đó có 60 thành viên. 03:02 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 15416 lượt đọc và 321 bài trả lời
  1. hailua7777

    hailua7777 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/04/2010
    Đã được thích:
    88
    LSTG - Người cha đỡ đầu của kỉ nguyên nguyên tử





    CHA ĐỠ ĐẦU CỦA KỶ NGUYÊN NGUYÊN TỬ

    Albert Einstein là một trong số rất ít nhân vật trong lịch sử, mà ngay khi còn sống đã trở thành một nhân vật huyền thoại. Tư tưởng của ông càng bí hiểm, người đời càng muốn hiểu, và tư tưởng chừng như tiếng nói của ông từ đỉnh núi Olympia vọng xuống trần gian. Bertrand Russel đã nhận xét rất đúng: “Ai cũng biết Einstein đã làm được những chuyện kỳ lạ, nhưng rất ít người hiểu đó là chuyện gì”. Cứ tạm cho rằng, mặc dầu không đúng hẳn, thế giới này chỉ có chừng một tá người hiểu trọn vẹn lý thuyết của Einstein về vũ trụ, thì sự kiện này đã thách thức hàng ngàn nếu không nói là hàng triệu người quyết tâm cố tìm hiểu xem nhà toán học phù thủy đó đã nói những gì...

    Einstein khó hiểu vì phạm vi tư tưởng của ông vô cùng rộng lớn và phức tạp. T.E. Bridges đã nhắc đến một nhà khoa học Anh, từng viết rằng:
    “Học thuyết của Einstein kết hợp sự kiện vật lý với sự kiện toán học và chỉ có thể giải thích bằng toán học. Muốn hiểu học thuyết của Einstein không thể không có một trình độ toán học rất cao”.
    George W. Gray cũng nói tương tự:
    “Einstein trình bày thuyết Tương đối bằng ngôn ngữ toán học, vì vậy rất khó trình bày thuyết này bằng thứ ngôn ngữ nào khác. Nếu trình bày thuyết Tương đối bằng ngôn ngữ thông thường thì chẳng khác gì dùng một cây kèn saxophone để dạo khúc hòa tấu số 5 của Beethoven”.
    Tuy nhiên có lẽ có một vài nét trong vũ trụ quan của Einstein có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường mà chỉ cần đến ngôn ngữ số hệ của toán học. Đây thật là một thứ thế giới kỳ ảo, làm đảo lộn những tư tưởng bắt rễ từ bao thế kỷ nay, “một món hổ lốn lạ lùng rất khó tiêu hóa đối với nhiều người”. Einstein bắt chúng ta tin những điều khó tin thí dụ như: không gian hình cong, đường ngắn nhất nối liền hai điểm không phải là đường thẳng, vũ trụ có hạn nhưng không có biên giới, hai đường song song cuối cùng sẽ gặp nhau, tia sáng đi theo đường vòng cung, thời gian có tính chất tương đối và mỗi nơi phải do một cách, phải đo chiều dài tùy theo tốc độ, vũ trụ không phải hình cầu mà là hình trụ, một vật thể chuyển động thì kích thước co lại, nhưng khối lượng lại tăng lên, thời gian là chiều thứ tư thêm vào ba chiều cao, dài và rộng...
    Những đóng góp của Einstein cho khoa học nhiều không kể xiết, nhưng trước hết phải kể đến thuyết tương đối mà theo lời Banesh Hoffman “có một tính chất vĩ đại để đặt Einstein ngang hàng với những nhà khoa học lớn nhất của mọi thời đại như Isaac Newton và Archimède. Những nghịch lý mê hoặc và những thành công rực rỡ đã kích động mãnh liệt trí tưởng tượng của mọi người”.
    Cuộc cách mạng của Einstein bắt đầu vào năm 1905, tức là năm tờ Chuyên san vật lý học ở Đức Annalen der Physik đăng một bài báo dài chừng 30 trang với cái nhan đề tầm thường là Động điện của những vật thể chuyển động. Năm đó Einstein mới 26 tuổi và là một viên chức bình thường trong cơ quan cấp bằng sáng chế ở Thụy Sĩ. Einstein sinh trong một gia đình Do thái trung lưu ở Ulm, Bavaria năm 1879. Khi còn nhỏ không có biểu hiện nào chứng tỏ ông là “thần đồng”, ngoại trừ năng khiếu toán học. Vì hoàn cảnh gia đình, nên năm 15 tuổi, Einstein phải tự lập. Sau này di cư sang Thụy Sĩ, Einstein theo học khoa học tại trường đại học bách khoa Zurich, thành hôn với một bạn sinh viên và trở thành công dân Thụy Sĩ. Không thực hiện được giấc mộng làm giáo sư đại học để kiếm sống, Einstein đành chấp nhận làm công chức, có nhiệm vụ thảo báo cáo và viết lại đơn từ của các nhà sáng chế gửi cho cơ quan cấp bằng sáng chế. Thời giờ rảnh, Einstein nghiên cứu rộng rãi tác phẩm của các nhà triết học, khoa học và toán học. Chẳng bao lâu sau ông đã chuẩn bị đầy đủ để tung ra một loạt những đóng góp mới cho khoa học, những đóng góp sẽ có tiếng vang rộng lớn sau này.
    Trong tác phẩm năm 1905, Einstein tung ra “Thuyết Tương đối đặc biệt” làm rung chuyển quan niệm chung về không gian, thời gian, vật chất và năng lượng. Toàn bộ thuyết tương đối này dựa vào hai giả thuyết cốt yếu. Giả thuyết thứ nhất là: mọi sự chuyển động đều có tính chất tương đối. Để có một ý niệm cụ thể về nguyên tắc này, người ta thường hay lấy ví dụ người ngồi trong toa xe hỏa đang chạy. Nếu tất cả các cửa đều đóng kín, tối như bưng thì mọi người ngồi trên xe không có ý thức gì về tốc độ và phương hướng, thậm chí có lẽ không biết cả xe đang chạy nữa. Một người đi tàu thủy, nếu các cửa đóng kín, cũng ở trong tình trạng tương tự. Chúng ta nhận thức được sự chuyển động là qua sự tương đối với các vật khác. Ngay cả trái đất quay chúng ta cũng không nhận thấy, nếu không có những tinh cầu khác để so sánh.
    Giả thuyết trụ cột thứ hai của Einstein là: Tốc độ của ánh sáng không bị lệ thuộc vào sự chuyển động của nguồn sáng. Tốc độ của tia sáng bao giờ cũng là 186.000 dặm một giây đồng hồ (xấp xỉ 300.000km/giây), bất kỳ ở nơi nào. Tia sáng xuyên qua trong toa xe hỏa đang chạy cũng có tốc độ ngang với tốc độ tia sáng chạy ở ngoài toa xe. Không có mãnh lực nào vượt được tốc độ của ánh sáng, chỉ tốc độ hạt điện tử mới suýt soát được với tốc độ của ánh sáng. Như vậy ánh sáng là thực thể độc nhất trong vũ trụ không bao giờ biến đổi.
    Cuộc thí nghiệm nổi tiếng do hai nhà khoa học Mỹ Michelson và Morley thực hiện vào năm 1887 đã tạo cơ sở cho thuyết của Einstein về ánh sáng. Để đo tốc độ của ánh sáng cho đúng một cách tuyệt đối, hai nhà khoa học kia đã chế ra một hệ thống máy móc như sau: Hai đường ống, mỗi đường ống dài chừng một dặm được đặt thẳng góc với nhau. Đường ống thứ nhất đặt theo cùng chiều với chiều trái đất quanh chung quanh mặt trời, đường ống thứ hai hướng ngược lại với chiều quay của trái đất. Ở đầu mỗi một đường ống đặt một tấm gương cùng một lúc chiếu vào cả hai đường ống một chùm ánh sáng. Thời đó người ta tin rằng chỗ nào trống không, là có khí éther, và nếu thuyết này đúng thì một tia sáng sẽ chạy theo đường ống như người ta bơi ngược chiều, và một tia sáng khác sẽ chạy theo đường ống như người ta bơi xuôi chiều. Nhưng sau cuộc thí nghiệm, mọi người đều ngạc nhiên thấy rằng cả hai chùm tia sáng cùng dội ngược lại vào đúng một lúc như nhau. Thí nghiệm đó bị coi là một thất bại.
    Thuyết của Einstein tung ra năm 1905 để trả lời những thắc mắc của Michelson, Morley và các nhà vật lý học khác. Trong các khoảng trống không có khí éther và cuộc thí nghiệm với hai đường ống đã đo rất đúng tốc độ của ánh sáng. Căn cứ vào thí nghiệm này, Einstein suy ra điều vô cùng quan trọng là tốc độ của ánh sáng không bao giờ thay đổi bất kể đo dưới điều kiện nào, và sự chuyển động của trái đất quay chung quanh mặt trời cũng không ảnh hưởng gì đến tốc độ của ánh sáng.
    Trái với Newton, Einstein khẳng định rằng không làm gì có sự chuyển động tuyệt đối. Quan niệm có vật thể chuyển động một cách tuyệt đối trong không gian là điều vô lý. Sự chuyển động của vật thể chỉ là tương đối với sự chuyển dộng của vật thể khác.
    Trạng thái của mọi vật thể là chuyển động ở trên mặt đất và khắp mọi nơi trong vũ trụ, không có vật thể nào là tuyệt đối đứng yên. Trong vũ trụ động, từ vật thể nhỏ như nguyên tử đến những dải thiên hà bao la, sự chuyển động là trạng thái vĩnh hằng. Trái đất quay chung quanh mặt trời với tốc độ 20 dặm/giây đồng hồ. Trong vũ trụ tất cả đều chuyển động, và không có thứ gì đứng im một chỗ, thì làm gì có tiêu chuẩn để đo tốc độ, chiều dài, kích thước, khối lượng và thời gian, ngoại trừ đo với sự chuyển động tương đối. Chỉ có ánh sáng là tuyệt đối, vì tốc độ của ánh sáng lúc nào cũng là 186.000dặm/giây đồng hồ, bất kể nguồn sáng, bất kể vị trí quan sát, đúng như cuộc thí nghiệm Michelson - Morley đã chứng tỏ.
    Trong số những quan niệm của Einstein về vũ trụ, quan niệm về sự tương đối của thời gian đi ngược với quan niệm xưa nay, và khó hiểu hơn cả. Einstein chủ trương rằng: những biến cố xảy ra ở nhiều nơi khác nhau có thể xảy ra cùng một lúc đối với kẻ này, nhưng xảy ra khác lúc đối với kẻ khác ở một vị trí chuyển động tương đối với người trước. Thí dụ hai biến cố xảy ra cùng một lúc đối với người quan sát đứng trên mặt đất, có thể xảy ra khác lúc đối với người ngồi trên xe hỏa hay máy bay. Thời gian không tuyệt đối, mà là tương đối với vị trí và tốc độ của người quan sát. Áp dụng thuyết này để nhận định vũ trụ, người ta thấy rằng một biến cố, thí dụ một vụ nổ xảy ra không một lúc đối với người quan sát ở ngay trên tinh cầu đó và người quan sát ở trên trái đất. Một biến cố diễn ra trên một tinh cầu xa lắc có thể hàng năm mới chuyển hình ảnh tới mặt đất, mặc dầu ánh sáng chạy với tốc độ 186.000 dặm/giây đồng hồ. Vì tinh tú ta quan sát thấy hôm nay chỉ là vì tinh tú của bao nhiêu năm về trước, và có thể lúc này vì tinh tú ấy đã không còn.
    Theo thuyết tương đối của Einstein thì người ta có thể đuổi kịp quá khứ và sinh ra ở tương lai nếu người ta có tốc độ vượt tốc độ ánh sáng. Mỗi tinh cầu chuyển động có một hệ thống thời gian riêng, khác hẳn hệ thống thời gian ở mọi tinh cầu khác. Một ngày trên trái đất chỉ là thời gian đủ để trái đất quay một vòng trên trục của nó. Sao Mộc mất nhiều thời giờ hơn trái đất để quay chung quanh mặt trời, vì vậy một năm trên sao Mộc dài hơn một năm trên trái đất. Tốc độ càng nhanh, thời gian càng chậm. Chúng ta đều quen chỉ nghĩ rằng mọi vật thể đều có ba chiều, nhưng Einstein chủ trương thời gian cũng là một chiều của không gian. Thời gian và không gian không thể tách rời nhau. Mọi vật luôn luôn chuyển động, cho nên theo quan niệm của Einstein, chúng ta sống trong một vũ trụ bốn chiều mà thời gian là chiều thứ tư.
    Nói tóm lại, tiền đề cơ bản của thuyết Einstein trình bày lần đầu tiên nửa thế kỷ trước đây là tính tương đối của mọi chuyển động, và tính tuyệt đối độc nhất của ánh sáng.
    Triển khai nguyên lý tương đối của mọi sự chuyển động, Einstein còn làm sụp đổ một quan niệm khác vốn vững chắc từ xa xưa. Từ trước người ta vẫn tin rằng chiều dài và khối lượng trong mọi trường hợp có thể quan niệm được vẫn là tuyệt đối và không thể thay đổi. Bây giờ Einstein khẳng định khối lượng hay trọng lượng cùng chiều dài của một vật thể thay đổi tùy theo tốc độ của vật thể đó. Einstein đưa ra thí dụ: một đoàn xe lửa dài một ngàn bộ (Bộ: 0,304 mét) chạy với tốc độ bốn phần năm tốc độ của ánh sáng. Đối với người đứng yên một chỗ thì đoàn tàu chạy chỉ còn dài 600 bộ, những đối với người ngồi trên thì đoàn tàu vẫn dài đủ 1000 bộ.
    Tương tự như đoàn tàu, mọi vật thể chuyển động trong không gian cũng đều co ngắn lại tùy theo tốc độ. Một chiếc gậy dài 100 mã (mã (inch) = 0,025 mét), nếu phóng lên không gian với tốc độ 161.000 dặm/giây đồng hồ, sẽ co ngắn lại chỉ còn dài nửa mã. Trái đất thì quay trục nên chu vi cũng co rút lại chừng sáu phân mét.
    Khối lượng cũng có thể thay đổi. Tốc độ càng nhanh thì khối lượng của vật thể càng tăng. Nhiều cuộc thí nghiệm đã chứng tỏ rằng vật thể bắn lên không gian với tốc độ lên tới 86% tốc độ ánh sáng, sẽ cân nặng gấp đôi so với khi còn nằm yên dưới đất. Sự kiện này có hậu quả quan trọng trong công cuộc phát triển nguyên tử sau này.
    Thuyết tương đối của Einstein trình bày năm 1905 được coi là “Lý thuyết hạn chế về tính tương đối” vì chỉ áp dụng riêng đối với sự chuyển động. Tuy nhiên, trong vũ trụ chúng ta, hành tinh và các thiên thể rất ít khi chuyển động đều theo đường thẳng. Một lý thuyết phải bao gồm được mọi thứ chuyển động, mới đủ để mô tả vũ trụ. Vì lẽ đó, Einstein đã phải dành mười năm để xây dựng “Lý thuyết Tổng quát về tính tương đối”, trong đó ông nghiên cứu sức mạnh huyền bí đã hướng dẫn sự chuyển động của các hành tinh, định tinh, sao chổi, thiên thạch, thiên hà và những vật thể khác quay cuồng trong khoảng không của vũ trụ bao la.
    Trong “lý thuyết tổng quát về tính tương đối” công bố năm 1915, Einstein đề ra một quan niệm mới về sức hút, đảo lộn hẳn những quan điểm về trọng lực và ánh sáng đã được người ta chấp nhận từ thời Isaac Newton. Newton cho trọng lực là một lực, nhưng khác với Newton, Einstein chứng minh rằng khoảng không gian chung quanh một hành tinh hay một thiên thể, là một trường hấp dẫn tương tự như từ trường chung quanh đá nam châm. Những vật thể lớn như mặt trời, các vì tinh tú đều tỏa ra chung quanh một trường hấp dẫn rất rộng. Trái đất và mặt trăng hút nhau là vì vậy.
    Thuyết trường hấp dẫn còn giải thích những chuyển động không bình thường của sao Kim, một hành tinh gần mặt trời nhất, những chuyển động là nát óc những nhà thiên văn học tờ bao thế kỷ nay và là một trường hợp ngoại lệ, không tuân theo định luật về sức hút của Newton. Trường hấp dẫn các tinh tú có sức cực mạnh có thể bẻ cong tia sáng. Vào năm 1919, tức là mấy năm sau khi thuyết tổng quát về tính tương đối được tung ra, những bức ảnh chụp được trong một vụ nhật thực đã xác nhận thuyết của Einstein là đúng: các tia sáng đi theo đường cong chứ không phải đường thẳng, do bị tác động trường hấp dẫn của mặt trời.
    Từ tiền đề đó, Einstein suy ra rằng: không gian hình cong. Chịu ảnh hưởng của mặt trời, các hành tinh quay theo những đường nào ngắn nhất, tương tự như con sông khi chảy ra biển, tùy theo địa hình mà chảy theo những đường tự nhiên nhất, dễ chảy nhất. Trong phạm vi trái đất, một con tàu hay một chuyến phi cơ vượt biển, đi theo không phải đường thẳng mà là đường cong nghĩa là cung của một vòng tròn. Hiển nhiên là đường gần nhất giữa hai điểm không phải đường thẳng mà là đường cong. Định luật này còn đúng cả với sự chuyển động của hành tinh hay tia sáng.
    Nếu chấp nhận thuyết không gian có hình cong, phải đương nhiên chấp nhận thuyết không gian hữu hạn. Ví dụ, một tia sáng xuất phát ở một vì sao, sau hàng triệu năm ra đi, vẫn sẽ trở về nguồn sáng cũ, chẳng khác gì nhà du lịch đi một chuyến vòng quanh thế giới. Vũ trụ không phải là diễn ra bất tận trong không gian, mà có những giới hạn tuy không thể xác định được những giới hạn này.
    Trong số những khám phá vĩ đại của Einstein về khoa học, đóng góp của ông cho công cuộc nghiên cứu về nguyên tử là có tác dụng trực tiếp và sâu rộng nhất đối với thế giới ngày nay. Ít lâu sau khi tờ chuyên san vật lý học tung ra thuyết tương đối vào năm 1905, Einstein còn cho đăng ở báo này một bài báo ngắn có tầm vang dội rất lớn, nhan đề là “Quán tính của một vật thể có tùy thuộc vào năng lượng của vật thể đó không?”. Einstein xác định rằng: ít ra là trên lý thuyết năng lượng nguyên tử có thể sử dụng được. Sức mạnh khủng khiếp của nguyên tử có thể được giải tỏa theo một phương trình do Einstein đề ra: E = mc2, nghĩa là: năng lượng bằng khối lượng nhân với tốc độ của ánh sáng, rồi lại nhân với tốc độ của ánh sáng lần nữa. Nói một cách cụ thể, Einstein cho rằng: trong nửa cân Anh (cân Anh = 453,592 gam) của bất kỳ chất gì đều chứa một năng lượng tương đương với sức mạnh của bảy triệu tấn thuốc nổ TNT. Một nhà bình luận đã nhận xét: nếu không có phương trình của Einstein “các nhà khoa học vẫn có thể mò mẫm tách được nguyên tử uranium, nhưng không chắc các nhà khoa học đó đã hiểu đây là một nguồn năng lượng khủng khiếp, vật liệu của những trái bom khủng khiếp”.
    Trong phương trình nổi tiếng E = mc2, Einstein đã chứng minh năng lượng và khối lượng chỉ là một, ở hai trạng thái khác nhau và khối lượng chính là năng lượng đặc lại. Barnett đã nhận định rất đúng là phương trình E = mc2 “đã giải thích được rất nhiều điểm về vật lý học, từ bao lâu nay vẫn còn là những điểm bí mật. Phương trình đã giải thích tại sao chất quang tuyến phản xạ như radium và uranium lại có thể liên tiếp trong hàng triệu năm bắn ra những tia li ti chạy với tốc độ khủng khiếp. Phương trình còn giải thích tại sao mặt trời và các vì tinh tú lại có thể tuôn ánh sáng và sức nóng trong hàng tỷ tỷ năm, vì nếu mặt trời chỉ có lửa theo lối thông thường thì trái đất của chúng ta đã phải chết trong tối tăm u lạnh từ hàng triệu năm rồi. Phương trình còn cho chúng ta thấy năng lượng ghê gớm chứa chất trong nhân nguyên tử và tiên đoán chỉ cần một lượng rất nhỏ chất uranium cũng đủ tạo ra một trái bom có sức công phá cả một thành phố”.
    Cho mãi đến năm 1939 phương trình của Einstein vẫn còn là lý thuyết. Vào năm đó, sau khi bị Đức quốc xã trục xuất khỏi châu Âu, Einstein sang Mỹ rồi ít lâu sau ông nhập quốc tịch Mỹ. Einstein được tin Đức quốc xã đang lùng để nhập cảng uranium và đang nghiên cứu về bom nguyên tử, ông liền viết cho Tổng thống Roosevelt một bức thư tối mật:
    “Những công cuộc nghiên cứu mới đây của E. Fermi và Lzilard mà bản thảo đã được gửi tới tôi, khiến tôi nghĩ rằng trong tương lai rất gần, chất uranium có thể biến thành một nguồn năng lượng mới mẻ và quan trọng... Hiện tượng mới này có thể dẫn tới việc chế tạo bom, và có thể tin rằng... chỉ một trái bom loại đó, mang dưới tàu và cho nổ ở hải cảng có thể tàn phá toàn thể hải cảng và các vùng phụ cận”.
    Kết quả tức khắc của bức thư Einstein gửi cho Roosevelt là việc khởi công xây dựng đề án bom nguyên tử Manhattan. Năm năm sau, trai bom nguyên tử đầu tiên được đưa ra thử ở Almagordo Reservation thuộc bang New Mexico, và ít lâu sau Mỹ thả bom nguyên tử tàn phá Hiroshima, để sớm kết liễu chiến tranh với Nhật Bản.
    Bom nguyên tử là một trong những kết quả thực tế vang dội nhất của lý thuyết Einstein. Tuy nhiên người ta vẫn còn phải kể đến thực tế khác nữa. Năm 1905, năm thuyết tương đối ra đời, các nhà khoa học triển khai định luật về điện ảnh học (Photoelectric Law) của Einstein, để giải thích những tác động điện ảnh huyền bí và do đó mở đường cho vô tuyến truyền hình, phim có tiếng nói, “con mắt thần” cùng những áp dụng khác. Chính vì phát minh này mà Einstein được tặng giải Nobel về vật lý năm 1922.
    Trong những năm cuối đời, Einstein vẫn không ngừng nỗ lực xây dựng lý thuyết về Trường thống nhất (Unfided Field Theory) nhằm chứng minh tính chất hòa hợp và đồng nhất của tạo vật. Theo Einstein, các định luật vật lý học chi phối nguyên tử nhỏ bé cũng có thể áp dụng đối với những vật thể lớn lao trong không gian. Do đó lý thuyết về Trường thống nhất của Einstein giải thích được mọi hiện tượng vật lý theo một khuôn mẫu cố định. Lực hút, điện lực, từ lực và nguyên tử lực tất cả đều là những lực có thể giải thích được bằng một lý thuyết duy nhất. Năm 1950, sau gần nửa đời nghiên cứu, Einstein lần đầu tiên trình bày lý thuyết Trường thống nhất của ông trước thế giới. Ông ngỏ ý tin rằng thuyết này nắm giữ được chìa khóa của vũ trụ, thống nhất trong một quan niệm, từ thế giới cực nhỏ và quay cuồng của nguyên tử đến không gian mênh mông của các thiên thể. Vì những khó khăn về toán học nên thuyết của Einstein vẫn chưa được những sự kiện vật lý học kiểm chứng toàn bộ. Tuy vậy Einstein vẫn vững tin rằng lý thuyết về Trường thống nhất của ông giải thích được “tính chất nguyên tử của năng lượng” và chứng minh được sự hiện hữu của một vũ trụ có sắp đặt rất trật tự.
    Tư tưởng triết lý đã gây cảm hứng và hướng dẫn Einstein qua bao nhiêu năm nỗ lực, và những phần thưởng cho những nỗ lực đó, đã được Einstein trình bày trong bài giảng về nguồn gốc Lý thuyết tổng quát về tương đối tại trường đại học Glasgow năm 1933.
    “Kết quả cuối cùng rất giản dị, bất kỳ một sinh viên thông minh nào cũng có thể hiểu được một cách dễ dàng. Nhưng chỉ có thể hiểu được sau khi trải qua những năm âm thầm tìm kiếm một sự thật mà người ta chỉ cảm thấy chứ không thể nói lên được. Người ta chỉ có thể hiểu được điều đó khi lòng ham muốn lên đến mức cuồng nhiệt, và khi đã trải qua những giai đoạn tin tưởng rồi nghi ngờ, nghi ngờ rồi tin tưởng cho tới một lúc nào đó, bừng hiểu rõ được sự thật sáng sủa”.
    Trong một dịp khác, Einstein đã bộc lộ cá tính tinh thần của ông:
    “Cảm xúc đẹp nhất và sâu xa của con người là cảm xúc trước sự huyền bí. Chính cảm xúc này đã khiến cho khoa học chân chính nảy nở. Những ai không còn có những cảm xúc đó, không còn biết ngạc nhiên và chỉ biết đứng ngẩn người ra vì sợ hãi thì sống cũng như chết. Cảm thấy điều huyền bí mà con người không sao giải thích nổi, là vì nó chỉ biểu lộ ra khi mà khả năng ít ỏi đáng buồn của chúng ta chỉ hiểu được những hình thức thấp kém của cái quy luật cao siêu dưới vẻ đẹp rạng rỡ hơn hết. Chính sự biết đó và cảm xúc đó đã là nền tảng đích thực của tôn giáo”.
    Con số nhà khoa học tán dương Einstein không kể xiết. Chúng ta hãy đọc hai tác phẩm đã viết về Einstein, để hiểu địa vị độc nhất của ông trong giới khoa học. Paul Oehser viết:
    “Đối với Albert Einstein, người ta không thể không nói đến ảnh hưởng. Phải gọi những lý thuyết của ông là cách mạng vì đã mở ra kỷ nguyên nguyên tử. Kỷ nguyên này đưa nhân loại đi đến đâu chúng ta chưa thể biết. Hiện nay chúng ta chỉ biết rằng Einstein là nhà khoa học, nhà triết học vĩ đại nhất của thế kỷ. Trước mắt chúng ta, Einstein có dáng dấp một vị thánh và những công trình của ông đã khiến chúng ta thêm tin tưởng vào khả năng trí tuệ của con người. Ông còn là hình ảnh bất diệt của con người luôn luôn tìm hiểu”.
    Nhà khoa học Banesh Hoffman đã kết luận như sau:
    “Einstein vĩ đại không hẳn chỉ vì những tư tưởng khoa học mà còn vì tác dụng tâm lý. Trong một giai đoạn nghiêm trọng của lịch sử khoa học, Einstein đã chứng minh rằng, những tư tưởng xưa không hẳn đã là thiêng liêng bất di bất dịch. Chính sự chứng minh đó đã mở đường cho trí tưởng tưởng của những người như Bohr và Broglie khiến họ có thể thành công trong địa hạt lượng tử. Toàn thể khoa vật lý học của thế kỷ 20 đều mang dấu ấn không thể xóa nhoà của thiên tài Einstein”. (Hết)
    [​IMG]
  2. hailua7777

    hailua7777 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/04/2010
    Đã được thích:
    88
    Trong ván cờ người có nên là con pháo
    [​IMG]

    Pháo biết mình phận bạc nhưng không đủ nhẫn tâm để làm Sĩ, không đủ kiên nhẫn để làm Tượng. Không đủ nội lực để làm Xe, làm Mã. Không đủ ma mãnh để làm Tốt. Nên suốt đời Pháo chỉ là Pháo mà thôi!

    Pháo không phải là Tướng, ẩn mình trong cửu Cung với thành cao hào sâu, ba quân tướng sĩ canh gác ngày đêm, an tòan đến nỗi chẳng biết ngoài trời đang mưa hay nắng.

    Pháo không phải là Sĩ, kề cận bên Tướng, dưới một người mà trên vạn người. Đôi khi cũng chỉ cần nói một câu cũng có thể mượn dao giết người mà bề ngoài vẫn thanh cao, tay không vấy máu.

    Pháo không phải là Tượng, không bao giờ được sang sông chỉ ù ì đứng bên này sông cam lòng tử vì Tướng.

    Nhưng Pháo cũng không phải là Mã, sải vó tung hoành trên bàn cờ, sức sát thương mạnh đến mức có thể lật ngược thế cuộc.


    Pháo không phải là Xe - cả đời chỉ đi một đường thẳng, dùng nộ lực mà nghiền nát những vật cản trên đường đi. Tưởng chừng vô hại mà lại là quân mạnh nhất trên bàn cờ.


    Pháo cũng chẳng phải là Tốt, lựa cách sống nước đôi để chờ một kết cục nước đôi. Sang sông hay bị thí.


    Pháo là Pháo - một quân cờ vừa nhu vừa cương. Chọn đường đi thẳng như Xe nhưng ăn quân biến ảo như Mã. Pháo bất chấp tất cả. vì thế người ta kiềng Pháo nhưng khai cuộc lại đẩy Pháo ra trận tiền.


    Người ta gặp khó khăn thì mong chờ Pháo mở đường máu để thóat thân nhưng khi cờ tàn Pháo hoàn thì sẵn sàng đem Pháo về đắp chiếu.


    Pháo biết mình phận bạc nhưng không đủ nhẫn tâm để làm Sĩ, không đủ kiên nhẫn để làm Tượng. Không đủ nội lực để làm Xe, làm Mã. Không đủ ma mãnh để làm Tốt. Nên suốt đời Pháo chỉ là Pháo mà thôi!

    ( st ) Cờ tướng
  3. hailua7777

    hailua7777 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/04/2010
    Đã được thích:
    88
    WILL ROBOTS REPLACE HUMANS IN THE FUTURE?
    [​IMG][​IMG]






    Your goal is to answer the question “WILL ROBOTS REPLACE HUMANS IN THE FUTURE?”


    X
    [​IMG] Jason Chavis
    Freelance Writer

    By Jason Chavis, eHow Contributor




    The future of robots is mere speculation, but judging from developments in recent years, the continued advancements in technology are a foregone conclusion. Robots will likely continue to impact various aspects of our lives, and scientists and philosophers continue to debate the possibilities for the human race. As artificial intelligence continues to develop, there may be a point in which robots become superior to mankind. No matter the future holds, robots will have a place in it.

    1. Significance

      • Domestic robots such as the Roomba have already established themselves in the marketplace. Common household appliances such as toasters and microwaves are fitted with microprocessors, effectively making them robots in their own right. The military has begun automating many of its frontline systems. The Predator and Reaper unmanned aerial reconnaissance and attack crafts have joined ordinance disposal robots on the frontlines of combat. The future is wide open for continued exploration of these devices.

      Features

      • Automobile factories were some of the first to implement robotics on the assembly line, performing tasks too dangerous or delicate for humans to accomplish. This has continued with whole factories beginning to be automated. IBM has instituted a "lights off" factory in Texas that is completely automated. Caterpillar has announced plans to operate robotic heavy machinery by 2021, and has already begun transferring much of their crane operations to remote-controlled robots. The medical industry has utilized robotic surgery assistants for years, most notably the Da Vinci surgical helper. With rising health care costs and the increasing needs of an aging population, hospitals and caregivers are planning vast expansion in the areas of robotics.

      Types

      • In the future, there will be a variety of different types of robots, all possessing skills that meet the functions of their individual tasks.
        Humanoid robots will most likely be the least prolific, since the quest to build a being similar to man is an ongoing challenge. Scientists have developed metal alloys that respond to electric currents much like muscles, making the possibilities for more human-like robots within our grasp. In addition, Honda's Asimo robot prototype may further our understanding of the use for humanoid robots.
        Modular robots are small technological constructs that can assemble themselves into various patterns to better function when performing a specific task. This will allow a robot to be able to perform a variety of jobs without the necessity of specialization. Examples of this include the self-replicating robots, Dr. John Hall's Utility Fog and the snake-like M-Tran.
        Entertainment robots will be the most profitable in the near future. Toys used for education and play are predicted to dominate the market, and the expansion of robotics used for sports has been advanced with the creation of the RoboCup soccer challenge and the success of such TV programs as "Robot Wars."

      Misconceptions

      • All inventions and applications in human history have been manufactured by necessity or for profit. Guaranteeing any direction of development for robotics in the future is a lost cause, as the world changes daily. It's assumed that the continued expansion of robotics within the workplace will continue, possibly at the cost of many service and manufacturing jobs. The impact on the economy is unknown, and can affect the ultimate implementation of robotics in a variety of aspects. Some scientists predict that by the middle of the twenty-first century, robots will be working in agriculture, medicine and domestic care. However, it is also known that the technology to successfully deliver quality robots to these markets is still lacking, although many believe we are in the early stages of developing the platforms needed to achieve these goals.

      Theories/Speculation

      • One concern for scientists and those developing robotic technology, computers and artificial intelligence is the theory of the technological singularity. It is possible that there will be a point in the future when robots will have the ability to self-improve themselves, thereby gaining true artificial intelligence. This will make robots or computers more advanced than human beings, which in theory will allow the machines to conceive of new advancements that people will be unable to comprehend. The impact on humanity from the singularity is unknown, although theories range from a new era of utopian bliss to the destruction of the human population.______




    ______________________________________________


    ''He also fears that machine will be more ruthless killers than soft-hearted humans.''











  4. hailua7777

    hailua7777 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/04/2010
    Đã được thích:
    88
  5. hailua7777

    hailua7777 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/04/2010
    Đã được thích:
    88
    GIỚI THIỆU PHIM

    [​IMG]
    Bicentennial Man
    Người Hai Trăm Tuổi

    Đạo diễn: Chris Columbus
    Diễn viên: Robin Williams, Embeth Davidtz, Sam Neill, Wendy Crewson, Oliver Platt
    Nhà sản xuất: Touchstone Pictures
    Độ dài: 132 phút
    Quốc gia: Mỹ
    Năm sản xuất: 1999


    [​IMG][​IMG]
    [​IMG][​IMG]



    Giới thiệu: Andrew Martin là một người máy có ngoại hình giống hệt người. Trải qua gần 200 năm tồn tại, Martin đã học được cách bày tỏ cảm xúc và suy nghĩ như con người. Và lúc nào ông cũng mong muốn mình được trở thành một con người thật sự.
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]



    ''This is one of the greatest stories ever told on screen, and so well executed. The editing was flawless, the ending was perfect. As a critic of movies I can say there are almost no movies I've ever given a 10/10 rating, but this was one of them.
    The reason it wasn't popular is because humans in general cannot cope with the idea that humanity isn't just black and white. Psychologically we want to group things together and separate, and the same held true for the appreciation of this plot.'':remarked Cody Rush



  6. hailua7777

    hailua7777 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/04/2010
    Đã được thích:
    88
  7. hailua7777

    hailua7777 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/04/2010
    Đã được thích:
    88
    THƯ PHÁP Ả RẬP
    [​IMG]This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 800x600.[​IMG]
    Nguồn gốc chữ À Rập:
    Tiếng Ả Rập là một dòng ngôn ngữ bắt nguồn từ chữ do Thái và chủ yếu là các phụ âm, hệ thống ký tự Ả Rập được phát triển trong một thời gian khá ngắn nhưng sau đó đã trở thành một trong những hệ thống ngôn ngữ rất được phổ biến cho đến nay cùng với các hệ chữ latinh, chữ hán, chữ shanrit,…
    Nguồn gốc người Ả Rập là văn hóa du mục. Họ có một nền văn hóa rất phát triển trước khi bị văn hóa Hồi Giáo làm ảnh hưởng và thống nhất về tư tưởng của họ, thế nhưng văn hóa du mục với vẻ đẹp của thơ ca đã đi vào cuộc sống của họ như một phần thiết thực trong cuộc sống. Người Ả Rập họ sáng tạo rất nhiều về thơ ca, văn học và thư pháp. Từ đó người Ả Rập dần cảm nhận sự quan trọng và công sức rất tuyệt vời của hệ thống ký tự mới này.
    Hệ thống ký tự:
    Hệ thống ký tự hiện nay của Ả Rập có nguồn gốc từ hệ thống ký tự Aram Nabataean. Gồm 28 ký tự không có nguyên âm ngắn, phân biệt các ký tự bằng một dấu chấm hay được đặt trên và dưới các câu. Các nguyên âm ngắn được thực hiện bằng các nét nhỏ chéo ở trên hoặc dưới các ký tự.
    [​IMG]
    Bảng chữ cái Ả Rập
    Hệ thống ký tự Aram Nabataean đã được những người Ả Rập du mục dùng làm hệ thống ngôn ngữ truyển bá rộng rãi từ khu vực Sinai Bắc Arabia kéo dài đến miền nam Syria. Đế chế Nabataean kết thúc năm 105 trước công nguyên, thế nhưng loại ngôn ngữ và chữ viết này đã tác động mạnh đến sự phát triển hệ thống ký tự Ả Rập cho đến nay.
    Hệ thống ký tự Jazm là một hệ thống ký tự mới có nghiên cứu từ hệ thống ngôn ngữ Nabataen, các ký tự cứng nét, góc cạnh và cân đối hơn. Sau này đây chính là hệ thống ký tự xuất phát điểm cho hệ thống ký tự Kuji rất nổi tiếng.
    Vì những chế độ thần quyền trong văn hóa Hồi Giáo đã phát triển nghệ thuật Thư pháp thành một biểu tượng tôn giáo mà đặc trưng là các hệ thống ngôn ngữ dành để thực hiện cuốn kinh Koran một biểu tượng văn hóa lớn của các nước Hồi giáo.
    Học giả Hamid Yasin Safadi (1978) viết:
    Thư pháp tiếng Ả Rập là một hình thức chủ yếu của nghệ thuật cho hình ảnh biểu Hồi giáo và sáng tạo. Trong toàn bộ địa lý rộng lớn của thế giới Hồi giáo, Ả Rập thư pháp là biểu tượng đại diện cho sự thống nhất, vẻ đẹp và sức mạnh. Các nguyên tắc thẩm mỹ của tiếng Ả Rập thư pháp là một sự phản ánh của các giá trị văn hóa của thế giới Hồi giáo. Một điều tra kỹ lưỡng vào những khác biệt mang tính thẩm mỹ giữa Ả Rập và thư pháp tiếng Ả Rập không thể cung cấp một cách tiếp cận để hiểu đúng tinh thần cơ bản của mỗi nền văn hóa.
    [​IMG] [​IMG]
    Sự mạnh mẽ và tràn đầy năng lượng Umayyad phó vương al-Hajjaj Ibn al-Thaqafi Yousuf (694-714), đã về trách nhiệm giải quyết các vấn đề liên quan đến diacriticals. Ông đưa Nasr và Yehya để tinh chỉnh hệ thống Tashkil. Họ giới thiệu việc sử dụng các dấu chấm và dấu hiệu một số nguyên âm như các nhãn hiệu khác biệt. Các dấu chấm được đặt ở trên hoặc bên dưới các lá thư, hoặc là đơn hoặc trong các nhóm hai hoặc ba.

    Thật không may, nhiều người dân và kinh sư hệ thống là không rõ ràng và khó hiểu. Một hệ thống tinh vi hơn là cần thiết. Các phong trào cải cách thứ hai được thực hiện khoảng 786. Ibn Ahmad Khalil al-Farahidi, nhà ngữ văn nổi tiếng Ả Rập và tự điển học, được giao nhiệm xây dựng hệ thống Tashkil mới. Al-Farahidi giới thiệu các dấu hiệu nguyên âm lấy cảm hứng từ hình dạng ban đầu hoặc các bộ phận của lá thư. Dấu hiệu 'hamza,' ví dụ, là một phần của 'Ayn "các chữ cái (không có đuôi kết thúc).
    Hệ thống mới được phổ biến rộng khắp thế giới Hồi giáo. Và tiếng Ả Rập thư pháp có được các đặc điểm của vẻ đẹp, thiêng liêng, và tính linh hoạt. Thư pháp tiếng Ả Rập đã được sử dụng hành chính, về kiến ​​trúc, về tiền xu, để thư từ bút ấn tượng, và việc xuất trình sổ thanh lịch, đặc biệt là Thánh Kinh Koran, thu nhỏ, và tác phẩm văn học khác.
    Ba nhà Thư pháp bậc thầy trong việc phát triển nghệ thuật Thư pháp Ả Rập là Ibn Muqlah (886-940), Ibn al-Bawwab trong thế kỷ 11 và Yaqut al-Musta'simi vào cuối thế kỷ 13. Hai người sau này xây dựng nghệ thuật thư pháp Ả Rập dựa trên cách thể hiện của thầy thông giáo Ibn Muqlah, người Ả Rập yêu thích và tìm hiểu từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18, ba thư pháp này là những người sáng tạo duy nhất của "phong cách hiện đại", và ba bậc thầy thư pháp này với ba phong cách thể hiện đã truyền lại cho đời sau những chuẩn mực, một số đặc trưng và kỹ năng rất riêng biệc cho việc phát triển của thư pháp Ả Rập.
    Thư pháp tiếng Ả Rập đã giành được một danh tiếng cao cả cho là thiêng liêng, đạo đức, và nghệ thuật đại diện của đức tin Hồi giáo và nghệ thuật.

    Minh Hoàng viết
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 604x402.[​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 604x402.[​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]

    __________________
  8. hailua7777

    hailua7777 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/04/2010
    Đã được thích:
    88
    NHÂN TƯỚNG HỌC.
    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong xã hội Việt Nam hiện nay, xem tướng và học tướng là một hiện tượng văn hóa rất phổ cập. Thu hút một số tín đồ vô cùng đông đảo trong hầu hết mọi giai cấp. Số người hành nghề, tài tử cũng như chuyên nghiệp không phải ít. Số người đi xem lại càng đông hơn.

    Nhưng, lại có rất ít người khảo cứu thâm sâu ngành tướng pháp. Cho nên ngành này vẫn còn bị dư luận xem như một môn học huyền bí. Ngộ nhận này sở dĩ có một phần là do những người hành nghề, vì mục đích quảng cáo, đã huyền bí hóa khoa bói toán, phần khác vì các sách hiện có chưa diễn xuất được quan niệm nhân bản và nền tảng thực nghiệm của tướng học. Tác phẩm tướng học hiện nay ở nước ta vừa ít ỏi, vừa đơn sơ, lại mang nặng tính cách hoang đường, hoặc quá thiên về phần thực hành, nặng về giai thọai mà bỏ phần lý thuyết băn bản, cho nên không xây dựng được một học thuyết vững chãi cho khoa nhân tướng.

    Ngay từ buổi sơ khai, khoa này là một bộ môn nhân văn, bao trùm một lãnh vực vô cùng phong phú, có một nền tảng nhân bản và một phương pháp thực nghiệm hết sức rõ rệt.

    Thật vậy, nhân tướng học Á Đông đã tổng hợp tất cả bộ môn tâm lý học Tây Phương vào một mối. Tâm lý học Tây Phương khảo sát con người qua nhiều chuyên khoa riêng rẽ. Có học phái chuyên khảo ý thức và tiềm thức (conscience et subconscience), có học phái nghiên cứu tính tình (carratérologie), có học phái chuyên khảo tác phong (behaviorisme). Sự tồn tại song song của những chuyên khoa đó cho thấy nhân học Tây Phương phân tích con người nhiều hơn là tổng hợp con người. Một khảo hướng như thế không tránh nổi khuyết điểm phiến diện. Khoa tướng Á- đông nhập chung các lãnh vực nhân học làm một. Những nét tướng của khoa nhân học Á-đông đồng thời mang ý nghĩa tính tình lẫn tác phong.

    Nhưng, tướng học Á Đông không dừng chân ở đó. Khoa này còn đào sâu cả địa hạt phú quý, bệnh tật, thọ yểu, sinh kế, nghề nghiệp. Ngòai con người, Đông Phương còn nghiên cứu cả đời người.

    Mặt khác, tướng học Á Đông còn tìm hiểu, qua nét tướng mỗi cá nhân, những chi tiết liên quan đến những người khác có liên hệ mật thiết với mình: đó là cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái, bạn bè.

    Sau cùng, sự giải đóan của tướng học Á Đông còn rộng rãi và táo bạo hơn hẳn khoa tâm lý Tây Phương. Từ nội tâm và liên hệ của con người, khoa tướng Á Đông tiên đoán luôn vận mạng, dám khẳng định cả sự thành bại, thịnh suy, xét cả quá khứ lẫn tương lai không dừng lại ở một giai đọan nào
    Về mặt quan niệm, tướng học Á Đông không có gì thần bí. Khoa này lúc nào cũng hướng về con người và đời người làm đối tượng quan sát. Sự quan sát đó đặt nền tảng trên những nét tướng con người. Tính tình và vận số khám phá được không bao giờ được suy diễn từ thần linh hay từ những ý niệm trừu tượng. Đó là quan niệm hòan tòan nhân bản. Quan niệm này dựa trên định đề căn bản là: có ở bên trong ắt phải biểu lộ ra bên ngoài.

    Vì thấm nhuần tinh thần nhân bản, khuynh hướng tướng học Á Đông coi trọng phần nhân định: cái tâm con người quyết định tương lai con người. Thuật xem tướng chung quy thu gọn vào thuật xem tâm. Nhân tướng học là một nhân tâm học. Nguyên tắc chỉ đạo này được diễn tả qua châm ngôn căn bản sau đây: "Tướng tự tâm sinh, tướng tùy tâm diệt ". Vốn coi nội tâm là chân tướng, cho nên phần tướng của hình hài chỉ là những yếu tố bề ngòai hướng dẫn người xem đi vào bề sâu của tâm hồn. Và chỉ khi nào khám phá được bản thể thâm sâu của con người thì mới đạt mục đích của Tây Phương. Đây là quy tắc duy nhất, bất di bất dịch của việc học tướng và của việc xem tướng.

    Theo quan niệm Á Đông, con người là một sinh vật, luôn luôn biến đổi, do đó các nét tướng cũng biến chuyển theo tâm hồn. Quan niệm này thực tiễn và phù hợp với dịch lý (proceus dialectique) của vạn vật. Đây cũng là một ý niệm căn bản của nhân tướng học Á Đông. Khoa này, thọat kỳ thủy đã xuất phát từ Kinh Dịch tức là sách khảo cứu về các quy luật biến hóa của vạn vật và của con người.

    Nói về phương pháp, nhân tướng học áp dụng lối quan sát trực tiếp con người tức là dựa vào những dữ kiện thực tại và cụ thể chứ không căn cứ vào những hệ luận huyền bí và trừu tượng . Những kết luận về tướng cách cá nhân được rút tỉa từ hình dáng của khuôn mặt, từ đặc điểm của cơ thể, từ màu sắc của nước da, từ đặc tính của mục quang, phong thái đi đứng, nằm, ngồi, cười, nói, ăn ngủ cho đến âm thanh, âm lượng...Những kết luận đó được suy diễn theo lối quy nạp. Người ta tìm những nét tướng giống nhau của những người đồng cách để thiết lập những định tắc cho những ý nghĩa của hình hài, bộ vị, tác phong. Nói như thế, có nghĩa là khoa tướng Đông Phương đã biết sử dụng phương pháp thống kê vô cùng rộng rãi, ngõ hầu tìm hiểu và định giá những nét tướng đã quan sát được trong nhiều trường hợp tương tự, qua nhiều thế hệ khác nhau. Đây quả thật là một phương pháp nhân học dựa vào các trường hợp điển hình, không bao giờ chịu tách rời thực tế.

    Sau cùng, mặc dầu nhân tướng học xếp lọai tướng người, nhưng khoa này không xem các lọai đó như những khuôn mẫu cố định. Những mẫu người đặc biệt đó vẫn sinh động, đó là những mẫu người SỐNG, biến thái qua thời gian, biểu lộ qua những nét thần, nét khí, nét sắc thay đổi từng thời kỳ. Tùy đặc điểm của thần khí sắc biến thiên đó, người ta xét đến biến cố, đến vận mệnh. Cho nên khoa tướng số Á Đông có phần tĩnh ở các hình hài, bộ vị, nhưng cũng có phần động ở thần khí sắc. Những ngọai biểu của thần khí sắc qua thời gian cũng có định tắc riêng, cũng được suy diễn từ việc quan sát, từ sự thực nghiệm, từ các thống kê, từ lối quy nạp.

    Tóm lại, nhân tướng học Á Đông là một bộ môn nhân văn, từ người mà ra, do người mà có và nhằm phục vụ cho con người từ trong việc " tri kỉ, tri bỉ ". Tiếc rằng, cho tới nay, nền tảng nhân bản và tinh thần thực nghiệm đó chẳng còn được mấy người hiểu biết và khai triển khiến cho cái tinh hoa và giá trị của khoa này bị phai lạt dần.

    (Tác giả: HY TRƯƠNG)
  9. Linh_1975

    Linh_1975 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    10/03/2002
    Đã được thích:
    2
    Long time no seen bác 2 :)

    Thể theo chữ ký của bác 2 bạn "con" nó kêu rằng là nó muốn đăng ký học, nhưng với điều kiện thầy dạy phải đẹp trai, và khi dạy phím piano hoặc gãy guitar phải ngồi phía sau cầm tay chỉ tận tình như là ... phim Hàn Quốc vậy, thì bạn ấy mớ i học [:D]


    bác 2 suy nghĩ kỹ rồi PM cho con nhé. Đa tạ bác. [:D]
  10. Linh_1975

    Linh_1975 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    10/03/2002
    Đã được thích:
    2
    clip này nặng bị giật hoài nhưng nghe thấy xúc động quá bác 2...

Chia sẻ trang này