Chúc mừng đại tướng 100 tuổi, niềm vui duy nhất hôm nay

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi linhvu, 24/08/2010.

108 người đang online, trong đó có 43 thành viên. 03:52 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 5198 lượt đọc và 88 bài trả lời
  1. linhvu

    linhvu Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    13/04/2010
    Đã được thích:
    0
    Kính chúc đại tướng sống mạnh khỏe và trường thọ...^:)^^:)^^:)^^:)^^:)^
  2. linhvu

    linhvu Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    13/04/2010
    Đã được thích:
    0
    Không bác nào vào chúc thọ đại tướng à
  3. vietnhatmedic

    vietnhatmedic Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    03/01/2010
    Đã được thích:
    0
    Đại Tướng có lo cơm nước cho nhà em đc ko mà bẩu e chúc thọ??? Việc ai người nấy lo nhé, xã hội là thế
  4. SINH-TU

    SINH-TU Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    01/06/2010
    Đã được thích:
    73
    [​IMG]
    Sứ mệnh cách mạng trong dòng máu trí thức

    Chúc mừng đại tuớng
    [​IMG]
    Vẫn mang khí phách năm nào :-bd:-bd
  5. SINH-TU

    SINH-TU Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    01/06/2010
    Đã được thích:
    73
    Tóm tắt tiểu sử-Đại tướng Võ Nguyên Giáp


    1. Họ và tên (bí danh): VÕ NGUYÊN GIÁP (Văn)

    2. Năm sinh: Ngày 25/8/1911.

    3. Cấp bậc, chức vụ cao nhất: Đại tướng, Phó thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

    4. Quê quán: Làng An Xá, xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình

    5. Trú quán: Phố Hoàng Diệu, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

    6. Thành phần: Nhà nho yêu nước.

    7. Năm tham gia cách mạng: Năm 1925.

    8. Năm nhập ngũ: Năm 1944.

    9. Ngày vào Đảng – Chính thức: Năm 1940.

    10. Năm phong quân hàm cấp tướng: Đại tướng năm 1948.

    11. Quá trình tham gia cách mạng

    Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925 khi mới 14 tuổi. Năm 1929, đồng chí tham gia cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đảng Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Năm 1930, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam vì tham gia các cuộc biểu tình chống Pháp. Không có chứng cớ, cuối cùng, chúng buộc tha đồng chí. Đồng chí tiếp tục hoạt động cách mạng trên mặt trận văn hoá, viết bài cho những tờ báo công khai như: Tin tức, Nhân dân, Tiếng nói của chúng ta, Lao động, làm biên tập viên cho các tờ báo của Đảng, dạy sử, địa cho Trường tư thục Thăng Long.

    Năm 1934, đồng chí kết duyên với Bà Nguyễn Thị Minh Thái, một Đảng viên Cộng sản, cộng sự đắc lực của đồng chí. Trong những năm tháng hoạt động bí mật, hai vợ chồng đồng chí sống ở số nhà 46 phố Nam Ngư, Hà Nội. Sau này, Bà Nguyễn Thị Minh Thái bị thực dân Pháp bắt, giết chết bà trong ngục nhà tù Hoả Lò. Từ năm 1936 đến 1939, đồng chí tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, biên tập viên các tờ báo của Đảng, Chủ tịch Uỷ ban báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội.

    Năm 1939, đồng chí cùng đồng chí Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Được sự dìu dắt của Người, năm 1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 5 năm 1941, đồng chí trở về Cao Bằng, tham gia gây cơ sở cách mạng, lập ra Mặt trận *********, tham gia chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng. Năm 1942, đồng chí phụ trách Ban Xung phong Nam tiến, dùng hoạt động tuyên truyền vũ trang mở đường liên lạc giữa miền núi với đồng bằng Bắc Bộ.

    Tháng 12/1944, đồng chí được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 22/12/1944, tại một khu rừng ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã uỷ nhiệm cho đồng chí đứng ra tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Đồng chí được giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy.

    Tháng 3/1945, đồng chí đưa Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiến xuống phía Nam, hội quân với đội Cứu quốc quân của đồng chí Chu Văn Tấn ở vùng chợ Chu, Thái Nguyên để thống nhất tổ chức thành Việt Nam giải phóng quân.

    Ngày 4/8/1945, đồng chí là Uỷ viên Uỷ ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ, làm Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang thống nhất mang tên Việt Nam Giải phóng quân, tham gia Uỷ ban Chỉ huy Lâm thời khu Giải phóng Việt Bắc.

    Đồng chí được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II, cử vào Ban Chấp hành Trung ương và là Uỷ viên Thường vụ ban Chấp hành Trung ương, tham gia Uỷ Ban Khởi nghĩa toàn quốc, Uỷ ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Lâm thời.

    Tháng 1/1946, đồng chí được cử là Chủ tịch quân sự, Uỷ viên hội đồng trong Chính phủ Liên hiệp, Phó trưởng đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đàm phán với Pháp tại Hội nghị ở Đà Lạt. Năm 1946, đồng chí kết hôn với Bà Đặng Thị Bích Hà (Con gái cố Giáo sư Đặng Thai Mai).

    Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL, phong đồng chí làm Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt
    Nam. Ngày 27/10/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương ra Nghị quyết: “Lập chế độ chính trị uỷ viên, đại diện chỉ huy kiêm Chính uỷ. Tháng 6/1950, có Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng chấn chỉnh tổ chức thành Bộ Quốc phòng, đồng chí là Tổng tư lệnh, Tổng chính uỷ, Bí thư Quân uỷ Trung ương. Đồng chí đảm nhiệm các cương vị trên từ năm 1945 đến năm 1975.

    Về Đảng, đồng chí liên tục được bầu là Uỷ viên Trung ương Đảng các khoá II (năm 1951), đến khoá VI (Ngày 20/12/ 1986), làm Uỷ viên Bộ Chính trị các khoá từ khoá II đến khoá VI. Đồng chí là đại biểu Quốc hội từ khoá I (năm 1946) đến khoá VI (Năm 1986). Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí trực tiếp chỉ huy các chiến dịch lớn: Biên Giới năm 1950, Điện Biên Phủ năm 1954.

    Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí cùng Bộ Chính Trị chỉ đạo các chiến dịch lớn ở miền Nam Việt Nam, trong đó có Chiến dịch Hồ Chí Minh, chỉ đạo cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam.

    Năm 1980, đồng chí thôi giữ chức Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, rút khỏi Bộ Chính trị năm 1982. Cuối năm 1983, đồng chí được cử làm Chủ tịch Uỷ ban sinh đẻ có kế hoạch. Cuối năm 1993, đồng chí được suy tôn làm Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

    Đồng chí là tác giả của nhiều tác phẩm và sách lý luận quân sự được xuất bản trong và ngoài nước. Từ năm 1948 đến nay, đồng chí có gần 70 đầu sách trong đó có sách văn học, có sách viết về đề tài khoa học kỹ thuật, kinh tế, có cuốn tái bản đến 5,6 lần. Ngoài ra còn có 21 tuyển tập gồm các lệnh động viên, báo cáo tổng kết, diễn văn, huấn thị, chỉ thị.


    12. Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

    - Huân chương Sao vàng.


    - Hai Huân chương Hồ Chí Minh.

    - Hai Huân chương Quân công hạng nhất.

    - Huân chương Chiến thắng hạng nhất.
    - Huân chương Chiến công hạng nhất.

    - Huân chương Kháng chiến hạng nhất.

    - Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.

    - Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

    Đồng chí được Nhà nước Lào tặng Huân chương vàng Quốc gia Lào, Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Ăng Co. Đồng chí được Đảng, Chính phủ các nước tặng nhiều Huân chương cao quý.



  6. anhtuan_116

    anhtuan_116 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    30/01/2004
    Đã được thích:
    0
  7. tenlieu04

    tenlieu04 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    24/08/2009
    Đã được thích:
    541
    Đại tướng luôn luôn ở trong lòng mỗi chúng ta
    Hãy cùng nâng ly nào!
    [r2)][r2)][r2)][r2)][r2)][r2)][r2)][r2)][r2)]
  8. chinhdo

    chinhdo Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/02/2010
    Đã được thích:
    0
    Ngày mai, các bác chúc mừng SN lần thứ 100 của Đại tướng bằng cách tổng tiến công 2 sàn như bộ đội ta năm nào tấn công Điện Biên Phủ đi.=D>
  9. tenlieu04

    tenlieu04 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    24/08/2009
    Đã được thích:
    541
    Đủ biết là loại nào roài^:)^^:)^^:)^^:)^^:)^^:)^
  10. SINH-TU

    SINH-TU Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    01/06/2010
    Đã được thích:
    73
    Điện Biên Phủ: Quyết định khó khăn nhất của tướng Giáp


    Bài viết cập nhật lúc: 03:06 ngày 02/05/2009 [​IMG]Mở đường trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

    Quân Pháp đã biết trước rất rõ kế hoạch đánh Điện Biên Phủ của ta. Năm mũi tiến công chiến lược.
    Điện Biên Phủ - Bài 1: Quân báo tịch thu bản đồ địch
    Sáng ngày 20-11-1953, quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ nhằm xây dựng nơi đây thành tập đoàn cứ điểm mạnh để trấn giữ Tây Bắc và che chở cho Thượng Lào.
    Ngày 6-12, Bộ Chính trị họp, nhất trí thông qua phương án tác chiến trong chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954 và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, dự kiến kéo dài 45 ngày. Tuy nhiên sau đó, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định thay đổi phương án.
    Ngày 6-12-1953, quân Pháp hay tin đại đoàn (sư đoàn) 316 của ta đã đến Tuần Giáo (chuẩn bị đánh Lai Châu). Lo sợ bị chia cắt lực lượng, tướng Cogny vội vã ra lệnh rút toàn bộ lực lượng khỏi Lai Châu, tập trung về tăng cường phòng ngự Điện Biên Phủ.
    Nô nức chờ ngày nổ súng
    Ngày 20-12, đại đoàn công pháo 351 của ta hành quân lên Điện Biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ ban đầu mang mật danh là chiến dịch Trần Đình. Hầu hết các đại đoàn chủ lực của ta đã được lệnh tham gia chiến dịch.
    Ngày 14-1-1954, bộ chỉ huy chiến dịch họp để phổ biến mệnh lệnh và kế hoạch chiến đấu cho các đại đoàn. Phương châm chiến dịch là “đánh nhanh-giải quyết nhanh”. Dự kiến trận đánh sẽ kéo dài hai, ba ngày đêm. Thời gian nổ súng lúc đầu quy định ngày 20-1.
    Các nẻo đường từ hậu phương lên mặt trận sôi động từ cuối tháng 12-1953. Bộ đội, dân công, thanh niên xung phong... tất cả đều náo nức chờ ngày nổ súng.
    Sau khi nghe các cán bộ đi trước chuẩn bị chiến trường báo cáo, đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận thấy việc lựa chọn phương án “đánh nhanh-giải quyết nhanh” là quá mạo hiểm.
    Ông đã phải trải qua 11 ngày đêm cân nhắc, suy tính để đi đến cái mà hàng chục năm sau, trong hồi ký của mình ông gọi là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy. Một quyết định mang tính lịch sử bởi đây là điểm tựa đưa đến ngày chiến thắng. Một quyết định mà bao cán bộ, chiến sĩ Điện Biên Phủ đến giờ vẫn ngợi ca là sáng suốt, nhân đức.
    Kế hoạch đánh bị lộ
    Ông Lê Trọng Nghĩa 88 tuổi, nguyên Cục trưởng Cục Quân báo, nhớ lại:
    “Ngày 15-12-1953, ta quyết định kế hoạch chiến dịch. Sau đó, tôi đi cùng với đại tướng Võ Nguyên Giáp và anh Trần Văn Quang (1) lên Tây Bắc.
    Ở Điện Biên Phủ, ngày 19-1-1954, tình báo ta biết được địch mở chiến dịch Atlante(2). Tôi với anh Trần Văn Quang trực tiếp báo cáo với đại tướng về chiến dịch này. Thời điểm đó ta đang chuẩn bị đánh nhanh. Chỉ còn ít ngày là nổ súng, rất mừng và phấn khởi vì địch dồn tất cả lực lượng vào chiến dịch Atlante, có nghĩa ít nhất cũng phải mất hai tháng, đủ thời gian cho ta xơi Điện Biên Phủ.
    Đêm 22-1, tôi nhận được tin: Địch biết rất rõ kế hoạch của ta đánh Điện Biên Phủ. Sáng 23-1, sau khi tập hợp tin tức tình báo cả đêm, tôi đến trực tiếp báo cáo với tổng tư lệnh về chuyện địch đã có được kế hoạch cụ thể của ta, đánh ở đâu, ngày giờ nào, cách đánh như thế nào.
    Việc làm của tôi là rất nguy hiểm vì trong kỷ luật chiến trường, khi Bộ tổng tư lệnh đã hạ quyết tâm, khi mệnh lệnh đã ban ra thì ở dưới nhất nhất thi hành, cấm tất cả tướng sĩ không được nói khác đi, làm người chỉ huy nao núng...”.
    [​IMG]
    Vùng Tây Bắc giáp với Lào và chiến trường Điện Biên Phủ (hình sao trong bản đồ của Pháp). ​
    Tổng tư lệnh trực tiếp đi kiểm tra
    Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe báo cáo không phải đã tin ngay. Ông ra lệnh kiểm tra lại tin này.
    Ông Lê Trọng Nghĩa kể:
    “Trực tiếp tôi phải xác định lại tin này, không được qua báo cáo nữa. Bên Cục Bảo vệ, ông Phạm Kiệt cũng phải trực tiếp kiểm tra tin từ tù binh bị bắt. Vì theo tôi báo cáo, việc bị lộ thông tin là do địch bắt được chiến sĩ của ta. Ông Giáp cũng trực tiếp xuống tận lán của tình báo kỹ thuật, yêu cầu người thu được tin địch biết động thái của ta giải thích. Trong các chiến dịch lớn, không bao giờ tổng tư lệnh lại đi kiểm tra trực tiếp một chuyện nhỏ như thế!
    Tôi ra sát Điện Biên Phủ, dùng ống nhòm và tai nghe để kiểm tra tình hình, thấy nó vẫn đang nhảy dù xuống. Lúc bấy giờ các tướng lĩnh đã được phái đi đốc chiến hết, ở sở chỉ huy chẳng còn mấy người.
    Đến chiều, tôi tổng hợp và báo cáo lại đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi lại khẳng định là địch đã biết rõ kế hoạch của ta và có kế hoạch cụ thể để đối phó. Ông Phạm Kiệt hôm ấy đi kiểm tra tại các đơn vị 312 và 308 đã vào chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị để chỉ một, hai ngày nữa là đánh. Chiều, ông Kiệt nói: Đúng là 312 mất một chiến sĩ, còn 308 xa quá không liên lạc được, đồng thời cũng báo cáo lên là “không nắm được quân nữa”.
    Tôi cứ nhấn mạnh về việc kế hoạch của ta đã bị lộ. Đại tướng không kết luận gì, chỉ nói: “Báo cáo thế là được rồi” nhưng ra lệnh cho tôi không được báo tin đó với bất kỳ ai, nhất là với cố vấn. Các ông cố vấn vẫn luôn xuống chỗ tôi hỏi han tình hình.
    Sau đó, đại tướng họp với cố vấn, đưa ra ý kiến không theo kế hoạch cũ được. Cuối cùng, cố vấn Vi Quốc Thanh cũng đồng ý và nhận sẽ đả thông cho cả đoàn cố vấn, những người vẫn theo tư tưởng “đánh nhanh-thắng nhanh””.
    Năm mũi tiến công chiến lược
    Kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 của ta gồm năm mũi tiến công chiến lược đã lần lượt xé nhỏ phần lớn lực lượng quân cơ động chiến lược của địch.
    - Đầu tháng 11-1953, đại đoàn 316 lên Tây Bắc tiến công giải phóng Lai Châu. Lo sợ mất Tây Bắc, lá chắn cho Thượng Lào, tướng Navarre cho quân cấp tốc nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ. Đại đoàn 316 đã đánh tan cánh quân địch rút từ Lai Châu về và cánh quân từ Mường Thanh lên tiếp ứng tại Bản Tấu, Pu San, Mường Pồn. Navarre vội vã điều thêm nhiều tiểu đoàn cơ động lên Điện Biên Phủ.
    - Đầu tháng 12-1953, một số trung đoàn chủ lực thuộc các đại đoàn 325 và 304 sang Trung Lào cùng bộ đội bạn tiến công giải phóng thị xã Thà Khẹt, làm chủ toàn tỉnh Khăm Muộn, giải phóng hầu hết vùng Trung Lào. Tướng Navarre cuống cuồng điều thêm quân tăng cường cho Trung Lào.
    - Đầu tháng 1-1954, quân ta và bộ đội bạn thừa thắng tiến xuống Hạ Lào giải phóng thị xã A tô pơ và toàn bộ cao nguyên Bô lô ven. Tướng Navarre phải điều bốn tiểu đoàn cơ động đến Pắc xế.
    - Ngày 20-1-1954, tướng Navarre huy động sáu binh đoàn cơ động tổ chức chiến dịch Atlante đổ bộ lên Tuy Hòa nhằm đánh chiếm vùng tự do liên khu 5 của ta. Ta sử dụng lực lượng địa phương bảo vệ vùng tự do và điều hai trung đoàn chủ lực của liên khu 5 lên mở chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng thị xã Kon Tum và toàn bộ vùng bắc Tây Nguyên. Sợ mất cả Tây Nguyên, Navarre buộc phải bỏ dở cuộc hành binh Atlante, đưa 14 tiểu đoàn cơ động lên tăng cường cho Tây Nguyên.
    - Ngày 26-1-1954, ta quyết định thay đổi phương châm tác chiến tại Điện Biên Phủ. Đại đoàn 308 được lệnh hành quân cấp tốc sang Thượng Lào, cùng bộ đội bạn đánh đuổi địch đến tận bờ sông Mékong, chỉ cách thủ đô Lào 15 km. Ở phía tây Bắc, trung đoàn 148 và bộ đội bạn đánh địch giải phóng toàn bộ tỉnh Phong xa lì. Tướng Navarre phải cấp tốc lập cầu hàng không, rút tám tiểu đoàn cơ động từ các nơi sang Lào.

Chia sẻ trang này