Chứng quyền có bảo đảm (Covered Warrant - CW)

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi vua132, 25/09/2017.

433 người đang online, trong đó có 173 thành viên. 00:56 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 264 lượt đọc và 0 bài trả lời
  1. vua132

    vua132 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    20/01/2016
    Đã được thích:
    12
    Đại diện Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, Sở Giao dịch chứng khoán TP. HCM đã cơ bản hoàn thiện hệ thống giao dịch chứng quyền, dự kiến sẽ niêm yết và giao dịch sản phẩm chứng quyền có bảo đảm - Covered Warrant (CW) trong tháng 11/2017.
    Chiếu theo quy định mức vốn điều lệ trên 1.000 tỷ đồng mới được tham gia phát hành CW thì có hơn 10 CTCK đáp ứng tiêu điều kiện như SSI, HSC, VND, ACBS, VPBS, MBS, VCSC…


    Tổng quan về chứng quyền có bảo đảm (Covered Warrant - CW)
    CW là công cụ tài chính có tính chất như một quyền chọn được phát hành bởi một ngân hàng đầu tư hay một công ty chứng khoán (CtyCK), cho phép người nắm giữ có quyền được mua hoặc bán tài sản cơ sở với một khối lượng xác định từ tổ chức phát hành tại một mức giá vào hoặc trước thời điểm được xác định.​
    Đặc điểm của CW so với quyền chọn:
    • Thứ nhất, tổ chức phát hành CW là một tổ chức hoàn toàn độc lập với tổ chức phát hành tài sản cơ sở. Tổ chức phát hành CW thường là CtyCK hoặc là các ngân hàng đầu tư. Do đó, các điều khoản của CW hoàn toàn do tổ chức phát hành quyết định. Trong khi đó, quyền chọn được SGDCK thiết kế và chuẩn hóa.
    • Thứ hai, CW được giao dịch trên sàn giao dịch cổ phiếu với cơ chế giao dịch tương tự như giao dịch cổ phiếu về thời gian, phương thức giao dịch, thanh toán bù trừ. Nhà đầu tư không cần phải mở tài khoản giao dịch khác để mua bán CW và không phải ký quỹ trước khi giao dịch. Trong khi đó, quyền chọn được giao dịch trên SGDCK phái sinh và yêu cầu bên bán quyền chọn phải ký quỹ, trung tâm bù trừ sẽ hạch toán khoản ký quỹ này theo giá trị hàng ngày để xác định giá trị lãi/lỗ hàng ngày từ vị thế của hợp đồng. Nhà đầu tư muốn giao dịch quyền chọn phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán phái sinh tại thành viên giao dịch của SGDCK phái sinh.
    • Thứ ba, CW được thiết kế theo cơ chế của hợp đồng quyền chọn để phù hợp với những nhà đầu tư nhỏ lẻ. Tuy nhiên, về cơ cấu sản phẩm là khác nhau: chứng quyền tồn tại dưới dạng một chứng chỉ có thể giao dịch giữa các nhà đầu tư trong khi đó hợp đồng quyền chọn không tồn tại dưới dạng chứng chỉ, mà đơn giản là hợp đồng cam kết giữa hai bên mua và bán. Quyền và nghĩa vụ đối với hợp đồng quyền chọn được đảm bảo bởi một đối tác bù trừ trung tâm đóng vai trò là trung tâm bù trừ, do đó giảm thiểu rủi ro đối tác. Còn đối với chứng quyền, rủi ro này là rủi ro của tổ chức phát hành khi đến thời gian đáo hạn, tổ chức phát hành không thể thực hiện nghĩa vụ của họ gắn với chứng quyền.
    • Thứ tư, sau khi được phát hành, số lượng CW lưu hành được xác định và do đó là cố định. Vì thế nhà đầu tư không thể bán CW khi chưa thực sự nắm giữ. Ngoài ra, để cố định khoản lợi nhuận hoặc để giảm rủi ro, tổ chức phát hành CW (đôi khi cũng thực hiện vai trò là nhà tạo lập thị trường) có thể mua lại CW để làm giảm số lượng CW đang lưu hành. Ngược lại, số lượng quyền chọn giao dịch trên SGDCK lại không được xác định trước, mà phụ thuộc vào cung cầu, do đó không có giới hạn. Nhà đầu tư có thể mua/bán quyền chọn mà không cần trước đó phải nắm giữ trong tay.
    • Thứ năm, giá thực hiện và ngày hết hạn của CW thường cố định trên mỗi chứng quyền phát hành trong khi quyền chọn có chuỗi các ngày đáo hạn khác nhau và giá thực hiện khác nhau.
    Như vậy có thể thấy, CW có tính chất là một công cụ phái sinh nhưng không đòi hỏi những kỹ thuật giao dịch và thanh toán quá phức tạp. Đây được coi là công cụ quan trọng giúp nhà đầu tư gia tăng hiệu quả đầu tư cũng như phòng vệ rủi ro trên TTCK.
    Lợi ích và hạn chế của CW
    Lợi ích

    1. Tác động đòn bẩy: Với chi phí ban đầu mua CW chỉ bằng một phần nhỏ so với đầu tư vào tài sản cơ sở, nhà đầu tư đã có thể sở hữu CW mà vẫn có thể thu được lợi nhuận như kỳ vọng nếu đầu tư vào tài sản cơ sở. Hơn thế, CW còn có tác động đòn bẩy, nghĩa là chỉ một thay đổi nhỏ về giá của tài sản cơ sở cũng có thể dẫn đến sự thay đổi lớn hơn về giá của CW và vì thế mức thu nhập đạt được sẽ lớn hơn. Ngược lại, một sự sụt giảm về giá của tài sản cơ sở có thể dẫn đến sự sụt giảm lớn hơn về giá của CW, tuy nhiên mức thiệt hại tối đa của CW chỉ giới hạn ở mức phí mua CW ban đầu. Tác động đòn bẩy chính là điểm hấp dẫn nhất của CW.
    2. Lợi nhuận không hạn chế, khoản lỗ tối đa cố định: Đầu tư vào CW có thể mang lại lợi nhuận không hạn chế trong khi khoản lỗ tối đa được cố định, đó chính là khoản chi phí để mua CW. Ví dụ, trong trường hợp thị trường diễn biến không như dự đoán, nhà đầu tư có thể bán lại CW để bù đắp chi phí ban đầu hoặc nắm giữ đến khi đáo hạn và chịu khoản lỗ tối đa là chi phí mua ban đầu.
    3. Giao dịch và thanh toán dễ dàng, thanh khoản cao: CW tuy có đặc điểm như một sản phẩm phái sinh nhưng được giao dịch như một loại cổ phiếu trên sàn giao dịch cổ phiếu. SGDCK các nước có quy định bắt buộc về thành viên tạo lập thị trường, có nghĩa vụ yết giá hai chiều liên tục, tạo thanh khoản trên thị trường, do đó nhà đầu tư có thể mua, bán CW được dễ dàng. Nhà đầu tư không cần phải mở tài khoản giao dịch khác để mua/bán CW. Ngoài ra, các quy định về thời gian, phương thức giao dịch, thanh toán… đều tương tự như cổ phiếu nên nhà đầu tư có thể tìm hiểu sản phẩm và tham gia giao dịch một cách dễ dàng và nhanh chóng.

    Hạn chế
    1. Rủi ro đòn bẩy: Tác động đòn bẩy có tính hai mặt. Ngoài việc khuếch đại lợi nhuận, một CW cũng có thể khuếch đại mức độ tổn thất khi giá của tài sản cơ sở biến động bất lợi cho vị thế của CW. Nguyên nhân là do giá trị của CW sẽ biến động nhanh hơn nhiều so với biến động giá trị của tài sản cơ sở. Sản phẩm này được các nhà đầu tư ngắn hạn sử dụng để kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư đòn bẩy ngắn hạn nhưng cũng là sản phẩm có mức độ rủi ro cao khi so sánh với việc đầu tư trực tiếp vào tài sản cơ sở.
    2. Vòng đời giới hạn – Giá trị thời gian: Việc giao dịch chứng quyền có rủi ro về thời gian đáo hạn và rủi ro tín dụng của tổ chức phát hành. Thông thường thời gian tồn tại của CW là từ 6 tháng đến 24 tháng. Sau thời hạn này, CW sẽ không được giao dịch hay thực hiện quyền nữa. Vì vậy, khác với đầu tư cổ phiếu trực tiếp, nhà đầu tư không thể nắm giữ CW dài hơn thời hạn quy định nhằm kỳ vọng giá của tài sản cơ sở phục hồi. Mặt khác, thời hạn của CW được xem là giá trị thời gian của CW đó. Càng đến gần thời gian hết hạn, giá trị CW càng giảm dần và giá trị CW sẽ bằng không (0) khi CW đến hạn.
    3. Rủi ro từ nhà phát hành: Rủi ro này phát sinh khi nhà phát hành bị phá sản hoặc gặp khó khăn về tài chính dẫn đến không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nhà đầu tư khi CW đến hạn. Do đó, nhà đầu tư cũng cần đánh giá tình hình tài chính và hoạt động, mức đánh giá tín nhiệm cũng như quy trình quản trị rủi ro của tổ chức phát hành.
    4. Không có quyền cổ đông: CW là một quyền về tài sản tài chính hình thành trong tương lai nên người nắm giữ CW không có quyền cổ đông như người nắm giữ tài sản cơ sở.
    Vận hành
    • Sau khi được SGDCK chấp thuận niêm yết, CW được giao dịch tương tự như cổ phiếu, trên cùng hệ thống giao dịch. Lúc này trên thị trường cần có hoạt động của nhà tạo lập thị trường nhằm tạo thanh khoản cho thị trường CW. Chi tiết giao dịch chứng quyền sẽ được gửi đến Trung tâm thanh toán bù trừ để thực hiện thanh toán. Chu kỳ thanh toán chứng quyền niêm yết giống với chu kỳ thanh toán thông thường áp dụng với cổ phiếu, và báo cáo định kỳ về tỷ lệ sở hữu chứng quyền cũng được gửi đến nhà đầu tư tương tự như báo cáo về tỷ lệ sở hữu chứng khoán.
    • Chứng quyền được thanh toán khi người sở hữu chứng quyền thực hiện quyền của mình. Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc bằng vật chất hoặc kết hợp cả hai phương thức theo tỷ lệ chuyển đổi và giá thực hiện đã xác định thông qua hệ thống thanh toán trên thị trường. Thanh toán bằng tiền mặt được thực hiện thông qua việc thanh toán khoản chênh lệch giữa giá thực hiện và giá thanh toán cho người sở hữu chứng quyền. Với những CW dựa trên chỉ số thì phương thức thanh toán là bằng tiền mặt.
    (nguồn Tạp chí Chứng khoán - Số 7 - 08/2017)​

Chia sẻ trang này