CKVN tuần từ 30/8-3/9/2010: Hô hấp nhân tạo!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi broker_vn77, 27/08/2010.

88 người đang online, trong đó có 35 thành viên. 04:04 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 16650 lượt đọc và 292 bài trả lời
  1. security_plus

    security_plus Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    10/06/2010
    Đã được thích:
    0
    Em vừa đặt lệnh bán giá trần ngày mai. Hy vọng khớp được :)
  2. phuhao

    phuhao Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    26/04/2010
    Đã được thích:
    3.134
    Lãi suất khó giảm, tín dụng khó tăng

    http://*********.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=17128Mặc dù mục tiêu đề ra là giảm lãi suất huy động xuống 10%/năm, lãi suất cho vay xuống 12%/năm và tăng trưởng tín dụng đạt 25% năm 2010, song trên thực tế những mục tiêu này khó đạt bởi mấy lý do sau: - Thứ nhất: theo quy định tại Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20-5-2010 của Ngân hàng Nhà nước (có hiệu lực thi hành từ 1-10-2010) thì tổ chức tín dụng (TCTD) chỉ được sử dụng nguồn vốn huy động để cấp tín dụng với điều kiện trước và sau khi cấp tín dụng đều đảm bảo tỷ lệ khả năng chi trả và các tỷ lệ đảm bảo an toàn khác quy định tại thông tư này và không vượt quá tỷ lệ 80% (đối với ngân hàng, hoặc 85% (đối với các TCTD phi ngân hàng). Nghĩa là ngân hàng huy động được 100 tỉ đồng thì chỉ được cho vay tối đa 80 tỉ đồng, số còn lại để phục vụ cho công tác thanh khoản.
    Trong các tỷ lệ đảm bảo an toàn khác, có tỷ lệ “an toàn vốn tối thiểu” gọi tắt là CAR (Capital Adequacy Ratio) được nâng từ mức CAR >8% hiện hành lên mức > 9% theo Thông tư 13.
    Như vậy, theo quy định này, các ngân hàng phải giảm nguồn vốn huy động hay giảm tổng tài sản có đã được điều chỉnh theo mức độ rủi ro (mẫu số).
    Trong tài sản có rủi ro hiện nay của ngân hàng chủ yếu vẫn là tín dụng. Nghĩa là trước đây ngân hàng có 100 tỉ đồng vốn tự có thì được huy động tối đa 1.250 tỉ đồng (gấp 12,5 lần vốn tự có) để cho vay và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác (100 tỉ/1.250 tỉ = 8%).
    Nay theo quy định mới, với 100 tỉ đồng vốn tự có, các ngân hàng chỉ được huy động 1.110 tỉ đồng để cho vay, kinh doanh (100/1.110 =9%) giảm 140 tỉ đồng tài sản có sinh lời.
    Như vậy, ngoài rào cản kỹ thuật thứ nhất là các ngân hàng chỉ được phép sử dụng 80% vốn huy động để cấp tín dụng, thì ở rào cản thứ hai ngân hàng phải giảm vốn huy động để cho vay.
    Điều này cho thấy, khi chi phí bỏ ra quá lớn cho khoản dự phòng thanh khoản 20 tỉ đồng (100 tỉ - 80 tỉ) không có khả năng sinh lời như phân tích trên, thì lãi suất cho vay khó có thể giảm. Khi lãi suất cho vay khó giảm thì đương nhiên lãi suất huy động cũng khó bớt đi. Hơn nữa, khi tỷ lệ CAR tăng từ 8% lên 9% thì ngân hàng phải giảm huy động, giảm tài sản có sinh lời, điều đó cũng đồng nghĩa với mức tăng trưởng tín dụng khó có thể tăng lên do ngân hàng thiếu nguồn.
    -Thứ hai: cũng theo quy định tại Thông tư 13, phần đang gây tranh luận nhiều nhất là nguồn vốn huy động để cho vay không bao gồm phần tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, Kho bạc Nhà nước, bảo hiểm xã hội..., trong khi theo tính toán của các ngân hàng thương mại, tỷ lệ huy động tiền gửi không kỳ hạn dưới dạng này chiếm vào khoảng 15% tổng nguồn vốn huy động của các ngân hàng.
    Nếu cộng 20% phần không được cho vay và 15% nói trên, tương đương 15 tỉ đồng thì tổng số tiền phục vụ cho thanh khoản (không sinh lời) tăng lên là 35 tỉ đồng, tương đương 35% tổng nguồn vốn huy động. Phần để cho vay chỉ còn 65 tỉ đồng. Nếu tính đúng, tính đủ các chi phí hoạt động, trích dự trữ bắt buộc, dự phòng rủi ro, thuế... thì phần cho vay ròng còn lại chỉ vào khoảng 60 tỉ đồng. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc chi phí hoạt động của hàng tăng lên và buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay, dẫn đến tăng lãi suất huy động và cuối cùng là giảm cung ứng tín dụng.
    Rõ ràng, để đạt mục tiêu an toàn hoạt động thì ngân hàng phải cắt giảm cung ứng tín dụng và giảm nguồn vốn huy động theo quy định CAR... dẫn đến tăng trưởng tín dụng giảm xuống. Ngược lại, để đạt mục tiêu giảm lãi suất thì các tỷ lệ trên phải được nới rộng ra, trong khi theo Thông tư số 13 thì các tỷ lệ trên bị thu hẹp lại, dẫn đến các ngân hàng buộc phải tăng lãi suất để bù đắp cho những chi phí thực hiện các nghĩa vụ.
    Như vậy, để đạt được cùng một lúc các mục tiêu trên, trước mắt Ngân hàng Nhà nước nên cân nhắc, gia hạn thêm thời gian thực hiện Thông tư số 13 đến hết năm 2010 nhằm ưu tiên cho tăng trưởng tín dụng và hạ lãi suất trong năm 2010 theo như kế hoạch đã đề ra


    Các bác đọc đi để hiểu thêm về thông tư 13.

  3. edixon

    edixon Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    18/07/2010
    Đã được thích:
    162
    ngồi ấy mà tự sướng nhá
  4. trumcophieuvn

    trumcophieuvn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    20/03/2010
    Đã được thích:
    0
    Em kẹp 50%, phải động viên nhau qua cơn bĩ cực này!
  5. edixon

    edixon Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    18/07/2010
    Đã được thích:
    162
    OK tôi cũng mong muốn nó lên 500 lại cho bà con ta được nhờ. nào úp nào
  6. edixon

    edixon Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    18/07/2010
    Đã được thích:
    162
    theo nhận định khách quan của tui thì dợt up này có khả năng tăng đến 445 điểm thứ 2 bà con vân vào được
  7. cknews

    cknews Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    28/08/2010
    Đã được thích:
    0
    Chắc chắn là sửa thông tư 13 để cho phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế.

    Vì sao. Vì hiện nay các nước đã nâng CAR lên 11-15%. Mà giờ này chúng ta chỉ nâng có 8% lên 9% thì như vậy là quá lạc hậu.

    Với một nước còn kém phát triển. Để đuổi kịp thế giới thì chung ta phải đi tăt đón đầu. Do đó thông tư 13 sẽ phải sửa lại theo yêu cầu của Chinh Phủ. Tức là không tăng lên 9% mà là tăng từ 8% lên 15% luôn.

    Chỉ có như vậy chúng ta mới đuổi kịp thế giới. Và khi đó các tập đoàn, Tổng Cty muốn huy động vốn quốc tế sẽ dễ dàng. Còn nếu nâng lên 9% thì mức tín nhiệm hiện này của VN vẫn còn quá thấp như vậy sắp tới EVN, TKV, VINALINES, PVN sẽ không thể phát hành trái phiếu quốc tế được.
  8. trumcophieuvn

    trumcophieuvn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    20/03/2010
    Đã được thích:
    0
    Thông tư 13: Thuốc đắng dã tật
    Từ đầu tháng 8 đến nay, thị trường có nhiều ý kiến khác nhau về TT 13/2010/TT-NHNN của NHNN ban hành ngày 25/5/2010 (Thông tư 13). Gần đây, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có chỉ đạo NHNN kiểm tra, rà soát một số nội dung về Thông tư 13 mà báo giới đề cập. Có thể ví Thông tư 13 là phương thuốc thử khả năng ứng phó của các ngân hàng thương mại (NHTM)
    Dễ nhận thấy mục tiêu của Thông tư 13 và cũng như theo Thống đốc NHNN thông tin trước báo giới: "Mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị tiền đồng và đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, đồng thời đảm bảo an toàn hệ thống thanh toán, góp phần phát triển kinh tế... Việc ban hành Thông tư 13 nhằm đáp ứng quá trình hội nhập đi từ thấp tới cao, tiến dần lên mức cao hơn. Người có lợi trực tiếp là tổ chức tín dụng, tiếp đến là toàn xã hội... Thông tư 13 là từng bước xây dựng hệ thống ngân hàng tiệm cận với chuẩn mực quốc tế”.
    Hệ thông ngân hàng VN lành mạnh ?
    Với quan điểm trên và với ý kiến của các NHTM vừa qua thì rõ ràng chúng ta cần phải xem xét lại các “yếu tố an toàn” của các NHTM VN hiện nay và nhất là trong thời kỳ suy thoái kinh tế, bao gồm các chỉ số an toàn và cả khả năng ứng phó chính sách (khả năng điều chỉnh của NHTM trước các thay đổi chỉnh sách), các định chế an toàn và hệ thống quản trị tại các NHTM VN.
    Theo ý kiến của 14 NHTM và các Cty tài chính phản ánh qua Hiệp hội Ngân hàng VN thì dường như được hiểu là các NHTM VN lành mạnh đến mức không cần thắt chặt thêm. Tuy nhiên, số liệu thực tế cho thấy, ngoại trừ chỉ tiêu an toàn vốn thì các chỉ tiêu mang tính cơ cấu khác của hệ thống này đều cần thiết phải siết lại nhằm đảm bảo hệ thống này hoạt động an toàn và cẩn trọng. Theo khảo sát không chính thức và thực tế cho thấy, với mô hình hiện nay, các NHTM hoạt động khá thực dụng theo nghĩa nào đó, do hệ thống này chưa ổn định về mô hình quản trị, chưa có chiến lược và hệ quản trị chiến lược tốt... Số liệu thu thập thông tin không chính thức cho thấy, thời kỳ bùng nổ chứng khoán và bất động sản (2006-2007), có tới 21 NHTM có mức dư nợ cho vay bất động sản lên tới trên 20% tổng dư nợ, cá biệt có ngân hàng có mức dư nợ bất động sản lên tới gần 70% dư nợ... Điều đáng chú ý rằng, càng NHTM nhỏ (vốn ít) càng tỏ ra rất mạnh dạn cho vay bất động sản và chính các NHTM này là những ngân hàng huy động với mọi giá trên thị trường 2.
    Về mô hình, các NHTM cũng đang hình thành các tập đoàn tài chính với mô hình khá phổ biến là: Tập đoàn tài chính = NHTM + Cty chứng khoán + Cty bất động sản + Cty vàng... Và trong đó quan hệ nhân sự quản lý khá chằng chịt, quan hệ tài chính rất khăng khít, phụ thuộc và lệ thuộc rất lớn,... trong đó khi mô hình quản trị Cty (tập đoàn) còn là vấn đề quá lớn. Trong thực tế, nhiều NHTM đã bơm vốn cho các Cty con, thành lập ồ ạt các Cty phụ thuộc, đầu tư góp vốn liên doanh rất thiếu cẩn trọng. Trong thực tế, nhiều NHTM đã bơm vốn cho các Cty con, thành lập ồ ạt các Cty phụ thuộc, đầu tư góp vốn liên doanh... rất thiếu cẩn trọng... Điều này đang làm yếu đi các NHTM và có ý kiến đã cho rằng, khu vực tài chính VN đang có trào lưu “xây bánh vẽ” hay có cách nói khác là “thùng rỗng kêu to”.
    Rõ ràng, tinh thần của Thông tư 13 là cú “phanh” khá mạnh đối với các NHTM có cách ứng xử kinh doanh như trên. Cụ thể với hệ số rủi ro cao trước ở cho vay bất động sản và cho vay các Cty con: có hai thay đổi mang tính thắt chặt cơ bản trong Thông tư 13 so với quy định trước đây: (i) Các khoản vay đối với Cty con, Cty liên doanh, Cty liên kết có hệ số rủi ro điều chỉnh tăng từ 100% lên 150%; (ii) Các khoản vay kinh doanh bất động sản và các khoản vay đối với Cty chứng khoán có hệ số rủi ro nâng từ 100% lên 250%. Hệ số rủi ro của khoản cho vay đầu tư chứng khoán vẫn giữ nguyên ở mức 250%, như năm 2008. Việc nâng trọng số rủi ro làm cho mẫu số trở nên lớn hơn trong công thức tính CAR (mức an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng). Ước tính sẽ tác động đến trích lập dự phòng khoảng từ 10 -12 % phần dư nợ cho vay bất động sản và chứng khoán trước đây. Theo số liệu ước tính, dư nợ cho vay chứng khoán và bất động sản hiện nay khoảng 110 ngàn tỷ đồng. Nếu áp dụng Thông tư 13 có thể làm giảm khả năng vốn chảy vào khu vực này so với trước khoảng 10% (khoảng 10 tỷ đồng).
    Thuốc thử khả năng ứng phó của các NHTM
    Số liệu của IMF cho thấy các NHTM VN tuy có nhiều vốn nhưng thực sự rất mong manh trước các cú sốc và hoạt động khá tùy hứng và thường bị cuốn theo vòng xoáy của thị trường. Các chỉ số thanh khoản của các NHTMCP là đáng lo ngại trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Theo số liệu của IMF, những năm trước 2006, “chỉ số cấp tín dụng so với nguồn vốn” của hệ thống NHTM Việt thường đạt 90%. Tuy nhiên những năm gần đây, chỉ số này đã tăng trên 100%. Như vậy, theo lý thuyết cho thấy, các NHTM VN đã cho vay quá mức và có thể ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng. Theo Thông tư 13, đối với các NHTM, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động giới hạn ở mức 80% (và các tổ chức phi tín dụng là 85%). Tỷ lệ này chắc chắn sẽ tác động đến sự quá tay của các NHTM, nhất là các NHTM CP (về ngắn hạn). Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng về trung hạn điều này chắc chắn làm thay dổi hành vi cấp tín dụng của các NHTM theo hướng tốt hơn trước đây. Ước tính trên phương diện số học thông thường, không tính đến các hiệu ứng gia tăng hay thu hẹp khác như cơ chế số nhân tiền, cho thấy nếu áp dụng Thông tư 13 sẽ kìm khả năng cho vay ra (so với trước đây) của NHTM khoảng 550 tỷ đồng (nếu tăng trưởng huy động và cho vay khoảng 25% so với 2009).
    Dễ nhận thấy rằng, khả năng điều chỉnh kinh doanh, đưa ra các giải pháp kinh doanh,.. trước các biến cố như khủng hoảng, chính sách... hay nói chung là các cú sốc bên ngoài của các NHTM VN vừa qua là đáng quan ngại. Các lập luận cho rằng, khi áp dụng tỷ lệ nêu trên sẽ dẫn đến tình trạng vốn “nằm chết”. Tuy nhiên với thực tế lại cho thấy, việc cấp tín dụng quá mức so với khả năng cân đối vốn của NHTM vừa qua lại là nguyên nhân làm giảm thanh khoản của NHTM nghiêm trọng và đó lại là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tăng lãi suất quá mức, đẩy lãi suất lên cao và do đó ảnh hưởng đến khả năng cho vay của chính NHTM. Dễ nhận thấy rằng, khả năng điều chỉnh kinh doanh, đưa ra các giải pháp kinh doanh,.. trước các biến cố như khủng hoảng, chính sách... hay nói chung là các cú sốc bên ngoài của các NHTM VN vừa qua là còn đáng quan ngại.
    Riêng phản ứng chính sách đối với Thông tư 13, theo quy định của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, quá trình dự thảo Thông tư 13 đều lấy ý kiến của các tổ chức tín dụng, tiếp thu và hoàn thiện văn bản để ban hành. Xét về trình tự thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thời gian từ ngày ban hành Thông tư 13 là ngày 25/5/2010 đến 1/10/2010 là quá đủ. Tuy nhiên nếu so với khả năng phản ứng chính sách thực tế của các NHTM VN như thời gian qua thì thời gian thực hiện Thông tư 13 vào ngày 1/10/2010 quả là một thách thức lớn.
    ThS Lê Văn Hinh
  9. nhadautu1970

    nhadautu1970 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa Not Official

    Tham gia ngày:
    25/08/2010
    Đã được thích:
    0

    Khi toàn thị trường cầm tiền thì người cầm cổ không gọi là kẹp được. Thị trường quay nhanh lắm. Hôm nay tất cả chạy cầm tiền nghĩ rằng mình thông thái thì người cầm cổ sẽ chiến thắng. Bởi chân lí luôn thuộc số ít, đám đông luôn sai.
    =))=))=))=))
  10. cknews

    cknews Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    28/08/2010
    Đã được thích:
    0


    Nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước tìm vốn quốc tế


    Chính phủ đã có văn bản đồng ý về nguyên tắc bảo lãnh cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phát hành trái phiếu ra thị trường vốn quốc tế với tổng trị giá phát hành khoảng 1 tỉ đô Mỹ. Nhiều tập đoàn khác cũng nối bước EVN.



    [​IMG]



    ảnh minh họa




    Đó là Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản (TKV), Tập đoàn Dầu khí (PVN) cũng đang có những động thái dò tìm vốn qua kênh này trong thời gian tới.
    Giữa tháng 6 vừa qua, Chính phủ đã đồng ý về nguyên tắc để EVN phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường vốn quốc tế, do Chính phủ bảo lãnh với điều kiện xây dựng đề án phát hành trái phiếu để Chính phủ thẩm định dựa trên các tiêu chí như đáp ứng tiêu chuẩn về việc phát hành, thời điểm phát hành…

    Sự đồng ý này đến sau khi Chính phủ từ chối đề nghị của EVN về việc phát hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ ra nước ngoài để cho EVN vay lại.


    Phó tổng giám đốc EVN Đậu Đức Khởi nói: “Doanh nghiệp nhà nước không có tiền vì không thể đi vay các ngân hàng với lãi suất thương mại khoảng 14% đến 15%/năm, rồi đầu tư vào các dự án điện phải xây dựng 4-5 năm mới đi vào vận hành, khi vận hành thì không bán với giá thị trường".
    Hơn nữa, 80-90% thiết bị cho các nhà máy điện phải nhập khẩu từ nước ngoài, có nghĩa là mọi yếu tố đầu vào của dự án điện thì theo thị trường nhưng đầu ra thì khống chế giá bán thấp, dẫn đến dự án không có hiệu quả.


    Do vậy, để tìm thêm vốn cho các dự án trong điều kiện đầu vào và đầu ra đều khó khăn, EVN dự tính phát hành 1 tỉ đô Mỹ trái phiếu quốc tế trong năm nay sau khi chuẩn bị các điều kiện và thủ tục cần thiết (đánh giá hệ số tín nhiệm quốc tế của doanh nghiệp 3 năm liên tiếp, chọn tư vấn bảo lãnh, phát hành, chọn thị trường và thời điểm phát hành..).
    Tổng số tiền mà EVN hiện còn thiếu để thực hiện 37% tổng công suất của Tổng sơ đồ điện VI theo quy hoạch ước tính khoảng 13 tỉ đô la Mỹ (đến năm 2015).


    Với TKV, năm 2007 và 2009, tập đoàn này đã phát hành thành công hai đợt trái phiếu bằng tiền đồng tổng trị giá 3.000 tỉ đồng qua Ngân hàng Citibank. Nay, họ đang liên hệ với các ngân hàng nước ngoài để tuyển chọn tư vấn phát hành trái phiếu quốc tế, dự kiến vào quí 4 năm nay. Số tiền dự kiến phát hành khoảng 500 triệu đô la Mỹ trở lên.


    Năm ngoái, TKV đã được 2 tổ chức quốc tế là Moodys và Standard & Poor’s đánh giá hệ số tín nhiệm quốc tế ở mức Ba3/BB. “Đây có thể coi là giấy thông hành để TKV vươn ra thị trường vốn quốc tế. Nhưng nó cũng đòi hỏi TKV phải luôn hoàn thiện mình và minh bạch để hệ số tín nhiệm được nâng cao hơn”, ông Thái nói.


    Theo tính toán, TKV hiện cần 1,5-2 tỉ đô la Mỹ/mỏ cho các dự án khai thác các mỏ than mới đáp ứng yêu cầu đề ra của Chính phủ là 100 triệu tấn than vào năm 2015. Tập đoàn cũng dự tính còn thiếu trên 7 tỉ đô để đầu tư 1.550 MW điện trong 6 dự án nhiệt điện đã được chấp thuận đầu tư từ nay đến năm 2020.


    Trong lúc đó, PVN cũng chọn kênh phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế. Một lãnh đạo tập đoàn này cho biết tổng nhu cầu vốn của PVN giai đoạn 2009-2015 là rất lớn, theo cân đối mới nhất phải thu xếp vay lên đến hơn 10 tỉ đô la Mỹ (chưa tính phần vốn tự có, vốn của đối tác và liên doanh vay). Do vậy, để đảm bảo tính chủ động về vốn, PVN cần đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và quản trị rủi ro qua các giải pháp như hoán đổi lãi suất, hoán đổi tiền tệ và phát hành trái phiếu quốc tế.


    (TBKTSG Online)

Chia sẻ trang này