Chuyên gia “khám sức khỏe” thị trường tiền tệ Việt Nam

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi ttvidai, 23/09/2010.

653 người đang online, trong đó có 261 thành viên. 13:07 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 431 lượt đọc và 7 bài trả lời
  1. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/09/2007
    Đã được thích:
    239
    http://vneconomy.vn/20100922050448993P0C6/chuyen-gia-kham-suc-khoe-thi-truong-tien-te-viet-nam.htm
    Chuyên gia “khám sức khỏe” thị trường tiền tệ Việt Nam

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (3)

    ANH QUÂN
    23/09/2010 12:21 (GMT+7)

    [​IMG] Bình luận về sự phối hợp chính sách tiền tệ trong thời gian vừa qua, nhiều chuyên gia tại hội thảo cho rằng việc này chưa được chặt chẽ - Ảnh: T.Đạm/Tuổi Trẻ.
    Lãi suất cao, tỷ giá chưa theo thị trường và chính sách tiền tệ thiếu nhất quán được xem là những vấn đề của thị trường tiền tệ năm nay
    Tín dụng tăng chậm, lãi suất cao 12-15%/năm và chưa hạ được, cạnh tranh lãi suất tiếp tục; tăng dự trữ bắt buộc từ 8% lên 9%, tăng vốn điều lệ ngân hàng; điều chỉnh tỷ giá 3 lần trong vòng 10 tháng khiến VND mất giá hơn 10%...

    Đó là những nét nổi bật trên thị trường tiền tệ Việt Nam năm 2010, được Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên điểm lại trong bài phát biểu của ông tại hội thảo kinh tế Việt Nam năm 2010 và triển vọng 2011, diễn ra tại Tp.HCM từ ngày 21-22/9.

    Lãi suất quá cao so với thế giới

    Theo TS. Võ Đại Lược, chủ nhiệm chương trình trọng điểm cấp quốc gia về kinh tế Việt Nam đến năm 2020, tình hình lạm phát tại Việt Nam đang khiến mặt bằng lãi suất USD tại thị trường trong nước cao hơn thị trường quốc tế.

    “Sẽ xuất hiện dòng vốn vay ủy thác đầu tư (carry trade) chảy vào Việt Nam, cái mà dòng vốn này tìm kiếm là lợi nhuận, là sự chênh lệch giữa lãi suất trên thị trường Việt Nam và quốc tế”, ông nói.

    Trích số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, ông Lược cho biết, đã có khoảng 2 tỷ USD carry trade vào Việt Nam và cho đến nay vẫn chưa rút ra, do lãi suất ở Việt Nam vẫn còn cao.

    “Nếu dòng vốn này ở lại Việt Nam lâu dài thì sẽ chưa có rủi ro gì. Tuy nhiên, nếu những điều kiện kinh tế thay đổi làm cho dòng vốn này không tìm kiếm được lợi nhuận nữa và do vậy sẽ rút ra, gây nên những tác động tiêu cực”, ông Lược khẳng định.

    TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cũng lưu ý thêm, hệ thống tài chính có biểu hiện thiếu lành mạnh, nợ xấu của một số định chế còn cao, chu chuyển tiền mang tính đầu cơ lớn và chưa đi nhiều vào sản xuất hàng hóa, dịch vụ.

    Đồng ý với quan điểm này, ông Lược nêu thêm dẫn chứng, nhiều tập đoàn kinh tế đã huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu doanh nghiệp với lãi suất khá cao, tới 14-16%/năm.

    “Hệ quả có thể dự báo được là các doanh nghiệp phải vay với lãi suất cao sẽ khó kinh doanh hiệu quả, và đến một lúc nào đó nợ xấu sẽ gia tăng”, ông Lược không giấu được lo lắng.

    Định giá VND cao khó thu hút đầu tư

    Tại hội thảo, TS. Võ Đại Lược cho biết cán cân thanh toán đã thâm hụt 8,8 tỷ USD trong năm 2009 và trong 6 tháng đầu năm 2010 là 2,84 tỷ USD (dự kiến năm nay thâm hụt 4 tỷ USD), dẫn tới dự trữ ngoại tệ giảm. Tính đến tháng 6/2010, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam chỉ còn ở mức 9 tuần nhập khẩu, khoảng 14 tỷ USD.

    “Một vòng xoáy đã xuất hiện: VND cao giá dẫn tới thâm hụt thương mại, dẫn tới giảm sút dự trữ ngoại tệ, buộc phải điều chỉnh tỷ giá. Nếu tỷ giá không được điều chỉnh thích hợp thì vòng xoáy lại tiếp tục theo hướng tiêu cực hơn. Do không có một chính sách chủ động về tỷ giá nên sẽ phải bị động đối phó, rủi ro sẽ tích tụ”, ông Lược lưu ý.

    Riêng trong năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã hạ giá VND hai lần, tương ứng mỗi lần là 3,5% và 2,1%. Theo ông Lược, “mọi người đều muốn có một tỷ giá ổn định để thuận tiện cho các tính toán kinh doanh, nhưng ổn định tỷ giá trong khi lạm phát ở Việt Nam cao hơn Mỹ thì điều chắc chắn sẽ xảy ra là giá VND sẽ tăng và hệ quả là hạn chế xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩu, gia tăng nhập siêu”.

    Một điểm được nhấn mạnh trong bài viết của vị chuyên gia này là tác động của việc định giá cao VND đối với thu hút đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Ông cho rằng, với đồng VND được định giá như hiện nay, các nhà đầu tư kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp chế biến sẽ phải cân nhắc nhiều hơn trong việc tính toán lựa chọn địa điểm đầu tư giữa Việt Nam và các nước khác.

    “Việt Nam sẽ chịu nhiều thiệt thòi trong lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu và sẽ tiếp tục duy trì địa vị là nước xuất khẩu tài nguyên, nếu không điều chỉnh tỷ giá”, ông Lược lưu ý.

    Tuy nhiên, ông cũng cho rằng hạ giá VND là đặc biệt khó khăn, do sẽ làm tăng nghĩa vụ trả nợ gia tăng với các khoản vay bằng USD của nhiều ngân hàng thương mại, các tập đoàn, tổng công ty…, vốn có tiếng nói rất “trọng lượng”.

    Phối hợp chính sách chưa chặt chẽ

    Bình luận về sự phối hợp chính sách tiền tệ trong thời gian vừa qua, nhiều chuyên gia tại hội thảo cho rằng việc này chưa được chặt chẽ. Thậm chí, TS. Trần Đình Thiên còn dùng các cụm từ "không nhất quán", "xung đột", "kích thích tâm lý bất ổn"... để nói về các chính sách tiền tệ được thực thi trong thời gian qua.

    Bằng chứng là nỗ lực hạ lãi suất không đi cùng hạ lạm phát kỳ vọng, đặc biệt là sau tín hiệu điều chỉnh mục tiêu lạm phát lên 8% và phá giá VND. Bên cạnh đó, vẫn còn những chính sách gây khan hiếm vốn hơn là tăng thanh khoản để hỗ trợ giảm lãi suất.

    Ở một góc nhìn khác, ông Thiên cho biết, nợ công đã lên tới 52,6% GDP, trong đó nợ nước ngoài chiếm 38,8% GDP, thâm hụt ngân sách cao kéo dài, nhưng chi tiêu ngân sách vẫn “bình thường” khi nền kinh tế gặp khó khăn về vốn, buộc chính sách tiền tệ “gồng mình” đối phó lạm phát và cung ứng vốn cho nền kinh tế.

    Chia sẻ quan điểm kể trên, Phó viện trưởng CIEM Võ Trí Thành nói, vấn đề hiện nay quan trọng là lựa chọn chính sách phù hợp. “Cả chính sách nới lỏng và “bóp nghẹt” thiếu thận trọng, thái quá đều không thích hợp”, ông nói.

    Nới lỏng thiếu thận trọng dẫn tới rủi ro bất ổn vĩ mô tăng, khuyến khích đầu cơ tài chính, không tạo điều kiện cho tăng trưởng bền vững và hiệu quả. Nhưng ngược lại, chính sách “bóp nghẹt” cũng làm “chết” quá trình phục hồi và sự năng động thị trường, trong khi rủi ro tài chính vẫn gia tăng, Phó viện trưởng CIEM lập luận.

    “Việc phối hợp chính sách không nên tạo ra sự lẫn lộn trong thông điệp, ảnh hưởng đến lòng tin thị trường vào khả năng ổn định vĩ mô”, ông Thành nói.
  2. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/09/2007
    Đã được thích:
    239
    http://vinacorp.vn/news/lam-phat-se-gay-ap-luc-voi-thi-truong/ct-413700
    Lạm phát sẽ gây áp lực với thị trường


    Thứ Năm, 23/09/2010, 07:42


    [​IMG] Nguồn cung cổ phiếu sẽ tăng lên do lượng cổ phiếu mới về và phát hành mới - Ảnh minh họa: Hoài Nam
    Quyết định tăng tỷ giá USD/VND thêm 2,1% của Ngân hàng Nhà nước đã gây áp lực lên chỉ số giá tiêu dùng. Và điều này sẽ gây áp lực lên TTCK vốn đang giằng co trong tâm lý thận trọng của nhà đầu tư.

    Mặc dù ngày 21/9, trên thị trường đã xuất hiện những tin đồn rằng Thông tư 13/2010/TT-NHNN có thể được chỉ đạo hoãn thời hạn áp dụng, nhưng thị trường vẫn giảm về cuối phiên, dù vào giữa phiên giao dịch đã có dấu hiệu phục hồi. Dường như trong lúc nhiều nhà đầu tư vẫn không muốn bán rẻ cổ phiếu thì cũng đồng thời có tâm lý chỉ chờ giá cổ phiếu tăng thêm một chút để chốt lời cho ra tấm ra món.

    Diễn biến của thị trường ngày 21/9 cho thấy, nếu thị trường tăng thêm một chút thì bên bán sẽ hành động quyết liệt hơn, trong khi đó, nếu thị trường chỉ giảm một chút thì chưa chắc bên mua sẽ hành động, mà chỉ có nguồn cung sẽ giảm đi do không có lý do gì để nhà đầu tư mất bình tĩnh bán rẻ cổ phiếu.

    Trạng thái tâm lý này rất dễ đẩy thị trường về phía giảm khi có thông tin xấu hoặc những phỏng đoán về tin xấu như chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 tăng cao.

    Thông tư 13 cho đến nay dù hoãn hay sửa đổi chỉ có tác động đến thị trường về tâm lý trong vài phiên. Nhiều ngân hàng đã đi được 2/3 quãng đường để đến đích theo yêu cầu của những quy định trong thông tư này.

    Với tình hình lạm phát có xu hướng tăng do tỷ giá và tỷ giá vẫn còn áp lực tăng từ nay đến cuối năm thì TTCK còn phải chịu áp lực.

    Trong khi đó, hai yếu tố ảnh hưởng đến thị trường trong ngắn hạn là nguồn cung và dòng tiền chưa có dấu hiệu thay đổi. Nguồn cung cổ phiếu sẽ tăng lên do lượng cổ phiếu mới về và phát hành mới. Chính sách cung tiền của Ngân hàng Nhà nước chưa thay đổi và lãi suất vẫn ở mức cao.

    ĐTCK
  3. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/09/2007
    Đã được thích:
    239
    http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/513362/Nhieu-mat-hang-binh-on-gia-tang-gia.html
    Nhiều mặt hàng bình ổn giá tăng giá
    >> Bình ổn giá... chưa thật ổn?
    >> Bỏ tiền tỷ để bình ổn tâm lý?
    Sau hơn hai tháng thực hiện chương trình bình ổn giá 9 mặt hàng tại 360 điểm bán hàng trên địa bàn TP. Hà Nội, nhiều mặt hàng tại các siêu thị đã tăng giá khiến người tiêu dùng không khỏi bất ngờ.


    [​IMG]
    Hàng bình ổn trong siêu thị có giá cao hơn bên ngoài. (Lao Động).
    Tăng giá nhiều mặt hàng bình ổn
    Chương trình bình ổn giá được triển khai từ 1-7-2010. TP. Hà Nội đã dành 350 tỷ đồng bình ổn giá 9 mặt hàng gồm: gạo, thịt gia súc, gia cầm, trứng gia cầm, thực phẩm chế biến, thủy hải sản đông lạnh, dầu ăn, đường và rau, củ. 13 DN tham gia chương trình đều khẳng định sẽ giảm giá tối thiểu 10% nếu thị trường có biến động về giá cũng như sẽ công khai niêm yết giá bán và đảm bảo bán theo đúng giá các mặt hàng bình ổn.
    Sau hơn hai tháng thực hiện, đến nay, nhiều mặt hàng tại các siêu thị đã dần nhích giá lên cao hơn so với cam kết bình ổn giá. Theo khảo sát, đa số các mặt hàng bình ổn đều có giá bán cao hơn mức bình ổn.
    Tại siêu thị Fivimart (đường Trần Thái Tông, Cầu Giấy) treo biển bán hàng bình ổn giá nhưng lại không ghi giá bán cụ thể mà buộc người mua phải “xem giá niêm yết trên sản phẩm”. Bảng này chỉ nêu danh mục các mặt hàng bình ổn giá: gạo, thịt gia súc, thịt gia cầm, thủy hải sản, thực phẩm chế biến, trứng gia cầm, rau củ quả, dầu ăn, đường.
    Giá các mặt hàng bình ổn trong siêu thị không hề rẻ, thậm chí còn cao hơn bên ngoài: sữa chua Ba Vì và Vinamilk trái cây đều bán 4.200 đồng/hộp; thịt gà ta 103.000 đồng/kg; thịt nạc vai 80.000 đồng/kg; gạo bắc hương giá 14.400 đồng/kg; gạo tám xoan Hải Hậu giá 15.400 đồng/kg.... Các loại rau, củ, quả, dầu ăn cũng bán ở mức cao như: dầu ăn Neptune chai 1 lít có giá 34.800 đồng/chai và 161.600 đồng/can 5 lít....
    Không chỉ siêu thị Fivimart mà các siêu thị khác cũng tăng giá nhiều mặt hàng trong thời gian gần đây.
    Lí do tăng giá mà Hiệp hội Siêu thị Hà Nội đưa ra là vì đã nhận được đơn đề nghị tăng giá nhiều loại hàng hóa của các nhà cung cấp. Nguyên nhân là do giá xăng dầu tăng nên các mặt hàng cũng chịu ảnh hưởng. Giá tăng tập trung chủ yếu ở các mặt hàng thực phẩm, bánh kẹo...

    [​IMG]
    Đảm bảo nguồn hàng bình ổn giá đáp ứng nhu cầu NTD. (Lao Động).
    Chưa có biện pháp kiểm soát tăng giá
    Ông Nguyễn Văn Đồng, PGĐ Sở Công thương Hà Nội cho hay: “Lượng hàng dự trữ của các DN là hơn 3600 tấn gạo, 556 tấn thịt gia súc, 204 tấn thịt gia cầm, hơn 4 triệu quả trứng gia cầm, 293 tấn thủy hải sản, 468 tấn thực phẩm chế biến, 142 nghìn lít dầu ăn, 137 tấn đường và 1.461 tấn rau củ quả”.
    Cũng theo ông Đồng, Sở Công thương sẽ phối hợp với Sở Tài chính yêu cầu các đơn vị tham gia bình ổn giá tổ chức dự trữ tốt nguồn hàng về số lượng, chủng loại mẫu mã, giá cả... theo đúng quy định, đáp ứng nhu cầu NTD. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, kiểm soát các DN tham gia chương trình bình ổn kể cả về hàng hóa và phương thức kinh doanh, biển trưng diện cho điểm bán hàng bình ổn giá...

    Đối với các mặt hàng có thời hạn sử dụng dài như dầu ăn, gạo, đường, thực phẩm chế biến, các DN tiến hành ký hợp đồng thu mua hàng hóa về dự trữ tại kho hoặc gửi lại kho các nhà cung cấp. Riêng các mặt hàng thịt gia súc, gia cầm, thủy hải sản, trứng gia cầm và rau củ quả, các DN ký hợp đồng, chuyển tiền tạm ứng cho nhà cung cấp đảm bảo cung ứng kịp thời hàng hóa khi thị trường có biến động. Tuy nhiên, Sở Công thương Hà Nội lại chưa có những biện pháp để kiểm soát việc tăng giá của các điểm bán hàng bình ổn giá.
    Càng về cuối năm, giá cả mặt hàng sẽ càng có xu hướng tăng cao. Thêm vào đó, Hà Nội tổ chức đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội nên lượng khách đến thủ đô du lịch, mua sắm dự kiến lượng hàng hóa bán ra sẽ tăng gấp nhiều lần. Do vậy, việc kiểm soát các điểm bình ổn giá không tốt sẽ rất dễ đẩy giá hàng hóa, thực phẩm tăng cao.
    Theo Đông Bích
    Lao Động
  4. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/09/2007
    Đã được thích:
    239
    http://tinnhanhchungkhoan.vn/RC/N/CFGAHD/ngan-hang-de-dat-tang-tin-dung.html
    Ngân hàng dè dặt tăng tín dụng
    23/09/2010 06:59:13
    [​IMG]
    Mặt bằng lãi suất cao đã phần nào hạn chế doanh nghiệp tìm đến ngân hàng vay vốn - Ảnh: Hoài Nam
    (ĐTCK-online) Chỉ còn một tuần nữa là Thông tư 13/2010/TT-NHNN có hiệu lực. Mặc dù mọi kỳ vọng về việc sửa đổi thông tư này chưa hoàn toàn bị “dập tắt”, nhưng các ngân hàng vẫn phải chuẩn bị để nâng hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) lên 9%. Vì thế, trong lúc này các nhà băng tỏ ra thận trọng hơn với việc phát triển tín dụng.
    TS Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy Ban giám sát tài chính quốc gia, cũng cho rằng, nguồn vốn cho vay sẽ hạn chế hơn trong thời gian tới.

    Sẽ đáp ứng đủ điều kiện
    Các ngân hàng đang phải tăng tốc cơ cấu lại nguồn vốn, tăng cường huy động để đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo quy định mới của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần nhỏ tại TP. HCM cho biết, với mục tiêu tăng trưởng tín dụng bình quân đặt ra từ đầu năm nay là 30% so với năm trước, ngân hàng ông sẽ có thể hoàn thành kế hoạch nếu không có quy định nâng tỷ lệ an toàn vốn. Theo vị tổng giám đốc trên, 6 tháng đầu năm 2010, ngân hàng này đã thực hiện được gần một nửa kế hoạch và kỳ vọng tín dụng sẽ tăng trưởng tốt trong 2 quý còn lại của năm. Thế nhưng, với các quy định được đưa ra tại Thông tư 13, mức tăng dư nợ tín dụng đã chững lại.
    Hiện tại, mặt bằng lãi suất cao đã phần nào hạn chế doanh nghiệp tìm đến ngân hàng vay vốn. Nay, phía ngân hàng lại cũng dè dặt cho vay ra để đáp ứng yêu cầu mới về hệ số CAR. Điều này sẽ ảnh hướng đến tốc độ tăng dư nợ tín dụng chung của nền kinh tế trong thời gian tới.
    “Chúng tôi đang từng bước tăng cường huy động vốn, đồng thời điều tiết lại tín dụng để đáp ứng yêu cầu nâng tỷ lệ an toàn vốn mới”, vị tổng giám của ngân hàng trên nói và cho rằng, khả năng sau ngày 1/10, hoạt động tín dụng của ngân hàng nhỏ khó phát triển mạnh. Bởi cạnh tranh huy động vốn từ dân cư ngày một khó khăn. Trong khi đó, ngân hàng còn phải duy trì tỷ lệ vốn cấp tín dụng không quá 80% nguồn huy động.
    Một số ngân hàng quy mô lớn cho biết, hiện hệ số CAR tính theo quy định cũ của ngân hàng là hoàn toàn đáp ứng yêu cầu. Song kể từ 1/10, hệ số CAR tính mới sẽ chỉ vừa đủ để đáp ứng quy định, tức là bằng hoặc sát trên 9%. Chẳng hạn, ông Lý Xuân Hải, Tổng giám đốc ACB cho biết, hồi đầu năm 2010, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của Ngân hàng là 9,3%, nhưng kể từ 30/6 đến nay CAR của ACB là 9%. Còn tại Vietcombank, theo ông Nguyễn Hòa Bình – Chủ tịch HĐQT, phải sau khi tăng thêm 33% vốn điều lệ, VCB mới đáp ứng tốt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định mới. Như vậy, ngay cả các ngân hàng lớn cũng phải cơ cấu lại vốn – tín dụng để có thể đáp ứng được quy định mới về hệ số CAR.
    Phát biểu tại buổi hội thảo về “Ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì đà tăng trưởng” diễn ra ngày 21/9 tại TP. HCM, TS Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy Ban giám sát tài chính quốc gia cho rằng, hệ số an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng Việt Nam theo quy định mới lên 9% là cao hơn tiêu chuẩn của Basell III (quy định trong Basell III đưa ra ngày 12/9/2010 vẫn giữ hệ số CAR ở mức 8%). Còn vốn cấp 1 yêu cầu tăng lên 6% so với mức cũ là 4% và trong 6% đó phải có 4,5% vốn từ các cổ đông thường (giống quy định về vốn điều lệ của Việt Nam). Lộ trình Basell III bắt đầu thực hiện từ 1/1/2015 đối với yêu cầu vốn cấp 1. Các quy định mới khác cũng có lộ trình thực hiện đầy đủ kể từ ngày 1/1/2019. Trong khi, trong cách tính tỷ lệ CAR của ngân hàng Việt Nam, vốn chủ sở hữu chủ yếu là vốn cấp 1. Hiện tỷ lệ CAR của các NHTM đều trên mức 8%. Vấn đề hiện nay là cần hỗ trợ để các NHTM tăng vốn cấp 2.

    …nhưng hạn chế tín dụng
    Các ngân hàng đều khẳng định sẽ đủ khả năng đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn mới, nhưng hầu hết đều e ngại về khả năng tăng trưởng nhanh dư nợ tín dụng. Theo ông Nguyễn Hòa Bình, Vietcombank cũng sẽ thận trọng trong tăng trưởng dư nợ và quan tâm hơn đến chất lượng tín dụng.
    Với mục tiêu tăng trưởng dư nợ đặt ra cho năm nay từ 50% đến 55%, ngay trong quý I, ACB đã từng bước đẩy mạnh phát triển tín dụng. Thế nhưng, theo ông Hải, dư nợ tín dụng trong quý I không thể tăng như ý muốn, do đây là thời gian nghỉ tết Nguyên Đán. Ông Hải cho biết, sang quý II và quý III, ACB tiếp tục tăng tốc và cố gắng trong quý IV sẽ hoàn thành mục tiêu tăng trưởng dư nợ đề ra từ đầu năm.
    Tuy nhiên, vấn đề quan trọng được các ngân hàng lớn quan tâm lúc này cũng như sau khi nâng tỷ lệ an toàn vốn lên 9% chính là hiệu quả sử dụng vốn. Bởi nếu vốn cho vay không hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ CAR. Mặt khác, với một số loại hình tín dụng quy định hệ số rủi ro cao hơn trước như: cho vay cầm cố chứng khoán, kinh doanh bất động sản lên đến 250% cũng khiến ngân hàng không còn hào hứng để cho vay.
    Thông tư 13 không những quy định hệ số cho vay cầm cố chứng khoán và kinh doanh bất động sản cao mà còn không phân biệt cho vay đầu tư chứng khoán hoặc cho vay CTCK để làm đòn bẩy; không phân biệt bất động sản đã hình thành hoặc sẽ hình thành trong tương lai; không phân biệt rủi ro theo chất lượng mã chứng khoán. Vì thế, nếu chiếu theo quy định mới, hệ số CAR mà các ngân hàng cần đáp ứng sẽ cao hơn 9%.
    Trong khi đó, Basell III quy định hệ số rủi ro tối đa chỉ ở mức 150% và lưu ý có thể cao hơn đối với khoản vay có tình huống đặc biệt. Mặt khác, việc hạn chế cấp tín dụng trên tổng vốn huy động theo quy định của Thông tư 13 không quá 80 – 85%, đồng thời loại trừ tiền gửi không kỳ hạn của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, kho bạc… sẽ làm tăng trưởng dư nợ tín dụng chậm lại ở tương lai, nếu NHNN không có điều chỉnh.
    TS Nghĩa cho rằng, các yếu tố trên sẽ cản trở việc chủ động của NHTM, vì tỷ lệ vốn cho vay trên tổng huy động thực tế chỉ còn khoảng 60%, không hẳn là 80%. Dẫn đến, các ngân hàng mất động lực huy động và sử dụng vốn. Đồng thời, lãi suất không những giảm, ngược lại khả năng sẽ tăng lên hoặc dừng ở mức cao, do ngân hàng phải cạnh tranh khốc liệt hơn trong việc huy động vốn từ dân cư. Triển vọng giảm lãi suất được các chuyên gia kinh tế cho biết, còn rất xa vời và khó có thể thực hiện được chủ trương Chính phủ đưa ra, nhất là sau khi Thông tư 13 đi vào thực tế cuộc sống.
    Hiệu quả hoạt động của ngân hàng có thể giảm mạnh vì chi phí vốn cấp 1 tăng. Từ đó, rủi ro cho cả ngân hàng cũng như các doanh nghiệp. Còn thị trường tín dụng sẽ “méo mó” nghiêm trọng. Thực tế, với quy định không được sử dụng quá 30% vốn ngắn hạn cho vay trung – dài hạn hiện hành của NHNN, để tuân thủ được, các nhà băng đều có “thuật” riêng trong huy động và cho vay. Chẳng hạn như việc huy động vốn, hiện khách hàng có thể gửi dài ngày, nhưng được rút vốn linh hoạt và hưởng lãi suất theo thời gian thực gửi. Tiền gửi không kỳ hạn được biến thành tiền gửi có kỳ hạn ngắn…



    Thùy Vinh
  5. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/09/2007
    Đã được thích:
    239
    http://tinnhanhchungkhoan.vn/RC/N/CFGAJI/tang-von-ngan-hang-kho-trong-cho-co-dong-nha-nuoc.html
    Tăng vốn, ngân hàng khó trông chờ cổ đông nhà nước
    21/09/2010 07:39:53
    [​IMG]
    Số vốn tăng thêm mà các ngân hàng nhỏ cần thu hút từ nay đến cuối năm là rất lớn - Ảnh: Hoài Nam
    (ĐTCK-online) Các ngân hàng đều đã lên kế hoạch phát hành cổ phiếu tăng thêm vốn điều lệ, nhưng với lượng vốn khổng lồ mà các ngân hàng sẽ thu hút khiến nhà băng nhỏ chịu áp lực rất lớn. Đặc biệt là các ngân hàng chưa có cổ đông lớn đứng phía sau hoặc có cổ đông là tập đoàn, TCT nhà nước đang tính đến việc thoái vốn.
    Việc đầu tư của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty (TCT) nhà nước vào các lĩnh vực tài chính, chứng khoán, ngân hàng phải thực hiện theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và phải báo cáo Chính phủ trước khi thực hiện.
    Trên cơ sở đó, xác định mức và tỷ lệ vốn cần đầu tư trực tiếp (làm rõ việc có nhất thiết phải tham gia để đạt tỷ lệ đã có) khi NHTM thực hiện tăng vốn theo quy định tại Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ về ban hành danh mục vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, báo cáo và đề xuất với Thủ tướng Chính phủ từng trường hợp cụ thể.
    Đó là nội dung chính của công văn mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa gửi giám đốc NHNN chi nhánh tỉnh, thành - nơi các ngân hàng đặt trụ sở chính thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại ngày 1/9/2010 về một số nội dung liên quan đến việc đầu tư của các tập đoàn kinh tế, TCT nhà nước. Theo đó, việc đầu tư của các tập đoàn, TCT nhà nước vào các lĩnh vực nói trên phải thực hiện theo đúng chỉ đạo và phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi thực hiện. Đồng thời, Chính phủ giao Bộ Tài chính đánh giá thực trạng tài chính, tỷ lệ an toàn vốn, nhu cầu vốn phục vụ sản xuất -kinh doanh của các tập đoàn kinh tế, TCT nhà nước.
    Trong khi đó, rất nhiều ngân hàng lên kế hoạch tăng vốn trong năm nay, nhất là với những nhà băng vốn điều lệ còn nằm dưới 3.000 tỷ đồng nhằm đáp ứng theo lộ trình quy định tại Nghị định 141/2006/NĐ-CP. Đặc biệt là ngân hàng vốn điều lệ còn nằm ở mức thấp, từ 1.000 đến 1.500 tỷ đồng phải chạy đua thời gian để tìm kiếm được cổ đông chiến lược, với kỳ vọng sớm hoàn tất việc tăng vốn.
    Việc tìm kiếm được nguồn vốn mới cũng như gọi thêm vốn từ các tập đoàn kinh tế, TCT nhà nước là cần thiết đối với các đơn vị này. Bởi gọi vốn từ TTCK rất khó khăn trong bối cảnh hiện nay.
    Chẳng hạn như MeKong Bank vừa được UBCK chấp thuận phương án chào bán 200 triệu cổ phiếu (tương đương 2.000 tỷ đồng tính theo mệnh giá) để tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng. Ngân hàng cho biết, đang chuẩn bị kế hoạch phát hành 110 triệu cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện hữu và 90 triệu cổ phiếu cho các đối tác chiến lược.
    NHNN cũng vừa có văn bản chấp thuận việc tăng vốn điều lệ năm 2010 từ mức 2.000 tỷ đồng hiện nay lên 3.100 tỷ đồng của OCB. Ngân hàng này sẽ phát hành 110 triệu cổ phiếu, trong đó phát hành 290 tỷ đồng theo giá thoả thuận bán tiếp cho đối tác chiến lược nước ngoài của Ngân hàng là Tập đoàn BNPP (Pháp), nâng tỷ lệ sở hữu lên 20% vốn.
    Navibank, Western Bank, GiaDinh Bank, Ficombank, DaiA Bank… cũng là những ngân hàng có vốn ở mức 1.000 tỷ đồng và vừa được NHNN chấp thuận phương án tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng trong năm nay. Nhưng trong số đó, không phải nhà băng nào cũng có cổ đông lớn đứng phía sau. Ngược lại, một số ngân hàng có sự góp vốn từ tập đoàn kinh tế và TCT nhà nước còn đối mặt với tình trạng thoái vốn của cổ đông lớn. Cụ thể, tại Navibank, cổ đông lớn là Tập đoàn Dệt may Việt Nam nắm giữ 11% cổ phần đã quyết định thoái vốn.
    Vietcombank cũng quyết định thoái 8% vốn tại GiaDinh Bank, giảm tỷ lệ cổ phần nắm giữ tại ngân hàng này từ 19% xuống còn 11% và thôi "rót" thêm vốn trong kế hoạch nâng vốn lên 3.000 tỷ đồng ở năm nay của GiaDinh Bank. Ngoài việc cơ cấu lại vốn để đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo yêu cầu của NHNN kể từ ngày 1/10 tới lên mức 9%, đại diện Vietcombank cho biết, Ngân hàng sẽ tiếp tục xem lại các khoản vốn đã góp vào một số ngân hàng cổ phần trước đây, nếu hiệu quả không khả thi.
    Trong khi đó, thời hạn còn lại để thực hiện kế hoạch phát hành cổ phiếu tăng vốn của ngân hàng nhỏ đang cận kề. Đến nay, hầu hết ngân hàng nhỏ đã trình phương án tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng và được NHNN chấp thuận. Tuy nhiên, điều các ngân hàng lo ngại chính là thời gian còn lại của năm 2010 không còn nhiều, trong khi việc phát hành cổ phiếu tăng vốn lại có những khó khăn nhất định, do TTCK vẫn lình xình và cổ phiếu ngân hàng giảm giá.
    Các ngân hàng đều đã lên kế hoạch phát hành cổ phiếu tăng thêm vốn điều lệ, nhưng với lượng vốn khổng lồ mà các ngân hàng sẽ thu hút (ước tính lên đến con số 81.000 tỷ đồng chỉ trong khoảng thời gian ngắn từ nay đến cuối năm 2010) khiến nhà băng nhỏ chịu áp lực rất lớn. Đặc biệt là các ngân hàng chưa có cổ đông lớn đứng phía sau hoặc có cổ đông là tập đoàn, TCT nhà nước đang tính đến việc thoái vốn.



    Vân Linh
  6. phikhonglo

    phikhonglo Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa Not Official

    Tham gia ngày:
    07/03/2010
    Đã được thích:
    48.318
    TTin rất bổ ích. TKs
  7. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/09/2007
    Đã được thích:
    239
    http://tinnhanhchungkhoan.vn/RC/N/CFGBEA/than-trong-voi-tin-dung-ngoai-te.html
    Thận trọng với tín dụng ngoại tệ
    24/09/2010 18:28:28
    [​IMG]
    Mặt bằng lãi suất ngoại tệ đang có chiều hướng tăng nhanh hơn so với lãi suất VND - Ảnh: Hoài Nam
    (ĐTCK-online) Lãi suất cho vay thỏa thuận bằng tiền đồng khó giảm theo chủ trương đưa ra bên cạnh áp lực tăng chi phí huy động vốn đang đè nặng các nhà băng trước khi các quy định của Thông tư 13/2010/TT-NHNN đi vào thực tế cuộc sống. Vì thế, nhu cầu vốn ngoại tệ của doanh nghiệp, nhất là với các nhà xuất khẩu vẫn tăng, nhằm tránh áp lực lãi suất. Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế, các doanh nghiệp cũng nên thận trọng, vì rủi ro biến động tỷ giá khó lường.
    Lãi suất USD vẫn tăng
    Sau quyết định nâng tỷ giá (USD/VND) chính thức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thêm 2,1%, nhu cầu vốn bằng ngoại tệ của doanh nghiệp, theo các ngân hàng, tiếp tục tăng. Do đó, lãi suất tiền gửi ngoại tệ cũng được điều chỉnh lên mức khá cao hơn.
    Cụ thể, từ ngày 24/9, VietABank tăng mạnh lãi suất tiền gửi USD, từ 0,20%/năm đến 0,40%/năm cho các kỳ hạn, lĩnh lãi cuối kỳ đối với cá nhân, với 1 tháng lên 4,2%/năm; 3 tháng lên 4,8%/năm; 6 - 12 tháng lên 5%/năm… Trước đó 1 ngày, VietBank tăng lãi suất tiền gửi USD lên mức cao nhất 5,3%/năm. Tương tự, Ngân hàng HDBank cũng điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm USD lên mức cao nhất 5,2%/năm đối với USD áp dụng cho kỳ hạn tiền gửi ngoại tệ 12 tháng...
    Nhìn chung, mặt bằng lãi suất ngoại tệ đang có chiều hướng tăng nhanh hơn so với lãi suất VND và lãi suất tiền gửi bằng vàng. Lý do là lãi suất tiền gửi bằng USD không phải khống chế mức đồng thuận như tiền đồng và các ngân hàng có thể áp dụng mức cao nhất tùy theo xu hướng cũng như cạnh tranh trong huy động vốn bằng ngoại tệ để cho vay.
    So với đầu năm 2010, lãi suất tiền gửi USD hiện cao hơn khoảng 1 - 2%/năm và thậm chí ở các ngân hàng quy mô nhỏ, mức tăng thêm còn cao hơn. Chính lãi suất tiết kiệm bằng ngoại tệ của các ngân hàng trong nước đang dần tăng lên đã hấp dẫn tiền gửi nước ngoài. Theo TSKH Võ Đại Lược, Trung Tâm kinh tế châu Á Thái Bình Dương, lãi suất cho vay và tiết kiệm của Việt Nam hiện nay cao hàng đầu thế giới. Trên thực tế, hiện lãi suất ở các trung tâm kinh tế thế giới bằng không, trong khi ở Việt Nam tiếp tục gia tăng.
    Đáng chú ý, mặt bằng lãi suất tiết kiệm ngoại tệ ở Việt Nam hiện cao hơn nhiều so với lãi suất đồng USD ở các nước, khiến dòng vốn ủy thác đầu tư chảy nhiều hơn vào Việt Nam nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất giữa thị trường Việt Nam và quốc tế. Tuy nhiên, theo TS Võ Đại Lược, nếu dòng vốn này ở lại Việt Nam lâu dài thì không có rủi ro gì đáng lo ngại. Song nếu các điều kiện kinh tế thay đổi làm cho dòng vốn nói trên không tìm được lợi nhuận và nó sẽ được rút ra sẽ có tác động tiêu cực đến thị trường ngoại hối.
    Còn với doanh nghiệp, nhất là các nhà xuất khẩu, do có nguồn thu bằng ngoại tệ nên không ngần ngại vay vốn bằng USD bởi lãi vay thấp hơn nhiều so với lãi suất vay tiền đồng. Thực tế hiện nay, lãi suất vay ngoại tệ chỉ bằng 1/3 hoặc cao nhất cũng chỉ tới phân nửa so với lãi suất VND.
    TS Võ Đại Lược cho rằng, với mức lãi suất huy động tiền đồng cho kỳ hạn từ 3 tháng trở lên hiện là 11 - 11,2%/năm, lãi suất cho vay ở các ngân hàng thương mại vẫn phổ biến ở mức trên 14%/năm, thậm chí với khách hàng cá nhân còn lên đến 17%/năm. Vì thế, doanh nghiệp ngại vay VND và tiếp tục tìm đến vốn vay bằng ngoại tệ.
    Mức tăng dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ của các ngân hàng trong 8 tháng qua cũng luôn cao hơn so với tiền đồng. Đơn cử tại khu vực TP. HCM, theo số liệu của Cục Thống kê TP. HCM, vốn huy động của các ngân hàng trên địa bàn tính đến cuối tháng 7/2010 đạt 669,7 nghìn tỷ đồng, tăng 20,5% so cùng kỳ và tăng 11% so đầu năm. Trong đó, vốn huy động bằng ngoại tệ chiếm 25,8% tổng vốn huy động, tăng 25,7% so cùng kỳ. Còn tổng dư nợ tín dụng đạt 610,8 ngàn tỷ đồng, tăng 26,4% so cùng kỳ, tăng 9,1% so đầu năm. Nhưng trong đó, dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ đạt 172,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,2% tổng dư nợ, tăng đến 44,2% so cùng kỳ; dư nợ tín dụng bằng VND chỉ tăng 20,5%. Còn theo số liệu thống kê toàn ngành ngân hàng, 7 tháng đầu năm nay, dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ tăng đến 34%. Điều này được các chuyên gia kinh tế cảnh báo cầu ngoại tệ để trả nợ ngân hàng dồn vào cuối năm sẽ gây áp lực lên tỷ giá. Rủi ro đối với doanh nghiệp vay vốn ngoại tệ là điều khó tránh.
    Đặc biệt là khi tình trạng nhập siêu hiện nay được TS Trần Du Lịch, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia đánh giá, tuy đã giảm về tỷ lệ, nhưng số tuyệt đối vẫn còn khá cao so với sự an toàn của dự trữ ngoại hối.

    Thận trọng hơn khi vay ngoại tệ
    Với tình trạng trên, TS Trần Du Lịch cho rằng, khó có thể giữ ổn định tỷ giá ở mức hiện nay. Chính vấn đề này đang ảnh hưởng lớn đối với tâm lý doanh nghiệp và định hướng thị trường về sự kỳ vọng tiếp tục điều chỉnh tỷ giá từ nay đến cuối năm.
    Theo TS Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy Ban giám sát tài chính quốc gia, áp lực tỷ giá ngắn hạn có thể giảm nhẹ, nhưng trong dài hạn sẽ khó khăn do thâm hụt cán cân vãng lai. Dư nợ cho vay ngoại tệ có thể giảm dần trong thời gian tới, do chênh lệch lãi suất nội tệ - ngoại tệ có xu hướng thu hẹp. Tuy nhiên, cầu về ngoại tệ để trả nợ ngân hàng sẽ gia tăng vào các tháng cuối năm.
    Còn theo TS Võ Đại Lược, giá VND cao hơn trong điều kiện tỷ giá dường như cố định. Trong khi đó, kỳ vọng lạm phát ở Việt Nam luôn cao hơn mức lạm phát ở Mỹ, nhưng tỷ giá giữa VND/USD luôn cố định. Năm 2010, NHNN đã điều chỉnh hạ giá VND 2 - 3%, nhưng không thấm gì so với mức tăng giá VND trong nhiều năm.
    "Mọi người đều muốn tỷ giá ổn định để thuận tiện cho các tính toán, kinh doanh, song ổn định tỷ giá trong khi lạm phát ở Việt Nam cao hơn ở Mỹ, chắc chắn sẽ xảy ra giá VND sẽ tăng. Hệ quả, VND cao giá sẽ hạn chế xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩu, gia tăng nhập siêu… Thực ra, với giá VND cao như hiện nay, nhà đầu tư kinh doanh xuất khẩu mặt hàng công nghiệp chế biến sẽ phải cân nhắc", ông Lược nói.
    Mặt khác, theo TS Võ Đại Lược, những mất cân đối đáng chú y như cán cân thanh toán thâm hụt trong 6 tháng đầu năm 2010 là 2,84 tỷ USD, cán cân vãng lai thâm hụt 3,87 tỷ USD, dự báo thâm hụt thương mại cả năm 2010 sẽ là 12 tỷ USD, dự trữ ngoại tệ giảm. Nếu những mất cân đối này kéo dài, chậm được khắc phục sẽ dẫn đến rủi ro kinh tế vĩ mô. Trên thực tế thời gian qua, một vòng xoáy đã xuất hiện: VND cao giá, dẫn tới thâm hụt thương mại, giảm sút sự trữ ngoại tệ, buộc phải điều chỉnh tỷ giá.
    Vì thế, rủi ro đối với các khoản vốn vay bằng ngoại tệ là điều khó tránh khỏi, nhất là với doanh nghiệp nhập khẩu, không có nguồn thu bằng USD. Các chuyên gia kinh tế - tài chính cho rằng, sử dụng vốn vay bằng ngoại tệ, các doanh nghiệp cần thận trọng và cần thiết phải sử dụng biện pháp bảo hiểm rủi ro biến động tỷ giá. Các doanh nghiệp nhập khẩu không nên sử dụng quá nhiều vốn vay bằng ngoại tệ.
    Theo các chuyên gia kinh tế, tỷ giá chưa được điều chỉnh thích hợp thì vòng xoáy lại tiếp tục và phải bị động đối phó. Vì thế, cần tạo một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn và có "rổ tiền tệ" gồm đại diện các đối tác lớn.



    Vân Linh
  8. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/09/2007
    Đã được thích:
    239
    http://www.ndhmoney.vn/web/guest/da...nt/journal_content_INSTANCE_6Fvc/10136/297874
    Kinh tế vĩ mô 24/09/2010 17:04 | A A A

    Nhập siêu 9 tháng gần 8,6 tỷ USD

    (NDHMoney) Sau 4 tháng nhập siêu ở dưới 1 tỷ USD/tháng thì khả năng trong tháng 9, chỉ tiêu này sẽ vượt 1 tỷ USD.
    [​IMG]
    Biểu đồ xuất nhập khẩu/nhập siêu trong 9 tháng. Nguồn: Tổng cục Thống kê
    Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu tháng 9 đạt khoảng 6,1 tỷ USD, giảm 11% so với tháng 9. Trong khi kim ngạch nhập khẩu tháng này ước đạt 7,15 tỷ USD, chỉ giảm nhẹ 1,4% so với tháng trước.

    Như vậy, sau 4 tháng nhập siêu được khống chế dưới 1 tỷ USD/tháng thì khả năng trong tháng 9, chỉ tiêu này sẽ vượt 1 tỷ USD, cao hơn rất nhiều so với mức 395 triệu USD của tháng 8.

    Mặc dù vậy vẫn xuất hiện những yếu tố tích cực khi xuất khẩu và nhập khẩu sẽ có thêm một tháng duy trì mức kim ngạch trên 6 tỷ USD và 7 tỷ USD, và lực cầu ngoại tiếp tục hỗ trợ sản xuất và tăng trưởng trong nước.

    So với tháng 8/2010, kim ngạch xuất khẩu tháng 9 giảm ở 19 nhóm hàng hóa, trong đó đáng chú ý là xuất khẩu than đá giảm 22 triệu USD;, cao su (34 triệu USD), gỗ và sản phẩm (20 triệu USD), dệt may (91 triệu USD), giày dép (87 triệu USD), đá quý, kim loại quý và sản phẩm (324 triệu USD), phương tiện vận tải và phụ tùng (12 triệu USD)…

    Chỉ có 5 nhóm hàng hóa tăng về kim ngạch, trong đó đáng chú ý xuất khẩu gạo tăng 31 triệu USD; xuất khẩu dầu thô tăng 29 triệu USD; hóa chất và sản phẩm tăng thêm 6 triệu USD…

    Ngược lại, về phía nhập khẩu có tới 20 nhóm hàng hóa tăng kim ngạch nhưng chỉ có 10 nhóm hàng hóa giảm so với tháng trước. Tuy nhiên, mức giảm ở một số nhóm rất mạnh.

    Cụ thể, nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đã giảm 84 triệu, xăng dầu (83 triệu USD), phân bón (36 triệu USD), vải (15 triệu USD). Riêng nhóm phương tiện vận tải tháng này chỉ còn nhập khẩu 10 triệu USD kim ngạch, từ mức 211 triệu USD trong tháng trước.

    Mặc dù có sự sụt giảm hơn so với tháng trước đó, tính chung từ đầu năm đến nay, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều đạt mức tăng trưởng khá cao và chinh phục các mốc 50 tỷ USD và 60 tỷ USD. Trong khi đó, năm 2009 phải mất 11 tháng để đạt các mức kim ngạch như năm nay.

    Cụ thể, tính đến tháng 9, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa cả nước ước đạt 51,5 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ; nhập khẩu đạt 60,08 tỷ USD, tăng 22,7% trong cùng so sánh. Nhập siêu đến thời điểm này vào khoảng 8,58 tỷ USD, bằng 16,7% tổng kim ngạch xuất khẩu cùng thời kỳ.

    Đã có 13 nhóm hàng hóa xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, đáng chú ý là xuất khẩu dệt may đã đạt 8,04 tỷ USD, tăng 20,6% so với cùng kỳ; giày dép đạt 3,62 tỷ USD, tăng 23,1%; thủy sản đạt 3,43 tỷ USD và tăng 13%; gạo đạt 2,59 tỷ USD và tăng 15,2%...

    [​IMG]
    Một số mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD trong 9 tháng qua. Nguồn: Tổng cục Thống kê
    Một số mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao so với cùng kỳ gồm sắt thép tăng 193%, cao su (95,6%), hóa chất và sản phẩm (84,2%), phương tiện vận tải và phụ tùng (78,3%), máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng (55,2%)...

    Tương tự, phía nhập khẩu cũng đã có 13 nhóm hàng hóa đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, trong đó nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 9,69 tỷ USD; xăng dầu đạt 4,87 tỷ USD; sắt thép đạt 4,22 tỷ USD; vải là 3,84 tỷ USD; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 3,51 tỷ USD…



    Trần Lê Minh - NDHMoney

Chia sẻ trang này