Chứng khoán phái sinh - kiếm lợi ngay cả khi thị trường giảm

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi doanngocthao1701, 18/04/2017.

111 người đang online, trong đó có 44 thành viên. 03:51 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 8168 lượt đọc và 53 bài trả lời
  1. doanngocthao1701

    doanngocthao1701 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/12/2013
    Đã được thích:
    2.156
    short sell gì vậy bác
    cái này liên quan gì tới bán khống đâu bác
    --- Gộp bài viết, 19/04/2017, Bài cũ: 19/04/2017 ---
    hàng có đầy bác ạ
    bác sang artex hỏi xem
  2. doanngocthao1701

    doanngocthao1701 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/12/2013
    Đã được thích:
    2.156
    Chứng khoán phái sinh và những lợi ích mang lại
    Ủy ban Chứng Khoán Nhà Nước và các Sở ban ngành có liên quan đã có lộ trình cụ thể phát triển những sản phẩm phái sinh trên thị trường chứng khoán (TTCK) đến 2016. Một trong những nhóm giải pháp được đưa vào nghiên cứu là Hợp đồng tương lai (Futures), dự kiến có thể đưa vào giao dịch trong năm 2015 nếu khung cơ sở pháp lý được hoàn tất.
    Sản phẩm phái sinh vẫn còn là khái niệm khá lạ lẫm đối với phần lớn các nhà đầu tư trên thị trường Chứng khoán Việt Nam. Cách hiểu thông dụng nhất đối với thuật ngữ này là: Một công cụ đầu tư tài chính mà giá trị của nó biến đổi dựa trên giá trị của tài sản cơ sở tương ứng. Ngoài ra:

    (1) Các sản phẩm phái sinh được giao dịch dưới hình thức hợp đồng phái sinh – đi kèm với một khuôn khổ pháp lý nhất định. Các bên tham gia hợp đồng phái sinh bao gồm bên bán (giữ vị thế bán sản phẩm phái sinh – short position) và bên mua (giữ vị thế mua sản phẩm phái sinh – long position). Trong các hợp đồng phái sinh, bên bán luôn phải thực hiện một nghĩa vụ nhất định đối với bên mua, tại thời điểm hiện tại hoặc trong tương lai.

    (2) Việc giao dịch sản phẩm phái sinh cho phép người nắm giữ có khả năng ghi nhận lãi/lỗ trước khi giao dịch được thực sự diễn ra trên tài sản cơ sở.

    (3) Sản phẩm phái sinh có đặc điểm tương tự như các sản phẩm bảo hiểm trong việc quản trị rủi ro, hoán chuyển rủi ro giữa các bên tham gia hợp đồng phái sinh. Tuy vậy, bản chất rủi ro vẫn không thay đổi và luôn được đi kèm với tài sản cơ sở.

    Lợi ích của chứng khoán phái sinh

    Trên thực tế, định nghĩa “sản phẩm phái sinh” theo lịch sử phát triển của nhiều TTCK quốc tế thường bị nhầm lẫn khi số lượng các công cụ và sản phẩm tài chính tăng lên rất nhanh theo thời gian. Một ví dụ điển hình có thể kể tới như trường hợp của các quỹ ETF (Exchange-traded Funds); mặc dù giá trị của chứng chỉ quỹ ETF bản chất cũng được xuất phát từ giá trị của danh mục bao gồm nhiều cổ phiếu cơ sở, tuy nhiên chúng chưa bao giờ được xem như một “sản phẩm tài chính phái sinh”. Vì vậy, có một số lưu ý cơ bản về sản phẩm này mà nhà đầu tư nên biết trước khi đưa ra quyết định có nên sử dụng chúng hay không.

    (1) Bằng việc sử dụng những sản phẩm tài chính phái sinh, nhà đầu tư có thể đưa ra nhiều chiến lược đầu tư, cũng như cách tiếp cận mới để quản trị rủi ro mà thông thường sẽ không tạo ra được chỉ với bằng những tài sản cơ sở.

    · Ví dụ điển hình là tồn tại một sản phẩm phái sinh với tên gọi “quyền chọn bán” cho phép giới đầu tư đầu cơ giá xuống. Như nhiều chuyên gia đã nhận định rằng TTCK Việt Nam chỉ chuyển động một chiều (Thị trường lên thì mua, thị trường xuống thì bán), “quyền chọn bán” sẽ giúp giải quyết vấn đề này, cũng như quản trị rủi ro giá xuống cho người nắm giữ chứng khoán tương ứng, hoặc cho phép “bán khống” (short sell) một cách hợp pháp.

    · Sử dụng đòn bẩy tài chính: Mặc dù Thông tư 36 ra đời đã hạn chế việc sử dụng đòn bẩy (margin) của nhà đầu tư chứng khoán thông qua việc thắt chặt nguồn cung tín dụng từ phía các Ngân hàng Thương mại. Tuy nhiên, đặc trưng của sản phẩm phái sinh là chi phí để sở hữu chúng thường thấp hơn giá trị của tài sản cơ sở rất nhiều, nhưng sản phẩm phái sinh lại cho phép người dùng ghi nhận lợi nhuận hệt như đang nắm giữ tài sản cơ sở (tại thời điểm hợp đồng phái sinh đáo hạn, hoặc bên có nghĩa vụ thực hiện thanh lý hợp đồng). Theo đó, nhà đầu tư chỉ cần sở hữu 100 sản phẩm phái sinh (giả sử có tổng chi phí sở hữu bằng một tài sản cơ sở) là có thể mang lại lợi nhuận tương đương với việc nắm giữ 100 tài sản cơ sở.

    (2) Các sản phẩm phái sinh giúp hạn chế và quản trị rủi ro khi tham gia đầu tư tài chính chứ không thể triệt tiêu toàn bộ rủi ro. Lấy ví dụ như khi hai bên tham gia hợp đồng kỳ hạn (Forwards) hay hợp đồng tương lai (Futures), trong khi những hợp đồng này giúp các bên tham gia quản trị rủi ro hàng hóa mất giá (hoặc tăng giá) thì rủi ro tín dụng rằng một trong hai bên tham gia hợp đồng mất khả năng thanh toán vẫn hiện hữu.

    Đồng thời, sự ra đời của các sở giao dịch, trung tâm lưu ký, thanh toán bù trừ chỉ góp phần hạn chế tối đa rủi ro cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ tham gia thị trường phái sinh.

    (3) Tăng sức hấp dẫn cho thị trường chứng khoán, thu hút dòng vốn đầu tư từ nhà đầu tư nước ngoài, giải quyết vấn đề thiếu hụt room khối ngoại:

    · Việc đa dạng hóa công cụ đầu tư chắc chắn sẽ làm tăng sức hấp dẫn cho thị trường chứng khoán. Điển hình là là các hợp đồng tương lai chỉ số (hợp đồng tương lai chỉ số VN-Index, HNX-Index, hay các bộ chỉ số ngành) cho phép nhà đầu tư tham gia “đầu tư trực tiếp vào VN-Index (hoặc HNX-Index)” hệt như đang tham gia đầu tư vào một cổ phiếu nhất định. Tác dụng rõ ràng nhất của việc “đầu cơ chỉ số” là giúp nhà đầu tư loại bỏ hoàn toàn rủi ro công ty (company specific risk).

    · Ngoài ra, sự ra đời của các công cụ phái sinh còn có thể phần nào giải quyết vấn đề thiếu hụt room cho khối ngoại. Cụ thể, thay vì trực tiếp nắm giữ, nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm giữ sản phẩm phái sinh (quyền chọn mua/quyền chọn bán) với tài sản cơ sở là chính cổ phiếu/chứng khoán đó. Như vậy, trừ khi tổ chức nước ngoài muốn trở thành cổ đông chiến lược thì mọi hình thức đầu tư từ đầu tư giá trị tới đầu cơ ngắn hạn đều được thỏa mãn bởi các công cụ phái sinh.

    (4) Thanh toán linh hoạt: Sự linh hoạt trong thanh toán không khác gì so với khi giao dịch cổ phiếu/chứng khoán khiến các sản phẩm phái sinh trở nên rất hấp dẫn. Đối với một vài sản phẩm phái sinh điển hình đã có lộ trình phát triển tới 2015-2016 tại Việt Nam:

    · Đối với các hợp đồng quyền chọn (Options): Hiện tại trên thế giới tồn tại hai hình thức hợp đồng quyền chọn phổ biến. Loại thứ nhất cho phép nhà đầu tư nắm giữ tất toán hợp đồng tại một thời điểm đáo hạn duy nhất (theo hợp đồng quyền chọn kiểu Châu Âu - European Options) sau khi kết thúc kỳ hạn hợp đồng. Loại thứ hai cho phép nhà đầu tư nắm giữ linh hoạt tất toán hợp đồng tại bất kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng đáo hạn (theo hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ - American Options)

    · Đối với các hợp đồng tương lai (Futures): Là sản phẩm mà Ủy ban chứng khoán và các Sở ban ngành có liên quan đang lên kế hoạch xây dựng phát triển. Khác với hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai linh hoạt hơn rất nhiều bởi bất cứ khi nào muốn tất toán hoặc thanh lý hợp đồng, các bên giao dịch có thể tham gia vào một hợp đồng tương lai tương tự nhưng có vị thế trái ngược với hợp đồng ban đầu (nếu lúc đầu tham gia ở vị thế bán thì lúc sau có thể tham gia ở vị thế mua) và đảm bảo thời gian đáo hạn của hai hợp đồng là trùng khớp nhau.

    Các loại chứng khoán phái sinh thường dùng cho thị trường chứng khoán

    Lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán thế giới chứng kiến sự ra đời của rất nhiều các sản phẩm phái sinh, phần lớn trong số đó được xây dựng dựa trên tài sản cơ sở là Chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu… ). Dưới đây là một số sản phẩm phái sinh thường được dung cho thị trường chứng khoán:

    (1) Hợp đồng kỳ hạn (Forwards) và Hợp đồng tương lai (Futures): Hai loại hợp đồng phái sinh này về cơ bản khá giống nhau. Các bên tham gia hợp đồng phái sinh mong muốn cố định mức giá của tài sản cơ sở để tiện cho việc giao dịch trong tương lai. Trong khi Hợp đồng kỳ hạn được thỏa thuận trực tiếp trên bàn đàm phán, diễn ra tại các thị trường OTC thì Hợp đồng phái sinh được tiêu chuẩn hóa và quản lý chặt chẽ bởi các Sở ban ngành, đồng thời những chủ thể tham gia sẽ giao dịch thông qua Trung tâm lưu ký và bù trừ Hợp đồng.

    Hợp đồng tương lai (hoặc Hợp đồng kỳ hạn) chỉ số là hình thức phổ biến nhất được nhà đầu tư sử dụng trên thị trường cổ phiếu.

    (2) Hợp đồng quyền chọn (Options): Hợp đồng quyền chọn có hai loại thông dụng nhất là Quyền chọn mua (Call Options) cho phép người nắm giữ có quyền (chứ không phải nghĩa vụ) mua một chứng khoán nhất định (tài sản cơ sở) tại mức giá được định trước trong tương lai; trong khi ở chiều ngược lại, Quyền chọn bán lại cho phép người nắm giữ có quyền được bán chứng khoán đó.

    (3) Hợp đồng hoán đổi (Swap): Hợp đồng hoán đổi từng là sản phẩm phái sinh được nhiều Ngân hàng sử dụng rộng rãi trong các nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ. Tuy nhiên, giới đầu tư tài chính cũng rất sáng tạo khi thành công việc đưa sản phẩm này vào sâu trong thị trường vốn. Hợp đồng hoán đổi chứng khoán vốn (Equity swap) cho phép hai bên tham gia hợp đồng (cùng có nghĩa vụ) thực hiện hoán đổi dòng thu nhập của mình, để có ý nghĩa thig thông thường hai dòng thu nhập này phải mang tính chất khác nhau. (Ví dụ: hoán đổi giữa thu nhập từ thặng dư vốn khi nắm giữ chứng khoán và thu nhập từ lãi suất cố định của tiền gửi; hoán đổi giữa thu nhập từ thặng dư vốn khi nắm giữ chứng khoán và thu nhập từ lãi suất thả nổi của tiền gửi).

    http://*********.vn/2015/02/chung-khoan-phai-sinh-va-nhung-loi-ich-mang-lai-3355-405739.htm
    DragonGate thích bài này.
  3. ChiemTinhHoc26

    ChiemTinhHoc26 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    12/08/2016
    Đã được thích:
    1.738
    À, hỏi bên bác có cho mượn hàng short sales thì mình mở tk thui mà :):):)
  4. doanngocthao1701

    doanngocthao1701 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/12/2013
    Đã được thích:
    2.156
    ko có short sale đâu nhé :D
  5. doanngocthao1701

    doanngocthao1701 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/12/2013
    Đã được thích:
    2.156
    Chứng khoán phái sinh (CKPS) là một công cụ tài chính, trong đó giá trị CKPS phụ thuộc vào giá trị của một hay nhiều loại tài sản cơ sở. Chứng khoán phái sinh có dạng hợp đồng tài chính trong đó quy định quyền lợi/và chuyển giao tài sản cơ sở với một mức giá được thoả thuận trước vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Tài sản cơ sở của chứng khoán phái sinh được chia thành 2 dạng chính:

    · Công cụ tài chính: cổ phiếu (chỉ số cổ phiếu, cổ phiếu đơn lẻ), trái phiếu (trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa phương, trái phiếu doanh nghiệp), lãi suất (lãi suất ngân hang, lãi suất ngoại tệ), tiền tệ (ÚD, Yên Nhật, Euro, v.v…)

    · Hàng hoá: thực phẩm (ngũ cốc, thịt, cà phê, hồ tiêu, v.v…), kim loại (vàng, bạc, kẽm, v.v…), năng lượng (khí đốt, dầu, v.v…), khác (thời tiết, kết quả bầu cử, v.v…)

    Chứng khoán phái sinh được chia thành 04 loại chính:


    · Hợp đồng hoán đổi (HĐHĐ): là một thoả thuận pháp lý trong đó hai bên cam kết hoán đổi dòng tiền của một công cụ tài chính của một bên với dòng tiền của công cụ tài chính của bên còn lại trong một khoảng thời gian nhất định.

    · Hợp đồng kì hạn (HĐKH): là thoả thuận pháp lý giữa hai bên tham gia về việc mua và bán một loại tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá xác định trước tại ngày thực hiện giao dịch.

    · Hợp đồng quyền chọn (HĐQC): là thoả thuận pháp lý trong đó một bên có quyền yêu cầu thực hiện và bên kia có nghĩa vụ phải mua hoặc bán một lượng tài sản cơ sở theo mức giá đã xác điijnh trược tại hợp đồng trong một khoảng thời gian hoặc tại một thời điểm nhất định trong tương lai.

    · Hợp đồng tương lai (HĐTL): là một dạng hợp đồng kì hạn được chuẩn hoá, niêm yết và giao dịch tạo thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán).

    Khi nói đến thị trường tài chính, không ít người sẽ liên tưởng ngay đến thị trường cổ phiếu. Tuy vậy, trên thực tế, thị trường tài chính bao trùm một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, gồm từ trái phiếu đến hối đoái, cùng nhiều loại tài sản và công cụ tài chính khác. Trong số này, một mảng thị trường đã và đang trở nên ngày càng nổi bật, một phần nhờ ở tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ vào hạng nhất của nó, đặc biệt trong những năm gần đây – đó là thị trường chứng khoán phái sinh.

    Nói một cách chung nhất, chứng khoán phái sinh là công cụ mà giá trị của nó được xác định từ, và phụ thuộc vào, một tài sản/yếu tố gốc, còn gọi là tài sản cơ sở (underlying). Có rất nhiều tài sản, bao gồm cả tài sản tài chính và tài sản phi tài chính được lấy làm “gốc” cho chứng kháon phái sinh; trong đó có thể kể đến cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, công cụ nợ có thu nhập cố định, ngoại tệ, sự kiện tín dụng, hàng hoá cơ bản thậm chí là cả các chứng khoán phái sinh khác.

    Ở một cách tiếp cận khác, nhìn vào bản chất của công cụ, chứng khoán phái sinh là hợp đồng tài chính được thiết lập ngày hôm nay giữa hai bên tham gia, trong đó gồm một bên mua và một bên bán, về một giao dịch sẽ được thực hiện vào một thời điểm nào đó trong tương lai. Giao dịch được thoả thuận trong hợp đồng thường được lien quan đến việc mua/bán một tài sản – chính là tài sản cơ sở của chứng khoán phái sinh, ví dụ: một bên đồng ý chuyển nhượng cho bên kia một số lượng cổ phiếu ABC nhất định với giá cố định, hay một bên sẽ giao cho bên còn lại một số lượng đồng đô la Mỹ xác định theo tỷ giá USD/VND nhất định. Trong thời gian tồn tại của hợp đồng, giá trị của chứng khoán phái sinh không cố định mà thay đổi theo sự biến động giá tài sản cơ sở/nhân tố cơ sở của nó.

    Rõ ràng, mỗi công cụ, mỗi sản phẩm, mỗi phân mảng của thị trường tài chính đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vấn đề quan trọng đối với những người tham gia thị trường chứng khoán phái sinh là phải hiểu rõ bản chất, những lợi ích và rủi ro tiềm ẩn của loại chứng khoán này; trong khi các nhà quản lý phải đảm bảo thị trường được vận hành một cách đúng đắn dưới sự giám sát phù hợp.

    Thực tế cho thấy, các sản phẩm chứng khoán phái sinh trên thị trường này cỏ thể giúp các tác nhân trong nền kinh tế nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng. Chúng cũng thúc đẩy sự phát triển và các phát kiến trong lĩnh vực tài chính, tang cường khả năng hồi phục trước các cú sốc của thị trường.

    Tuy nhiên, không thể phủ nhận trong hai thập kỷ qua, các chứng khoán phái sinh cũng gắn liền với những sự kiện tiêu cực gây chấn động thị trường tài chính toà cầu như sự sụp đổ, hay là tình trạng khủng hoàng đến gần như phá sản của Barings Bank (1995), Long-Term Capital Management (1998), Enron (2001), Lehman Brothers và American International Group (2008).

    Rõ ràng, mỗi công cụ, mỗi sản phẩm, mỗi phân mảng của thị trường tài chính đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vấn đề quan trọng đối với những người tham gia thị trường chứng khoán phái sinh là phải hiểu rõ bản chất, những lợi ích và rủi ro tiềm ẩn của loại chứng khoán này; trong khi các nhà quản lý phải đảm bảo thị trường được vận hành một cách đúng đắn dưới sự giám sát phù hợp.

    Nói một cách chung nhất, chứng khoán phái sinh là công cụ mà giá trị của nó được xác định từ, và phụ thuộc vào, một tài sản/yếu tố gốc, còn gọi là tài sản cơ sở (underlying). Có rất nhiều tài sản, bao gồm cả tài sản tài chính và tài sản phi tài chính được lấy làm “gốc” cho chứng khoán phái sinh; trong đó có thể kể đến cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, công cụ nợ có thu nhập cố định, ngoại tệ, sự kiện tín dụng, hàng hoá cơ bản thậm chí là cả các chứng khoán phái sinh khác.

    Ở một cách tiếp cận khác, nhìn vào bản chất của công cụ, chứng khoán phái sinh là hợp đồng tài chính được thiết lập ngày hôm nay giữa hai bên tham gia, trong đó gồm một bên mua và một bên bán, về một giao dịch sẽ được thực hiện vào một thời điểm nào đó trong tương lai. Giao dịch được thoả thuận trong hợp đồng thường được lien quan đến việc mua/bán một tài sản – chính là tài sản cơ sở của chứng khoán phái sinh, ví dụ: một bên đồng ý chuyển nhượng cho bên kia một số lượng cổ phiếu ABC nhất định với giá cố định, hay một bên sẽ giao cho bên còn lại một số lượng đồng đô la Mỹ xác định theo tỷ giá USD/VND nhất định. Trong thời gian tồn tại của hợp đồng, giá trị của chứng khoán phái sinh không cố định mà thay đổi theo sự biến động giá tài sản cơ sở/nhân tố cơ sở của nó.
  6. doanngocthao1701

    doanngocthao1701 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/12/2013
    Đã được thích:
    2.156
    TTCK phái sinh dự kiến vận hành vào tháng 5/2017
    http://ndh.vn/ttck-phai-sinh-du-kien-van-hanh-vao-thang-5-2017-20170302014030598p4c146.news

    Bên lề buổi 'Sinh hoạt chuyên môn tập huấn về thị trường chứng khoán phái sinh' do Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) và CLB Nhà báo chứng khoán tổ chức, một lãnh đạo trong ngành chứng khoán cho biết thị trường chứng khoán phái sinh dự kiến chính thức triển khai vào tháng 5/2017.

    Hiện hai sở đang chuẩn bị các điều kiện cần thiết để có thể đưa thị trường chứng khoán phái sinh vào hoạt động từ quý II/2017; đồng thời, nghiên cứu, phát triển các sản phẩm chứng khoán phái sinh theo lộ trình từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của TTCK, đảm bảo khả năng quản lý, giám sát các rủi ro trên thị trường.

    Các hành lang pháp lý bao gồm Nghị Định 42/2015/NĐ-CP, Thông Tư 11/2016/TT-BTC đã được ban hành, các công ty chứng khoán đang tất bật chuẩn bị về hệ thống và đào tạo nhân sự.

    Lợi ích của thị trường chứng khoán phái sinh là hạn chế và quản trị rủi ro khi tham gia đầu tư tài chính; Lợi ích về đòn bẩy (nhà đầu tư chỉ cần bỏ ra một khoản ký quỹ ban đầu là có thể tham gia thị trường); Lợi ích về thanh toán linh hoạt, (CKPS được thanh toán bàng tiền hoặc chuyển giao tài sản cơ sở; bên cạnh đó, nhà đầu tư có thể áp dụng nhiều chiến lược đầu tư với sản phẩm phái sinh)...

    Chứng khoán phái sinh (derivative securities) là loại chứng khoán được hình thành dựa trên một loại tài sản cơ sở (hay còn gọi là tài sản gốc) nhất định và giá trị của nó phụ thuộc vào giá của tài sản cơ sở đó.

    Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu (HĐTL CSCP) là hợp đồng tương lai có tài sản cơ sở là chỉ số cổ phiếu. Hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ (HĐTL TPCP) là hợp đồng tương lai có tài sản cơ sở là một trái phiếu giả định có đặt điểm như một trái phiếu Chính phủ do Kho bác Nhà nước phát hành. Hai loại hợp đồng này sẽ là sản phẩm phái sinh đầu tiên của Việt Nam.

  7. doanngocthao1701

    doanngocthao1701 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/12/2013
    Đã được thích:
    2.156
    Phái sinh rất gần và… rất xa
    https://www.stockbiz.vn/News/2017/4/20/737711/phai-sinh-rat-gan-va-rat-xa.aspx
    =============================

    Thông thường, khi sản phẩm mới xuất hiện sẽ thúc đẩy các nhà môi giới, đơn vị phân phối tham gia tiêu thụ, đưa đến tay người có nhu cầu. Nhưng với riêng phái sinh, một sản phẩm đang nhận được nhiều sự kỳ vọng trên TTCK, quy luật trên đây có thể sẽ hơi khác.

    Khái niệm và… chờ


    Cuộc cạnh tranh trong sản phẩm phái sinh nếu có sẽ theo hướng ôn hòa và tích lũy nguồn lực hơn là chạy đua gay gắt như kiểu giành khách hàng, mở mạng lưới như hồi giai đoạn 2011-2013, hoặc triển khai ồ ạt các sản phẩm margin như vài năm gần đây. Câu hỏi ở đây là các CTCK sẽ chuẩn bị những gì và cục diện cạnh tranh sẽ thay đổi thế nào với sự xuất hiện của phái sinh.

    Trưởng phòng môi giới của một CTCK có vốn ngoại cho biết, thời gian gần đây đơn vị anh liên tục tổ chức những buổi tập huấn nội bộ về phái sinh nhằm trang bị kiến thức để có thể nhanh chóng nắm bắt khi sản phẩm này xuất hiện. “Môi giới có hiểu mới có thể sử dụng sản phẩm, rút kinh nghiệm và tự tin tư vấn cho khách hàng” - vị trưởng phòng này cho biết.



    Trong khoảng 2 năm gần đây, những buổi hội thảo liên quan đến phái sinh với nhiều quy mô khác nhau đã được tổ chức bởi cơ quan quản lý và các thành viên tham gia TTCK. Nhưng có một thực tế là đến lúc này, số đông vẫn chưa cảm nhận một cách cụ thể mình sắp được sử dụng sản phẩm phái sinh gì, công dụng thế nào.

    Điều này khác hẳn với hồi 2008, các CTCK kết nối với HOSE qua đại diện sàn đã chuyển sang kết nối trực tuyến và NĐT thấy được tốc độ đặt lệnh nhanh hơn hẳn. Đồng thời, hệ thống giao dịch trực tuyến tại các CTCK cũng được đầu tư phát triển lên một tầm vóc mới.

    Hay như khi rút ngắn chu kỳ thanh toán từ T+4 xuống T+3 vào năm 2012, NĐT có thể cảm nhận rõ hiệu quả mà giải pháp này mang lại. Như vậy phái sinh chỉ mới đến trong suy nghĩ của NĐT chứng khoán ở mức độ “khái niệm”.

    Thời gian qua, một số CTCK vốn có hệ thống giao dịch trực tuyến ổn định bỗng dưng bị lỗi trong một số ngày mà theo lý giải từ phía nhân viên do đang cải tạo, nâng cấp hệ thống phần mềm lõi (core) nhằm chuẩn bị cho thị trường phái sinh. Các CTCK cũng kỳ vọng phái sinh sẽ tạo ra một dòng sản phẩm mới cho TTCK và có thể đẩy GTGD tiếp tục tăng thêm, nên việc “vũ trang” cũng là hợp lý.

    Còn nhớ vào giai đoạn 2006-2010, thị trường vẫn tồn tại những quan điểm kiểu như muốn tìm hiểu CP A nào đó hãy đến CTCK A1 có liên quan mở tài khoản, vì nơi đây tập trung rất nhiều tin tức. Hay CTCK này chuyên môi giới CP được mệnh danh là “ông vua OTC”, còn CTCK kia lại chuyên làm sổ cổ đông cho CP “nữ hoàng OTC”.

    Theo như kỳ vọng của một số môi giới kỳ cựu, phái sinh có thể chính thức xuất hiện trong vài tháng nữa nhưng ngày giờ cũng như một lộ trình cụ thể, rõ ràng thì chưa ai nắm được. Và cũng thật kỳ lạ khi hiện nay chưa có một CTCK nào tự nhận hoặc được nhìn nhận có thể là “đầu mối” cho các sản phẩm phái sinh. Có lẽ, tất cả đang trong trạng thái chờ và chưa rõ ràng nên có muốn phát huy lợi thế gì cũng không thể hiện được.

    Kỳ vọng tiếp tục kỳ vọng

    Như vậy, khi phái sinh được triển khai chính thức, sự bỡ ngỡ nếu có cũng sẽ chỉ trong một thời gian ngắn rồi tất cả sẽ quen với sản phẩm này, nhưng từ chỗ quen cho đến việc có thể sử dụng thuần thục và tạo ra lợi nhuận đôi khi lại có một khoảng cách khá xa. Kinh nghiệm cho thấy tại một số thị trường lân cận, phải mất trong khoảng 2-3 năm để thị trường quen với phái sinh, nên sẽ khó có chuyện GTGD có thể gia tăng ngay từ những ngày đầu.

    Cũng có những thị trường sau khi NĐT giao dịch tích cực lại tạo ra bong bóng rồi dẫn đến thua lỗ, NĐT lại chán nản và tập trung chủ yếu ở thị trường truyền thống. Vì vậy, kỳ vọng dành cho phái sinh là rất lớn, nhưng cũng phải thực tế rằng nếu năm nay chính thức triển khai sự bùng nổ nhiều khả năng sẽ rơi vào 2-3 năm nữa.

    Theo quy định CTCK sẽ phải có vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu từ 800 tỷ đồng trở lên mới có thể triển khai nghiệp vụ môi giới, tự doanh hay tư vấn. Hiện cũng có khoảng 20 CTCK có vốn từ 600-800 tỷ đồng trở lên và thật trùng hợp khi 20 cũng là con số CTCK có hoạt động tương đối tích cực tính đến thời điểm này. Áp lực tăng vốn để dành cho phái sinh của các CTCK không phải quá lớn trong giai đoạn sản phẩm được đem ra làm quen với thị trường. Dù vậy, CTCK trong 2 năm nữa vẫn sẽ phải tăng vốn với mục tiêu tăng cường năng lực cho vay margin.

    Về mặt con người, rõ ràng là các CTCK lớn có lợi hơn với đội ngũ nhân viên dồi dào, có sự kết hợp được của nhiều phòng ban để tận dụng chất xám lẫn nhau và sẽ có sự vượt trội xuất hiện trong lĩnh vực tư vấn phái sinh. Nhưng cũng cần lưu ý nếu CTCK lơ là khả năng bị các CTCK nhỏ hơn qua mặt trong mảng phái sinh cũng không gì bất ngờ, vì đây là một sản phẩm mới, những lợi thế về mặt truyền thống sẽ không có chỗ, xuất phát điểm là như nhau.

    Để có lợi nhuận, NĐT cũng có thể chấp nhận đến mở tài khoản tại một CTCK tầm trung hoặc nhỏ nếu nhóm này tỏ ra chất lượng vượt trội. Nói tóm lại, cuộc cạnh tranh phái sinh sẽ là một cuộc cạnh tranh mềm, đòi hỏi sự khéo léo khôn ngoan và tinh tế của các CTCK.
  8. doanngocthao1701

    doanngocthao1701 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/12/2013
    Đã được thích:
    2.156
    Mục đích sử dụng chứng khoán phái sinh

    · Các cá nhân/tổ chức có nhu cầu giao dịch thực sự tài sản cơ sở và sử dụng CKPS để phòng hộ rủi ro liên quan đến biến động giá của tài sản.

    · Các cá nhân/tổ chức tham gia mua và bán đồng thời một/nhiều loại CKPS. Mục đích của nhà đầu tư hạn chế chênh lệch giá là tận dụng sự chênh lệch giá giữa các CKPS để thu về lợi nhuận phi rủi ro.

    · Các cá nhân/tổ chức không có ý định giao dịch tài sản cơ sở mà muốn lợi dụng sự biến động về giá của tài sản cơ sở để thu về lợi nhuận ngắn hạn.

    Phòng hộ rủi


    Đầu tư hạn chế chênh lệch


    Đầu cơ

    Các các nhân/tổ chức có nhu cầu giao dịch thực sự tài sản cơ sở và sử dụng CKPS đề phòng rủi ro liên quan đến biến động giá của tài sản.


    Các nhà đầu tư/tổ chức tham gia mua và bán đồng thời một/nhiều loại CKPS. Mục đích của nhà đầu tư hạn chế chênh lệch giá là tận dụng sự chênh lệch giá giữa các CKPS để thu về lợi nhuận phi rủi ro.


    Các cá nhân/tổ chức khồn có ý định giao dịch tài sản cơ sở mà muốn có lợi dụng sự biến động về giá của tài sản cơ sở để thu lợi ngắn hạn.
  9. doanngocthao1701

    doanngocthao1701 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/12/2013
    Đã được thích:
    2.156
    Tầm quan trọng của chứng khoán phái sinh:

    · Giúp giá của tài sản cơ sở được xác định hợp lý hơn: cơ chế tác động giá giữa thị trường phái sinh và thị trường cơ sở giúp giá tài sản cơ sở trên thị trường phản ánh được nhu cầu giao dịch của nhà đầu tư trong tương lai.

    · Quản lý rủi ro: Nhà đầ tư có thể sử dụng CKPS là công cụ phòng hộ rủi ro phát sinh từ biến động giá của tài sản cơ sở.

    Sự khác biệt giữa chứng khoán cơ sở và chứng khoán phái sinh:

    Sự khác biệt giữa chứng khoán cơ sở và chứng khoán phái sinh được thể hiện qua: Thị trường giao dịch, số lượng phát hành/niêm yết, bán khống chứng khoán, số tiền cần để giao dịch, thời điểm thanh toán/ chuyển giao chứng khoán:

    Sự khác biệt giữa CK cơ sở và CK phái sinh




    Chứng khoán cơ sở


    Chứng khoán phái sinh

    Thị trường giao dịch


    Thị trường giao ngay (Spot market)


    Thị trường phái sinh

    Số lượng phát hành/niêm yết


    Có giới hạn (phụ thuộc vào tổ chức phát hành)


    Không giới hạn

    Bán khống chứng khoán


    Bị cấm hoặc hạn chế tại một số thị trường


    Tham gia vị thế bán mà không cần có tài sản cơ sở

    Số tiền cần để giao dịch


    Bằng tổng giá trị CK muốn mua


    Một phần giá trị CKPS

    Thời điểm thanh toán/chuyển giao chứng khoán


    Ngay sau khi giao dịch


    Một thời điểm nhất định trong tương lai
  10. doanngocthao1701

    doanngocthao1701 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/12/2013
    Đã được thích:
    2.156
    Lịch sử ra đời của Chứng khoán phái sinh và hợp đồng tương lai

    Thị trường chứng khoán phái sinh có lịch sử phát triển lâu đời và rất phong phú qua nhiều thế kỷ. Hàng trăm năm trước đã có bằng chứng cho thấy sự tồn tại của những thoả thuận liên quan đến giao dịch thương mại cũng như những thoả thuận về quyền tham gia giao dịch thương mại. Ngày 24/9/1730, sàn giao dịch Hợp đồng tương lai đầu tiên trên thế giới được thiết lập tại thành phố Osaka, mang tên Sàn giao dịch Gạo Dojima. Dojima là tên một quận ở Osaka. Khi đó chính quyền Edo trả lương cho các samurai bằng gạo. Năm 1730 giá gạo xuống thấp, nên số tiền quy đổi được từ gạo cũng giảm đi. Để giải quyết tình trạng này, người ta nghĩ ra cách mua bán gạo không thanh toán ngay mà thanh toán vào một thời điểm sau này với mức giá chốt ở thời điểm hiện tại, đề phòng tình trạng giá gạo còn tiếp tục giảm.

    Tuy nhiên, thị trường Hợp đồng tương lai chỉ thực sự đi vào lịch sử từ năm 1848 với sự ra đời của Sở giao dịch Chứng khoán Chicago (Chicago Board of Trade – CBOT), thị trường giao dịch Hợp đồng tương lai tập trung đầu tiên trên thế giới. Ban đầu, người ta chỉ ký kết các hợp đồng kỳ hạn. Đến năm 1864, các hợp đồng tương lai mới hình thành.

    Các sản phẩm chứng khoán phái sinh hầu hết đều khởi nguồn từ những sàn giao dịch tại Mỹ. Hợp đồng tương lai trên chỉ số cổ phiếu đầu tiên ra đời vào ngày 24/-2/1982, khi Sở giao dịch Kansas (Kansas City Board of Trade) tại Mỹ đưa ra hợp đồng tương lai trên chỉ số Value Line. Ngày 21/4/1982 Sở giao dịch Chicago (Chicago Mercantile Exchange) đưa ra hợp đồng tương lai trên chỉ số S&P 500, đến năm 1986 sản phẩm phái sinh này đã trở thành HĐTL có khối lượng và giá trị giao dịch lớn nhất thế giới, lên tới 19.5 triệu hợp đồng trong năm 1986. Vào tháng 5/1982, Sở giao dịch phái sinh New York (New York Future Exchange – NYFE) đã tiến hành tổ chức hoạt động giao dịch Hợp đồng tương lai trên chỉ số tổng hợp NYSE (NYSE composite).

    Tháng 7/1974, Sở giao dịch Chứng khoán Chicago bắt đầu cho giao dịch các Hợp đồng tương lai khác nhau trên các chỉ số thị trường chính (Major Market Index – MMI).

    Trong những năm sau đó, sản phẩm phái sinh lần lượt xuất hiện ở các thị trường lớn khác trên thế giới như Úc, Canada, Nhật, Singapore, Anh và Hông Kong…

    Về khái niệm sản phẩm chứng khoán phái sinh, John C. Hull trong cuốn sách giáo khoa “Options, Futures, and other Derivatives” cho rằng đó là một công cụ tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị biến động của tài sản cơ sở.

    Tại Châu Á, luật giao dịch phái sinh Hàn Quốc, Luật giao dịch phái sinh Thái Lan hay Luật các công cụ tài chính và sở giao dịch Nhật Bản đều định nghĩa giao dịch phái sinh là giao dịch mà các bên đồng ý giao nhận các loại sản phẩm hàng hoá hoặc tài chính nhất định, với giá cả cụ thể, tại thời điểm xác định trong tương lai, trong đó các bên sẽ thanh toán cho nhau khoản chênh lệch giữa giá thoả thuận trước và giá tại thời điểm mua hoặc bán loại sản phẩm cam kết chuyển giao hợp đồng.

Chia sẻ trang này