1. THÔNG BÁO TẠM BIỆT F319.COM Kính gửi những người bạn đã từng đồng hành cùng chúng tôi, Có những nơi sinh ra không chỉ để tồn tại như một website. Mà là nơi để gặp gỡ. Để sẻ chia. Để thức cùng nhau qua những phiên giao dịch dài. Để vui vì một mã xanh trần, để lặng im trước một ngày đỏ lửa. Để đôi khi, giữa vô vàn biến động của thị trường và cuộc sống, chúng ta vẫn tìm thấy nhau qua vài dòng bình luận giản đơn. F319.com đã đi qua một hành trình rất dài như thế. Ở nơi đây, đã từng có biết bao cuộc tranh luận sôi nổi, những góc nhìn sắc bén, những lời động viên chân thành và cả những tình bạn bước ra từ thế giới ảo để trở thành một phần của đời thật. Chúng tôi hiểu rằng, điều quý giá nhất chưa bao giờ là một diễn đàn hay một tên miền. Điều quý giá nhất chính là những con người đã làm nên linh hồn của nơi này. Và rồi, mọi hành trình đều sẽ đến lúc phải khép lại. Kể từ ngày 11/06/2026, F319.com sẽ chính thức dừng hoạt động. Quyết định này không dễ dàng. Nhưng chúng tôi chọn dừng lại khi những ký ức đẹp vẫn còn nguyên vẹn, để nơi đây mãi được nhớ đến như một phần thanh xuân đáng trân trọng của rất nhiều người. Trước thời điểm website đóng lại, mong quý thành viên chủ động lưu giữ những dữ liệu cá nhân, những bài viết hay những điều mà mình muốn cất giữ — như cách chúng ta lưu lại một góc ký ức của tuổi trẻ đã từng rất nhiệt thành. Cảm ơn vì đã ở đây. Cảm ơn vì đã tin tưởng. Cảm ơn vì đã cùng nhau tạo nên một cộng đồng đặc biệt suốt từng ấy năm. Dẫu mai này mỗi người sẽ tiếp tục những hành trình riêng, chúng tôi vẫn tin rằng đâu đó trong lòng mình, sẽ luôn còn một góc nhỏ dành cho F319. Tạm biệt — không phải để quên, mà để nhớ về nhau theo một cách đẹp nhất. Trân trọng và biết ơn!

Có khi VNI lại lên 540 điểm trong tháng 3/2010

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by tholan1, Feb 27, 2010.

1121 người đang online, trong đó có 448 thành viên. 11:24 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. Viva97

    Viva97 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Sep 28, 2007
    Likes Received:
    17
    Triển vọng kiềm chế lạm phát năm 2010 ở Việt Nam
    NDĐT- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Hà Nội và Tp.HCM trong tháng 1/2010 là 1,3% và 1,29%, trong khi mức tăng chung cả nước cùng kỳ là 1,36%; sang tháng 2/2010 các con số tương ứng lần lượt là 2,61% và 1,68%.

    Những nhân tố ảnh hưởng đến tăng chỉ số CPI của Việt Nam 2010

    Ảnh hưởng trực tiếp của tăng tiêu dùng nhân dịp tết Nguyên đán

    Có thể thấy, nguyên nhân hàng đầu có tính truyền thống, trực tiếp và dễ nhận thấy trong việc tạo áp lực gia tăng đột ngột chỉ số CPI chung của cả nước, nhất là ở các đô thị tập trung dân cư và có quy mô thị trường tiêu thụ lớn, như các TP. Hà Nội và , chính là sự gia tăng đột ngột vượt trội mọi thời điểm khác trong năm về nhu cầu và sức tiêu thụ các hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng gắn với dịp tết cổ truyền dân tộc.

    Số liệu của cơ quan Thống kê TW và địa phương cho thấy, so với tháng trước đó, CPI trong tháng 2/2010 trên địa bàn Hà Nội đã tăng gấp đôi mức tăng trong tháng 1/2010; ngoại trừ bưu chính viễn thông, giá tất cả các nhóm hàng tính chỉ số đều tăng, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm, đồ uống, thiết bị và đồ dùng gia đình… đều có mức tăng rất mạnh, từ 2,28% - 4,24%. Tính chung hai tháng đầu năm, CPI Hà Nội đã tăng 3,91%; tăng 9,69% so với cùng kỳ năm 2009.

    Tại địa bàn Tp.HCM, tốc độ tăng CPI trong tháng 2/2010 cũng lên mức cao nhất trong vòng 17 tháng qua, đưa mức tăng chung 2 tháng đầu năm lên 2,97%, tăng 9,45% so với cùng kỳ năm 2009. Cũng như tại Hà Nội, tại Tp.HCM chỉ riêng nhóm hàng bưu chính viễn thông giảm giá 1,3%, còn tất cả các nhóm hàng khác trong rổ hàng tính chỉ số đều tăng rõ rệt, trong đó giá nhóm hàng văn hóa, giải trí và dịch vụ tăng mạnh nhất với 3%. So với tháng 12/2009, chỉ số giá nhóm dịch vụ giải trí-du lịch đã nhích lên 4,11% (mức cao nhất trong hơn một năm qua), nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng thêm 2,66% so với tháng 1/2010, trong đó, lương thực tăng tới 4,87%, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình tăng 1,56% - 2,67%, còn nếu so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng này đã lên lần lượt 23,38%, 8% và 9,08%. Các mặt hàng thiết yếu như: thịt gia súc, gia cầm, thực phẩm chế biến, rau củ quả, hải sản, gạo, nếp, bột mì, bia nước ngọt, bánh mứt... có tốc độ tăng giá cao thêm 1% - 4%.

    Đây cũng là những nhóm hàng trọng tâm của mùa tiêu dùng trong và ngay sau dịp Tết Nguyên đán hàng năm và thông thường chúng sẽ có xu hướng hạ nhiệt dần sau Tết.

    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mức độ tăng giá của 2 tháng đầu năm 2010 cao hơn 2 lần mức tăng 2 tháng đầu năm 2009, cụ thể bình quân mỗi tháng trong 2 tháng đầu năm 2010, CPI tăng xấp xỉ 1,46%, trong khi năm 2009 chỉ có 0,67%. T

    Trong tháng 2-2010, trong khi hàng loạt nhu yếu phẩm tăng, thì vàng và đô la Mỹ tiếp tục hạ nhiệt. Chỉ số giá vàng và USD tháng 2/2010 hạ lần lượt 1,94% và 0,28%, như minh chứng cho những tác động tích cực bước đầu của điều chỉnh chính sách tiền tệ.

    Sự gia tăng giá cả và chi phí của các nhân tố “đầu vào”

    Trong các tháng tới, giá một số mặt hàng chủ chốt tăng lên (như xăng đã tăng thêm từ 550 – 590đ/lít ngày 21/2/2010), và dự kiến tăng như than, điện… có thể sẽ tác động mạnh tới CPI năm 2010 của Việt Nam.

    Mặc dầu, như Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp báo của Văn phòng Chính phủ chiều 22/2/2010, khẳng định Chính phủ đã tính toán kỹ để việc tăng giá điện dự kiến từ 1/3/2010 là mức tăng không cao, không ảnh hưởng đến mặt bằng chung của giá cả hiện nay, đặc biệt, không ảnh hưởng đến người nghèo…Cụ thể, với mức tăng giá điện khoảng 4,9%, thì tổng chi phí tiền điện tăng thêm của toàn xã hội sẽ khoảng 4.000 tỉ đồng, sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP ước khoảng 0,2% và làm tăng chỉ số CPI cả nước khoảng 0,16%...

    Có thể nói, sự cộng hưởng tác động đồng thời của việc tăng giá xăng, chuẩn bị tăng giá điện, than, nước và giá cước vận tải các loại…, khiến giá hàng hoá và dịch vụ có liên quan trực tiếp và gián tiếp đang đứng trước khả năng tăng, bởi lý do phải chịu ảnh hưởng của các yếu tố tăng giá “đầu vào” nêu trên.

    Sự bộc lộ hệ quả của điều chỉnh chính sách tiền tệ - tài chính

    Năm 2009, Việt Nam đã tăng trưởng tín dụng 38% để đạt được mức tăng trưởng GDP 5,3%, tổng phương tiện thanh toán vượt mức tăng 25% trong so sánh cuối năm và đầu năm. Chênh lệch giữa tổng phương tiện M2 và tăng trưởng GDP thực tế cho thấy lượng hàng hoá sản xuất ra chưa tương xứng với lượng tiền lớn được đưa vào lưu thông. Năm 2010, Việt Nam cũng sẽ tiếp tục ở mức độ nào đó chính sách nới lỏng tín dụng này để duy trì mức tăng trưởng kinh tế không dưới 6,5% theo kế hoạch đặt ra như một điều kiện đảm bảo ổn định xã hội trong thời điểm chuẩn bị Đại hội Đảng (theo tỷ lệ đầu tư của năm 2009, tăng trưởng tín dụng năm 2010 sẽ phải là 44%). Như vậy, tác động trễ thông thường từ 4-6 tháng của mức tăng tín dụng cao (gấp 7 lần mức tăng GDP) trong năm 2009 sẽ bộc lộ dần trong những tháng từ đầu quý II/2010, tức sẽ trực tiếp tạo áp lực gia tăng lượng phương tiện lưu thông và thanh toán trong nền kinh tế như là nguyên nhân hàng đầu của lạm phát tiền tệ mà Việt Nam đã chứng kiến trong năm 2007…

    Đồng thời, do hiệu quả đầu tư xã hội thấp, chỉ số ICOR cao (hiện ở Việt Nam không dưới 7-8 so với Trung Quốc trên 10) và chưa có dấu hiệu cải thiện đã, đang và sẽ tiếp tục tạo sức ép nới lỏng điều kiện tín dụng thương mại của các ngân hàng này, do đó làm tăng nguy cơ bùng nổ lượng tiền vào lưu thông với tư cách là các luồng vốn kích cầu đầu tư, từ đó trực tiếp làm tăng áp lực lạm phát. Một động thái chính sách ngược lại sẽ làm giảm bớt động lực tăng trưởng và nguy cơ mất ổn định vĩ mô kinh tế theo mục tiêu kế hoạch đặt ra.

    Hơn nữa, việc bảo đảm khả năng trả nợ đúng hạn và sự lành mạnh của các khoản nợ tín dụng đã cấp cũng có tác động trực tiếp và gián tiếp đến động thái lạm phát của Việt Nam năm 2010. Nếu những khoản nợ lớn bị dây dưa sẽ tạo nguy cơ mất khả năng thanh khoản của các ngân hàng chủ nợ, đồng thời tạo áp lực tăng cho vay tái cấp vốn –phát hành tiền vào lưu thông của NHNN cho các ngân hàng thương mại.

    Ngoài ra, năm 2010 cũng dự kiến sẽ tăng lương và tăng xu hướng chính sách tài chính –tiền tệ thắt chặt, như tăng lãi suất cho vay, bãi bỏ các khoản miễn giảm nghĩa vụ tàì chính cho doanh nghiệp, tăng thu thuế ( dự kiến thuế tài nguyên), những điều này sẽ ít nhiều làm tăng chi phí sản xuất “đầu vào”-do đó tăng giá đầu ra các hàng hoá và dịch vụ cung ứng từ nguồn trong nước.

    Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN quy định tăng tỉ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND tăng thêm 603 đồng kể từ ngày 11/2/2010, tăng thêm 3,3% so với tỉ giá ngày trước đó. Tăng tỉ giá ngoại tệ, trước hết đối với USD, như một động thái cần thiết, khó tránh khỏi trong điều chỉnh chính sách tiền tệ năm 2010 nhằm làm giảm áp lực tiêu cực của chênh lệch tỷ giá giữa đồng VNĐ với đồng USD và các đồng ngoại tệ khác trên thị trường chính thức và thị trường tự do, cũng như để phù hợp cơ chế quản lý tỷ giá chung trên thế giới và xu hướng giảm giá các đồng tiền này trong thời gian qua.

    Về tổng quát và lâu dài, việc điều chỉnh tỷ giá này có tác dụng tốt nhằm hạn chế, giải toả tình trạng găm giữ, cũng như kỳ vọng đầu cơ, góp phần cân đối theo nguyên tắc thị trường cung-cầu về ngoại tệ, kích thích xuất khẩu và tăng cường sản xuất trong nước, từ đó góp phần kiềm chế vững chắc lạm phát. Tuy nhiên, trong thời gian đầu và mức độ cục bộ, sự điều chỉnh tỷ giá này có thể ít nhiều làm tăng giá của hàng hoá và nguyên liệu nhập khẩu, do đó làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá, cũng như làm giảm lượng hàng nhập khẩu, từ đó có thể làm gia tăng áp lực lạm phát cung-cầu và chi phí đẩy.

    Sự hồi phục nền kinh tế và các nhân tố khác

    Mặc dầu kinh tế thế giới 2010 còn tiềm ẩn nhiều bất ổn trên thị trường hàng hoá và tài chính-tiền tệ, trong đó có biến động tỷ giá hối đoái của các đồng tiền chủ chốt và khủng hoảng nợ do thâm hụt ngân sách của nhiều nước như là hệ quả các gói kích thích kinh tế trong năm 2009, nhưng nhiều khả năng cho thấy sự phục hồi từng bước nền kinh tế và gia tăng các hoạt động tiêu thụ hàng hoá, nguyên liệu cả trên thị trường trong nước và thế giới (khi kinh tế thế giới phục hồi, giá dầu sẽ tăng cao, kéo theo giá xăng, phân bón, thuốc trừ sâu và các nguyên liệu sắt, thép, xi măng tăng…), nhất là từ nửa cuối năm 2010, sẽ ít nhiều và trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hoặc trung hạn làm đảo chiều các cân đối hiện nay, tạo áp lực tăng giá các hàng hoá và dịch vụ, đưa mặt bằng giá xã hội lên mức mới, làm tăng đồng thời các loại lạm phát chi phí đẩy và lạm phát ngoại nhập như mặt trái và hệ quả đi kèm tất yếu của tăng trưởng và toàn cầu hoá.

    Ngoài ra, mức độ gia tăng và tác động của lạm phát đến đời sống kinh tế-xã hội còn tuỳ thuộc khá nhạy cảm vào hệ quả và khả năng phối hợp đồng bộ, linh hoạt các chính sách và những yếu tố tâm lý xã hôi khác của Việt Nam, trong đó có công tác dự báo, thông tin và yếu tố tin đồn…

    Tuy nhiên, điều may mắn là trong bất luận trường hợp nào thì lạm phát cao ngày nay cũng đã khác xa kiểu lạm phát mà Việt Nam đã đối diện trong những năm đầu đổi mới-thời kỳ mà nạn khan hiếm hàng hoá do năng lực sản xuất trong nước yếu kém, tình trạng phong toả, cát cứ kinh tế và những bất cập về thể chế khác đã gây những thiệt hại và ám ảnh nặng nề cho mỗi cá nhân và toàn xã hội.

    Các trọng tâm chính sách nhằm kiềm chế lạm phát năm 2010

    Đánh giá về khả năng tăng trưởng nền kinh tế cũng như tốc độ lạm phát của của Việt Nam, Ngân hàng Hồng Kông - Thượng Hải (HSBC) cho rằng, áp lực lạm phát sẽ trở thành vấn đề ngày một lớn khi giá dầu và thực phẩm tăng cao. HSBC dự báo tăng trưởng GDP cả năm 2010 sẽ đạt 6,8%; lạm phát 8% và lãi suất cơ bản sẽ là 12%.

    Còn theo Ngân hàng Standard Chartered, tỉ lệ lạm phát của Việt Nam sẽ ở mức một con số, đứng ở mức trung bình 8,9% trong năm 2010 và lên mức 10% ở thời điểm cuối năm 2010.

    Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) thì đưa ra mức dự báo lạm phát ở Việt Nam năm 2010 là 8,5%, thậm chí có thể trở lại 2 con số, do nguồn cung tiền tăng nhanh năm 2009 và giá hàng hoá cơ bản của thế giới dự báo sẽ tăng lên trong năm 2010.

    Theo cảnh báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Việt Nam cần giám sát chặt chẽ tình hình lạm phát, đặc biệt khi giá hàng hoá tiếp tục ở mức cao trong năm 2010. Tuy nhiên, theo "Dự báo khu vực tài chính Việt Nam đến năm 2013" của Công ty nghiên cứu thị trường RNCOS của Mỹ vừa công bố trên mạng M2 PressWIREi, thì Việt Nam đã trở thành địa chỉ hấp dẫn các nhà đầu tư tài chính quốc tế, và còn nhiều lĩnh vực có tiềm năng to lớn để phát triển với dự báo vốn ngân hàng sẽ tăng 22%/năm trong thời gian 2009-2013…

    Có thể thấy, năm 2010, mục tiêu kiềm chế lạm phát trong dưới 7% của Việt Nam như kế hoạch đặt ra là khó khăn, Việt Nam tiếp tục chịu đựng nhiều sức ép đa chiều, cả cũ và mới, về kích cầu đầu tư và tiêu dùng trung và dài hạn, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi và cơ cấu lại nền kinh tế thích ứng với các yêu cầu tự do hoá và cạnh tranh bình đẳng thị trường, bảo đảm tính kịp thời và linh hoạt trong phản ứng chính sách trước các biến động mau lẹ, bất lường của bối cảnh trong nước và quốc tế, tăng yêu cầu hỗ trợ và giám sát vĩ mô nghiêm ngặt từ phía nhà nước, đảm bảo ổn định hoá môi trường đầu tư-kinh doanh và sự cân bằng giữa các lợi ích và mục tiêu chính sách…

    Chính phủ hiện đã có chỉ đạo thực hiện đồng bộ 6 nhiệm vụ chủ yếu và 5 nhóm giải pháp lớn để khôi phục phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa nguy cơ tái lạm phát cao. Các bộ, ngành đã và đang tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển sản xuất điều hòa cung cầu, tài chính tiền tệ, xuất nhập khẩu, kiểm tra kiểm soát thị trường... ngay từ những ngày đầu của năm mới”. Thực tế cho thấy, trong năm 2010, để kiềm chế tốt lạm phát, ổn định và nâng cao chất lượng phát triển kinh tế, Việt Nam cần chú ý hơn đến các trọng tâm chính sách sau:

    Thứ nhất, cần đảm bảo yêu cầu cạnh tranh kinh tế thị trường có quản lý Nhà nước về giá cả.

    Cần thúc đẩy thiết lập và hoàn thiện cơ chế thị trường cạnh tranh đầy đủ có sự kiểm soát một cách hiệu quả đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực chưa tự do hóa. Cần thực sự cho cạnh tranh thị trường đầy đủ trong việc cung cấp và định giá hàng hoá và dịch vụ theo thị trường. Nói cách khác, phải cho cạnh tranh đầy đủ trên thị trường rồi nhà nước mới buông giá, để bàn tay vô hình của thị trường làm đúng chức năng của mình. Nếu chỉ trả giá cả về cho thị trường, mà không trả sự cạnh tranh cần thiết về cho thị trường trong việc hình thành giá cả, là dễ tạo ra sự lạm dụng và mang lại lợi ích độc quyền kép cho các doanh nghiệp đang hoặc gần như độc quyền kinh doanh các mặt hàng này.

    Trước mắt, cần cân nhắc hợp lý hơn thời điểm và mức tăng giá các mặt hàng điện, than…đồng thời, nâng cao năng lực và hiệu quả trên thực tế của chính phủ trong công tác giám sát, kiểm soát và xử lý sự độc quyền và các vi phạm về giá từ phía các doanh nghiệp và các bên có liên quan.

    Thực tế cho thấy, cần tăng cường công tác kiểm toán giá và các chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp độc quyền hoặc gần như độc quyền để giảm thiểu các chi phí không hợp lý, làm giảm giá thành đầu ra của các sản phẩm cuả chúng, từ đó giúp giảm giá đầu vào của các doanh nghiệp và người tiêu dùng, góp phần hạ mức giá chung và nâng cao sự lành mạnh của thị trường và sự bình đẳng của xã hội, ngăn chặn hiện tượng lạm dụng trục lợi cá nhân, thậm chí biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp, phường hội và phe nhóm…

    Thứ hai, linh hoạt và phối hợp đồng bộ các công cụ và hoạt động quản lý, giữa yêu cầu thắt chặt với nới lỏng tài chính-tiền tệ, đảm bảo an toàn và hiệu quả vốn đầu tư

    Trước hết, cần đảm bảo an toàn, hiệu quả kinh doanh của tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật về cho vay, đảm bảo tỷ lệ an toàn kinh doanh, quản lý ngoại hối;

    Kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng và chuyển dịch mạnh cơ cấu tín dụng theo ngành, lĩnh vực, địa bàn thành thị và nông thôn, kỳ hạn và khách hàng vay, đáp ứng vốn cho các nhu cầu vay để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, trong đó tập trung các nguồn vốn cho vay sản xuất nông – lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp, thu mua nông sản, chế biến và xuất khẩu, cân bằng hơn giữa cho vay đầu tư xuất khẩu với cho vay phát triển thị trường trong nước; hạn chế cho vay các nhu cầu vốn thuộc các lĩnh vực phi sản xuất;

    Đồng thời, thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xử lý lãi suất tiền vay và tiếp tục cho vay mới đối với các doanh nghiệp, hộ sản xuất bị thiệt hai do thiên tai, bão lụt…để khách hàng vay có điều kiện sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật về cho vay vốn của các tổ chức tín dụng, thúc đẩy sự phát triển dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh chung của đất nước, của ngành và đơn vị mình theo nguyên tắc thị trường, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đáp ứng cả thị trường trong nước và nước ngoài.

    Ngoài ra, cần tiếp tục hoàn thiện và tăng cường việc kiểm tra, giám sát, thanh tra thực hiện các quy định về cho vay và kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh về hoạt động tín dụng. Cần có sự phối hợp liên ngành chủ động, ăn khớp và thường xuyên, cũng như cần có sự đồng bộ, nhất quán hơn giữa việc ban hành, triển khai, giám sát, kiểm tra và chế tài hiệu quả các vi phạm chính sách trên thực tế, nhất là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đặc biệt trong việc sử dụng các công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng, dự trữ bắt buộc, dự trữ ngoại hối và chính sách thuế, chính sách nợ chính phủ. Chính phủ cần có nhiều chế tài đối với các vi phạm về giá đủ sức răn đe. Tăng cường quản lý nợ công, coi trọng hiệu quả vay và sử dụng các khoản nợ. Đẩy mạnh chống tham nhũng và lãng phí trong chi tiêu công.

    Cần nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh nhạy cảm của năm 2010, việc ngăn chặn các tin đồn liên quan đến chính sách tỷ giá và thị trường tài chính-tiền tệ ở Việt Nam sẽ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

    Chính sách tỷ giá trong thời gian tới cần linh hoạt theo hướng thu hẹp chênh lệch tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do, giảm thiểu các lợi ích cơ hội hoặc cục bộ nào đó, phù hợp với các xu hướng tỷ giá chung của các đồng tiền chủ chốt trên thế giới. giảm bớt kỳ vọng cùng lúc nhiều mục tiêu cho chính sách tỷ giá trong cùng một thời điểm, nhưng cũng không thể kéo dài mãi một chính sách tỷ giá chỉ phục vụ cho một mục tiêu nhất định, dù là quan trọng trong bối cảnh nào đó, bất chấp những điều kiện khách quan đã thay đổi; bảo đảm phải có sự đồng bộ giữa tỷ giá với lãi suất vả cả biên độ tỷ giá, cũng như với các chính sách tài chính khác (theo nghĩa rộng) tránh sự triệt tiêu lấn nhau giữa các công cụ chính sách này, đảm bảo tính minh bạch và có thể dự báo được của chính sách tỷ giá.

    Tiếp tục tập trung cải cách thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm, gắn với công tác kiểm tra giám sát, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh; Kiểm soát chặt chẽ nợ quá hạn, nhất là nợ xấu, đảm bảo an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ; Kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng công tác tham mưu về chính sách phát triển kinh tế, các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, điều tiết thị trường và thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước, cũng như nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả đầu tư nhà nước; Bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán và hiệu quả của hệ thống cơ chế, chính sách, đặc biệt là sự nhất quán giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ quốc gia.

    Thứ ba, tăng cường công tác thông tin, dự báo và phản biện chính sách xã hội trước các biến động nhanh chóng của thị trường

    Cần coi trọng đúng mức và phân biệt rạch ròi giữa yêu cầu dự báo khách quan với mục tiêu chính sách và ý chí chủ quan. Dự báo cần bám sát, cập nhật và đưa ra các cảnh báo cần thiết về các biến động thị trường khách quan trong nước và quốc tế. Đồng thời, cần coi trọng dự báo tác động hai mặt của chính sách theo yêu cầu quản lý kinh tế thị trường, bảo đảm việc tính đúng, tính đủ và công khai các tác động 2 mặt, nhất là mặt trái và các hệ lụy dây chuyền khôn lường của những chính sách đang và sẽ triển khai.

    Ngoài ra, cần coi trọng việc xây dựng hệ thống số liệu và dữ liệu thông tin chuyên ngành trực tiếp phục vụ cho các hoạt động dự báo, kinh doanh và điều hành kinh tế các cấp; khắc phục tình trạng các thông tin kinh tế thường bị phân tán, chia cắt, rời rạc, đóng băng và thiếu chuẩn hoá thống nhất giữa các nguồn và đơn vị quản lý, nhất là không được phổ biến rộng rãi, công khai , gây khó khăn và đắt đỏ cho các đơn vị và cá nhân có nhu cầu tiếp cận, khai thác và sử dụng các thông tin này, cũng như tạo ra những cơ hội thu lợi bất chính cho các tổ chức và cá nhân quản lý các thông tin đó, đồng thời làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế và gia tăng sự lãnh phí các nguồn lực xã hội.

    Cần nhấn mạnh rằng, việc làm tốt công tác xây dựng chuỗi số liệu cần thiết trong các chỉ tiêu thống kê quốc gia và chuyên ngành hàng năm tự nó cũng có giá trị dự báo và cảnh báo rất cao trong quản lý kinh tế nhà nước các cấp. Hơn nữa, cần đảm bảo tính chuyên nghiệp và sự phối hợp ăn khớp cần có giữa các cơ quan chức năng và các loại công cụ dự báo, giữa công tác dự báo với công tác tổ chức thực hiện.

    Dự báo tốt giúp các cơ quan quản lý nhà nước nâng cao hiệu quả điều hành thực tiễn. Còn việc bám sát thực tiễn điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước sẽ giúp công tác dự báo thêm cơ sở tin cậy và mềm dẻo, chính xac hơn. Tăng cường sự phối hợp các hoạt động và cơ quan dự báo với giám sát, bao gồm cả giám sát chuyên ngành với giám sát hợp nhất, tổng thể toàn thị trường để cảnh báo sớm rủi ro và xử lý một cách hiệu quả những vấn đề mới phát sinh, nhất là các rủi ro chéo, tránh các đổ vỡ dây chuyền và bất ngờ;

    Đồng thời, có chính sách về thông tin thị trường và quản lý nhà nước minh bạch đầy đủ, cập nhật và thuận lợi hơn, bám sát các nguyên tắc thị trường, các cam kết hội nhập và thông lệ quốc tế. Những cải cách hành chính mạnh mẽ về thể chế và thủ tục, cũng như nhân sự trong bộ máy công quyền cũng cần được thúc đẩy hơn nữa theo hướng từ trên xuống.

    Đặc biệt, cần quan tâm giải quyết tốt nhu cầu về xây dựng, củng cố và phổ biến rộng rãi nhận thức về các giá trị xã hội chuẩn chung, phát huy mọi nguồn lực, nhất là trí thức, người tài và tinh thần thượng tôn pháp luật nhằm tạo sự đồng thuận xã hội rộng rãi trong nước và quốc tế, kể cả với Việt Kiều, tạo thước đo tin cậy trong định hướng, đánh giá các hoạt động kinh tế – xã hội, cũng như nhu cầu về xây dựng các thiết chế đủ hiệu lực bảo vệ, phát huy hiệu quả các nguồn lực và sức mạnh của quốc gia, của các địa phương và doanh nghiệp trong nước và quốc tế cho phát triển bền vững.

    TS.Nguyễn Minh Phong
    Viện nghiên cứu phát triển kinh tế-xã hội Hà Nội
  2. truongk48a2

    truongk48a2 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Sep 22, 2004
    Likes Received:
    124
    Sao dài vậy, chốt lại là gì
  3. nothao

    nothao Thành viên tích cực

    Joined:
    May 14, 2004
    Likes Received:
    7
    Quyết định giảm giá VND và "bộ ba bất khả thi”

    Trong kinh tế học, người ta đã đưa ra một lý thuyết có tên “bộ ba bất khả thi” (The Impossible Trinity). Theo đó, một quốc gia không thể đồng thời thực hiện 3 mục tiêu:

    • Ổn định tỷ giá
    • Tự do hóa dòng vốn
    • Chính sách tiền tệ độc lập
    Kinh nghiệm đau đớn Năm 2007 chúng ta đã từng chứng kiến những động thái trái chiều khá khó hiểu trong điều hành. Một mặt chúng ta cho phép dòng vốn chảy vào tương đối tự do (riêng FII đã khoảng 6.3 tỷ USD). Để ổn định tỷ giá, chúng ta đưa thêm VND vào lưu thông.

    Tuy nhiên để đảm bảo lượng tiền này không gây lạm phát, chúng ta đã tăng dự trữ bắt buộc của ngân hàng lên mức khá cao. Hậu quả là, lượng vốn đưa vào nhiều nhưng đọng trong ngân hàng cũng lắm. Doanh nghiệp khó khăn khi vay vốn còn ngân hàng bị tăng chi phí hoạt động do DTBB cao. Cuối cùng, nền kinh tế gánh chịu sự thiếu hiệu quả đó và chứng khoán nhanh chóng trở thành nạn nhân đầu tiên. Như vậy, có thể thấy để chứng minh bộ ba bất khả thi là... khả thi, chúng ta đã có kinh nghiệm khá đau đớn.


    Sự hy sinh cần thiết

    Vừa qua, NHNN đã có 2 quyết định táo bạo giảm giá VND xuống khá mạnh (xuống tổng cộng khoảng 8%). Đó là tín hiệu lựa chọn dứt khoát 2 cạnh trong tam giác “bất khả thi”: tự do hóa dòng vốn và chính sách tiền tệ (ổn định lạm phát). Đây là một lựa chọn khôn ngoan bởi đơn giản chúng ta không thể bỏ mục tiêu tự do hóa dòng vốn và kiểm soát lạm phát. Mặt khác, hạ giá VND còn giúp chúng ta cải thiện tình hình nhập siêu nhiều năm qua, và thúc đẩy doanh nghiệp xuất khẩu.



    Nhìn lại lịch sử, và hiện tại thì sao?
    Không phải chỉ chúng ta lựa chọn như vậy. Quá khứ đã chứng kiến một Hàn Quốc từ GDP đầu người dưới 100 USD áp dụng lựa chọn hạ giá bản tệ, hướng tới xuất khẩu mà trở thành cường quốc. Còn hiện tại thì người láng giềng khổng lồ Trung Quốc cũng kiên trì theo đuổi chính sách đồng nhân dân tệ yếu để đẩy mạnh sản xuất trong nước và xuất khẩu, tăng năng lực cạnh tranh quốc tế, tăng dự trữ ngoại tệ.
    Rõ ràng, VND mạnh là cách gián tiếp tài trợ NK, hạn chế XK. Đó không phải điều chúng ta muốn. Và đặc biệt trong bối cảnh người hàng xóm Trung Quốc áp dụng chính sách NDT yếu, nếu chúng ta định giá VND cao thì hàng hóa từ quốc gia này tràn sang sẽ càng mạnh mẽ, ảnh hưởng đến khả năng sản xuất nội địa. Việc lựa chọn thời điểm giảm giá bản tệ cũng rất quan trọng.
    Chúng ta đã sẵn sàng với định hướng này từ vài năm trở lại đây. Và hiện nay là thời điểm thích hợp nhất để giảm giá nội tệ trong bối cảnh kinh tế thế giới đang phục hồi và dự báo FDI, FII vào Việt Nam trong nay rất khả quan. Hy vọng, chính phủ sẽ phối hợp nhịp nhàng các chính sách để nền kinh tế chúng ta thăng hoa đúng dịp Đại lễ Nghìn năm Thăng Long 2010 này.
    www.SAGA.vn - Bacchus
  4. nvdung78

    nvdung78 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Nov 16, 2009
    Likes Received:
    0
    Đã mơ mơ thế thì mơ lên cao nữa đi chứ 640 làm gì.
  5. globalfinanc

    globalfinanc Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 16, 2008
    Likes Received:
    1
    Đầu năm đã thấy bác thỏ vác Cuốc đi cày ở Đảo Sen roài...vất vả quá. Driver được bao nhiêu mét rồi bác Thỏ???[:p]
  6. Viva97

    Viva97 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Sep 28, 2007
    Likes Received:
    17
    Chuẩn bị khởi công dự án bô xít Nhân Cơ

    Cập nhật lúc 17:24, Thứ Năm, 25/02/2010 (GMT+7)
    ,

    Dự án bô xít thứ hai - Nhà máy Alumin Nhân Cơ tại Đắk Nông - sẽ chính thức được khởi công vào ngày 28/2 tới. Ông Trần Quốc Huy - Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Nông trao đổi về việc triển khai chính thức dự án này :
    Kiểm chứng hiệu quả thực tiễn
    Thưa ông, có những ý kiến cho rằng có nguy cơ gây tác động xấu về môi trường, xã hội và hiệu quả về mặt kinh tế của dự án thấp. Đến nay, chủ đầu tư có cam kết bảo đảm an toàn về môi trường và hiệu quả kinh tế như thế nào?
    Khi trình với Chính phủ, chủ đầu tư và các cơ quan tham mưu, tư vấn đều đặt yêu cầu là phải đảm bảo được các yếu tố đó. Và nay đã tiến hành xem xét thận trọng, chặt chẽ; dự án đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và phân tích hiệu quả kinh tế, Chính phủ thấy được mới cho phép khởi công đúng theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị.
    Nhiều góp ý của các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm đã quan tâm và đặc biệt là những ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và Chính phủ đã được chủ đầu tư và các Bộ, ngành, các cơ quan chuyên môn tiếp thu, thực hiện thẩm định các yếu tố về hiệu quả kinh tế và tác động của việc khai thác bô xít, sản xuất alumin.
    Bộ Tài nguyên - Môi trường đã lập một hội đồng khoa học để thẩm định trước khi phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án và Bộ Công Thương cũng lập một hội đồng khoa học để đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế.

    [​IMG] Mặt bằng nhà máy alumin Nhân Cơ. Ảnh: PMH
    Khi dự án sắp khởi công, còn điều gì ông cảm thấy băn khoăn?
    Mọi dự án muốn phát triển bền vững, hợp lòng dân thì đòi hỏi phải hướng tới mục tiêu hài hoà giữa kinh tế - xã hội - môi trường, hài hoà giữa lợi ích Trung ương - địa phương - nhà đầu tư. Muốn có được điều này thì việc tổ chức thực hiện phải đồng bộ và thật bài bản, đạt yêu cầu khoa học - thực tiễn.
    Dự án này đã có thời gian chuẩn bị khá dài, thậm chí chậm tiến độ để thẩm định và đánh giá lại. Tuy nhiên, giữa sự tính toán và thực tế bao giờ cũng có một khoảng cách. Nếu nói còn có điều gì băn khoăn thì là chỗ này, phải được kiểm chứng thực tiễn trong quá trình triển khai sắp tới và kịp thời điều chỉnh, bổ sung để đạt được kết quả tốt nhất.
    Dự kiến thu 940 tỷ đồng/năm
    Về mặt kinh tế, dự án này sẽ đóng góp vào sự phát triển của tỉnh Đắk Nông như thế nào?
    Theo tính toán, với quy mô nhà máy alumin công suất 650.000 tấn/năm, nguồn thu hàng năm của dự án khoảng 940 tỷ đồng, trong đó các khoản thuế tài nguyên, phí môi trường nộp cho địa phương khoảng trên dưới 159 tỷ đồng.
    Tuy nhiên, tỷ lệ đóng góp cho ngân sách địa phương không quan trọng bằng việc từ dự án này sẽ tạo điều kiện phát triển công nghiệp phụ trợ và dịch vụ, cơ sở hạ tầng, kích thích đô thị hoá và giải quyết vấn đề lao động, nâng cao mức sống của người dân. Bởi vì hiện nay nếu nói về tiềm năng để phát triển kinh tế của Đắk Nông số một là bô xít, thứ hai là thuỷ điện và thứ ba là nông nghiệp kỹ thuật cao.
    Trong đó, thuỷ điện đang được khai thác và công suất tối đa cũng chỉ khoảng 1.700 MW. Riêng nông nghiệp kỹ thuật cao, chúng tôi đang hướng đến, do dưới chân là quặng bô xít nên dù nông nghiệp hiện nay là nguồn thu chủ lực của tỉnh nhưng thực tế là vẫn kém hiệu quả và vì thế khai thác bô xít sau khi hoàn thổ cũng tạo điều kiện để cải tạo đất đai, phục vụ phát triển nông nghiệp kỹ thuật cao.
    [​IMG] Bản đồ quy hoạch dự án alumin Nhân Cơ. Ảnh: PMH
    Thưa ông, có phải vì phát triển kinh tế nên buộc phải khai thác bô xít, mặc dù có ý kiến quan ngại về ảnh hưởng môi trường và ít hiệu quả kinh tế?
    Trước hết, trữ lượng bô xít của nước ta được đánh giá là hàng thứ ba thế giới. Đây không chỉ là thế mạnh riêng của tỉnh Đắk Nông mà là của cả nước, việc khai thác bô xít là vấn đề của cả nước.
    Riêng tỉnh Đắk Nông, chúng tôi đã khẳng định quan điểm là không vì vấn đề bảo vệ môi trường mà không làm gì cả nhưng cũng không vì mục tiêu phát triển mà xem nhẹ việc bảo vệ môi trường. Đây mới chỉ là dự án thí điểm để kiểm nghiệm thực tế về các vấn đề môi trường, xã hội và hiệu quả kinh tế.
    Hiện nay, chúng ta mới thẩm định, tính toán được cụ thể đối với dự án nhà máy alumin Nhân Cơ quy mô 650.000 tấn/năm còn để nói ở quy mô rộng hơn thì chắc chắn phải đầu tư tính toán, đặt ra nhiều điều kiện, yêu cầu mới nữa.
    Về mặt kinh tế, nếu chỉ dừng lại ở việc chế biến quặng bô xít để xuất khẩu thì đúng là hiệu quả còn hạn chế. Muốn hiệu quả cao hơn thì phải sản xuất ra nhôm, đó là việc của tương lai, hiện chúng ta phải làm từng bước, đồng thời cũng phải nghĩ và tính toán ngay cho các bước phát triển sau đó.
    Nếu dự án thí điểm này không giải quyết được vấn đề môi trường, vấn đề xã hội hoặc không hiệu quả về kinh tế thì liệu có thể dừng việc khai thác, thưa ông?
    Theo tôi, nếu xét về quy mô, tính chất thì việc khai thác, xây dựng nhà máy sản xuất Alumin có công suất nhỏ của dự án là bước khởi đầu, đặt nền móng cho tương lai phát triển của ngành Alumin - nhôm Việt Nam, ở đây mới chỉ là dự án có tính chất thí điểm và đã được cân nhắc thận trọng, chặt chẽ, từ đây sẽ kiểm nghiệm xem thực tế triển khai có đạt được những yêu cầu, những tính toán mà chúng ta mong muốn hay không.
    Sau dự án này mới đúc kết thực tiễn để xem xét có nên mở rộng quy mô để phát triển thành một ngành công nghiệp Alumin - nhôm hay không và cần thêm những yêu cầu, điều kiện gì. Nhiều việc đang còn ở phía trước, chúng ta vừa triển khai giai đoạn này, đồng thời ngay từ bây giờ, chủ động đặt tầm nhìn xa hơn để có bước đi thích hợp là cần thiết; quá trình tới không thể thiếu ý chí, quyết tâm cao và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ này.
    Theo TTXVN
  7. globalfinanc

    globalfinanc Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 16, 2008
    Likes Received:
    1
    nhần nói chuyện boxit, các bác đọc thêm bài của Thầy em:


    TS. NGUYỄN ĐỨC KIÊN

    Luồng gió xoáy tạo ra trên mặt sân ga do đoàn tàu chở hàng chạy qua với tốc độ gần 200 km/h, làm gián đoạn câu chuyện của tôi với GS.TS Miechel von Haff của trường Đại học Tổng hợp Kaiserlauter về tình hình kinh tế thế giới và nước Đức năm 2009.

    Cả hai chúng tôi đều nhìn theo các toa tàu chở những ống thép với đường kính lớn đang chạy lên hướng Bắc của nước Đức.

    Từ lâu đã biết Đức là cường quốc xuất khẩu trên thế giới, tôi buột miệng bình luận: “Nước Đức các anh quả là đáng khâm phục, giữa bối cảnh suy giảm kinh tế mà vẫn xuất khẩu nhiều mặt hàng số lượng lớn như vậy”. Mỉm cười vì sự ngộ nhận của tôi, anh bạn giải thích đó là vật tư phục vụ trong nước, cụ thể là cho tuyến vận chuyển khí của dự án “Dòng chảy phương Bắc”.

    Ngày hôm sau, với sự giúp đỡ của đồng nghiệp, những nét chính của dự án này đã dần hiện ra rõ nét trong tôi.

    Tuyến ống dẫn gas “Dòng chảy phương Bắc” chạy qua biển Baltic, có điểm xuất phát từ Wyborg (Liên bang Nga) dài 1.223 km và điểm cuối là Tây Nam thành phố Lubmin - cảng Greifswald. Tuyến gồm hai đường ống đường kính 1,15 m chạy song song và có khả năng chuyển 55 tỷ m3 gas, đáp ứng hơn 50% nhu cầu sử dụng gas năm 2007 của Đức (cả năm 2007, nước Đức dùng 99 tỷ m3).

    Để thi công tuyến cần 200.000 ống dẫn với tổng trọng lượng tới 4,6 triệu tấn. Các ống dẫn được chế tạo ở vùng miền Trung nước Đức và vận chuyển bằng đường sắt tới cảng Greifswald. Ở đây chúng được bọc bê tông dày tới 12 cm và chuyển lên tàu biển để tới vị trí đặt dưới đáy biển. Sau khi được bọc bằng bê tông đặc biệt (có trộn magnetit chống ăn mòn) trọng lượng một ống đã lên tới 23 tấn. Trọng lượng này sẽ giúp cho tuyến ống ổn định hơn khi đặt dưới đáy biển. Nếu điều kiện thời tiết cho phép một ngày có thể đặt được tới 3 km ống.

    Điều khá thú vị là để thực hiện được dự án này, một công ty cổ phần do cựu Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức Gerhard Schroder làm chủ tịch đã được thành lập với sự tham gia của Gazprom (Liên bang Nga) - 51%; E.ON Ruhrgas (Đức) - 20%; BASF - 20% và Gasunic (Hà Lan) - 9%. Tổng mức đầu tư cho dự án dự kiến tới 7,4 tỷ Euro.

    Đây là dự án được bạn đọc châu Âu gọi vui là dự án "Putin-Schroder" (vì ý tưởng được hình thành khi ông Schroder làm Thủ tướng Đức và ông Putin làm Tổng thống Nga). Sau khi thôi giữ cương vị Thủ tướng, ông Schroder đã toàn tâm, toàn ý thực hiện ý tưởng này với cương vị là chủ tịch công ty cổ phần.

    Trong 4 năm qua, công ty của ông đã phải thực hiện rất nhiều công việc để chuẩn bị cho việc khởi công. Trước hết là tiến hành khảo sát thiết kế tuyến ống, thiết kế kỹ thuật chi tiết, lập đánh giá tác động môi trường gửi cho các nước trong vùng biển Baltic để được cấp giấy phép xây dựng. Đến những tháng cuối năm 2009 này (công việc đã cơ bản hoàn thành và) công ty đã nhận được giấy phép để 2010 có thể khởi động công việc đặt ống dưới biển .

    Song song với quá trình khởi động dự án, công ty đã phối hợp các doanh nghiệp trong nước Đức xây dựng một cụm công nghiệp và dịch vụ trên bờ tại khu vực Greifswald. Như, mở rộng cảng cũ thành logistic, xây dựng khu tập kết có sức chứa 45.000 ống, khu vực nhà máy bọc bê tông và các dịch vụ khác phục vụ thi công. Công ty cũng thoả thuận với ngành đường sắt Đức cải tạo xây dựng đoạn đường sắt cũ nối với cảng.

    Đặc biệt, công ty còn phải tiến hành một chiến dịch vận động trên các phương tiện thông tin đại chúng để giải toả những chỉ trích, phê phán, thậm chí phản đối trên cả thế giới.

    Những số liệu, tư liệu và cách triển khai dự án của nước bạn cứ như một dòng chảy bất tận trên Internet và rất nhiều báo điện tử, khiến tôi bất chợt có những liên tưởng đến Việt Nam.

    Trong những năm vừa qua, đặc biệt là hai năm 2008 - 2009, chúng ta đã triển khai nhiều công trình đầu tư để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Nhưng một số vấn đề trong tổ chức thực hiện đã tạo ra những xôn xao không cần thiết.

    Vừa qua, dư luận xã hội đã rộ lên (tập trung đăng ở một số báo) về vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Nếu thử đem ra so sánh với quá trình triển khai dự án "Dòng chảy phương Bắc" thì có thể rút ra một số sự tương đồng và khác biệt.

    Về sự tương đồng, đây đều là những dự án có vốn đầu tư lớn, có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển kinh tế xã hội và đời sống nhân dân, được sự quan tâm của Chính phủ...

    Sự khác biệt thể hiện đầu tiên ở sự lựa chọn người lãnh đạo dự án phải đủ tầm nhìn chiến lược. "Dòng chảy phương Bắc" là cựu Thủ tướng, ở dự án bauxite là người chưa từng lãnh đạo một bộ.

    Tất nhiên, sẽ có người phản bác là có sự chỉ đạo của Chính phủ. Rất đúng, nhưng người được giao đứng đầu dự án khai thác bauxite đã hoạt động lâu năm trong doanh nghiệp, sẽ khó có cái nhìn toàn diện về kinh tế - xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường. Điều này thể hiện rõ trong việc tranh thủ sự đồng tình của dư luận thông qua tiếp xúc và cung cấp thông tin cho báo giới. "Dòng chảy phương Bắc" ngày càng thu hẹp tiến tới sự đồng thuận trong xây dựng, còn dự án bauxite của ta chưa làm được việc này.

    Thứ hai là tạo “cú hích” cho phát triển kinh tế với một kế hoạch tổng thể. Dự án "Dòng chảy phương Bắc" đầu tư cơ sở hạ tầng trước, tạo việc làm cho hàng nghìn lao động trọng nước, kéo theo nhiều ngành khác phát triển như: vận tải đường sắt, đường biển, logistic, cảng, công nghiệp thép...

    Dự án bauxite lại tập trung khai thác mỏ ngay, còn các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ khác chưa được đề cập thuyết phục. Đến thời điểm này, tạo được bao nhiêu việc làm, vận chuyển tiêu thụ sản phẩm đường bộ hay đường sắt vẫn chưa có những số liệu đủ sức thuyết phục, chưa có dự án nào trong lĩnh vực này được triển khai.

    Chỉ riêng hai khác biệt vừa nêu cũng đặt ra nhiều câu hỏi cần phải giải đáp. Phải chăng cần có cách tiếp cận mới trong việc triển khai các dự án trọng điểm ở nước ta?! Có thể đặt dự án trong mối quan hệ hữu cơ của phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và đảm bảo cân bằng sinh thái, theo mô hình tam giác phát triển bền vững được không?

    Nếu vậy, vai trò của Chính phủ với tư cách là cơ quan hành chính cao nhất sẽ chỉ quan tâm đến dự án khi các doanh nghiệp chứng minh được dự án là điểm trung hòa của của cả 3 cạnh của tam giác phát triển. Chính phủ có thể chọn mô hình tam giác đều của cả 3 yếu tố hay mô hình tam giác cân với đỉnh là phát triển kinh tế và đáy là 2 đỉnh xã hội và sinh thái...

    Theo mô hình này, khi đầu tư khai thác bauxite, Chính phủ với tư cách là chủ sở hữu của Tập đoàn Than và Khoáng sản, tức là nhà doanh nghiệp, phải đầu tư luôn phương thức vận chuyển là đường sắt. Như vậy,sẽ tạo ra được nhiều việc làm để phục vụ yêu cầu xây dựng, vận hành và duy tu đường sắt, tạo điều kiện phát triển du lịch, giảm chi phí vận chuyển của các doanh nghiệp hiện có.

    Tất nhiên khi tính vào giá thành 1 tấn nhôm xuất khẩu giá sẽ cao, lãi sẽ ít thậm chí là hoà vốn. Nhưng thế mới đúng với nhiệm vụ của doanh nghiệp Nhà nước là khai phá, đi trước mở đường tạo sức hút đầu tư của xã hội phục vụ phát triển kinh tế, tạo việc làm đảm bảo an sinh xã hội.

    Và như thế, bài toán hiệu quả sử dụng vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp Nhà nước sẽ được đánh giá ở góc độ tổng quan hơn, khi đó lãi chưa phải là mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp Nhà nước. Đảm bảo sinh thái bền vững ở đây thể hiện ở diện tích chiếm rừng đầu nguồn của đường sắt chỉ bằng 30% của đường bộ (nếu tính trên 1 đơn vị vận tải là tấn/km) hoặc là độ ồn nhỏ hơn hoặc là lượng khí thải (CO2) ít hơn…

    Đặt dự án trong mối liên hệ mô hình ba cạnh là ba yêu cầu của phát triển bền vững như vậy sẽ giúp cho người ra quyết định chính xác hơn, giúp cho xã hội mà trước hết là các phương tiện thông tin đại chúng dễ tiếp cận, còn người dân dễ đánh giá tác động của dự án đến đời sống của mình hơn.

    Trong bối cảnh đó, cả người dân, cả người ra quyết định đều đòi hỏi những người làm báo phải đưa thông tin nhiều chiều hơn, nhiều góc nhìn về một sự việc hơn để các chủ thể thông tin này thực hiện quyền giám sát và quyền tự điều chỉnh nhằm tạo đồng thuận để cùng phát triển.

    Phải chăng đây mới là mục tiêu lớn nhất cần đạt tới, không chỉ riêng ở dự án hay công việc cụ thể nào, nhằm vươn tới sự phát triển bền vững theo mô hình tam giác phát triển: kinh tế - xã hội – sinh thái như đã đề cập?

    Và phải chăng như thế là một bài học rút ra trong thực hiện dân chủ theo lời Bác dạy của cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ” đang diễn ra hiện nay?
  8. Viva97

    Viva97 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Sep 28, 2007
    Likes Received:
    17
    QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN BÔ-XÍT TÂY NGUYÊN



    BỘ CÔNG THƯƠNG
    ——-
    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
    ————–
    Số: 5455/QĐ-BCT
    Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2009
    QUYẾT ĐỊNH
    VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN BÔXIT TÂY NGUYÊN
    BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG THƯƠNG
    Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương;
    Căn cứ Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò khai thác, chế biến, sử dụng quặng bôxit giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025;
    Căn cứ Quyết định số 5454/QĐ-BCT ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên;
    Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng,

    QUYẾT ĐỊNH:
    Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên.
    Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
    Điều 3. Chánh Văn phòng Bộ, Thủ trưởng các đơn vị liên quan thuộc Bộ và các thành viên Ban Chỉ đạo chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
    Nơi nhận:
    - Như Điều 3;
    - Thủ tướng, các PTT Chính phủ;
    - Văn phòng Trung ương Đảng;
    - Văn phòng *************;
    - Văn phòng Quốc hội;
    - Văn phòng Chính phủ;
    - Các Bộ: TN&MT, KH&CN, TC, CA, XD, KH&ĐT, VHTT&DL, TT&TT, GTVT, LĐTB&XH, NN&PTNT;
    - UBND các tỉnh: Lâm Đồng, Đăk Nông;
    - Các Thứ trưởng;
    - Lưu: VT, CNNg.
    BỘ TRƯỞNG
    Vũ Huy Hoàng





    QUY CHẾ
    HOẠT ĐỘNG CỦA BAN CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN BÔXIT TÂY NGUYÊN
    (Ban hành kèm theo Quyết định số 5455/QĐ-BCT ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Công thương)
    Chương 1.
    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
    Điều 1. Quy chế này áp dụng cho Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên (sau đây gọi là Ban Chỉ đạo) được thành lập theo Quyết định số5454/QĐ-BCT ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Công Thương.
    Điều 2. Các dự án bôxit Tây Nguyên là các dự án khai thác bôxit, sản xuất alumin và luyện nhôm ở khu vực Tây Nguyên do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư.
    Điều 3. Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Điều 2 Quyết định số 5454/QĐ-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên.
    Chương 2.
    NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA CÁC THÀNH VIÊN BAN CHỈ ĐẠO
    Điều 4. Trưởng Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
    1. Chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Công Thương về toàn bộ hoạt động của Ban Chỉ đạo.
    2. Phân công, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các thành viên của Ban Chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ được giao; thông qua kế hoạch công tác, chủ trì các cuộc họp của Ban Chỉ đạo.
    3. Trình Bộ trưởng Bộ Công Thương bổ sung, sửa đổi Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên.
    4. Trình Bộ trưởng Bộ Công Thương bổ sung, thay thế thành viên Ban Chỉ đạo trong trường hợp cần thiết.
    5. Ủy quyền cho Phó Trưởng Ban Chỉ đạo thay mặt Trưởng Ban giải quyết các công việc cụ thể khi cần thiết.
    Điều 5. Phó Trưởng Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
    1. Chịu trách nhiệm trước Trưởng Ban Chỉ đạo về lĩnh vực được phân công.
    2. Thay mặt Trưởng Ban Chỉ đạo giải quyết các công việc theo sự ủy quyền của Trưởng Ban và có trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành Tổ Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo đặt tại Bộ Công Thương.
    3. Tập hợp ý kiến các thành viên, chủ động xây dựng kế hoạch công tác của Ban Chỉ đạo và báo cáo kế hoạch công tác với Trưởng Ban để thông qua, làm cơ sở quản lý, điều hành hoạt động của Ban Chỉ đạo và của từng thành viên.
    4. Ký các văn bản điều hành hoạt động của Ban Chỉ đạo; ký các văn bản chỉ đạo, báo cáo và hướng dẫn việc thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên khi được Trưởng Ban ủy quyền; ký các văn bản có liên quan đến các hoạt động hành chính, chi tiêu của Ban Chỉ đạo.
    5. Yêu cầu Chủ đầu tư các dự án bôxit Tây Nguyên và các đơn vị có liên quan báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình, kết quả và những kiến nghị trong việc thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên; tổng hợp báo cáo thường xuyên, đột xuất, trực tiếp với Ban Chỉ đạo về tình hình triển khai thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên để xin ý kiến chỉ đạo kịp thời.
    6. Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan tổ chức các đoàn công tác đến làm việc với doanh nghiệp để nắm và kiểm tra tình hình thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên; tổ chức các buổi làm việc với các đơn vị liên quan về tình hình thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch triển khai các dự án bôxit Tây Nguyên.
    7. Mời chuyên gia trong và ngoài nước có kinh nghiệm về lĩnh vực bôxit để tư vấn. Trong trường hợp cần thiết, báo cáo Trưởng Ban đề xuất lãnh đạo Bộ Công Thương cử các đoàn cán bộ đi khảo sát, nghiên cứu kinh nghiệm ở các nước có ngành công nghiệp bôxit phát triển.
    Điều 6. Các thành viên khác của Ban Chỉ đạo quy định tại Điều 1 Quyết định số 5454/QĐ-BCT ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
    1. Có trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ do Trưởng Ban Chỉ đạo phân công.
    2. Báo cáo, chủ động đề xuất ý kiến liên quan đến tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao trong việc triển khai thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên với Trưởng Ban Chỉ đạo.
    Chương 3.
    CHẾ ĐỘ HOẠT ĐỘNG
    Điều 7. Chế độ họp Ban Chỉ đạo
    1. Trưởng Ban Chỉ đạo triệu tập và chủ trì các phiên họp theo yêu cầu cụ thể của công việc.
    2. Trưởng Ban Chỉ đạo có thể ủy quyền cho Phó Trưởng ban chủ trì các phiên họp.
    3. Các thành viên Ban Chỉ đạo có trách nhiệm tham dự đầy đủ các phiên họp của Ban Chỉ đạo, khi vắng mặt phải được Trưởng Ban Chỉ đạo đồng ý và phải cử đại diện có thẩm quyền họp thay.
    4. Ban Chỉ đạo làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
    Kết luận của Ban Chỉ đạo do Trưởng Ban hoặc Phó Trưởng Ban được ủy quyền ký, gửi các Bộ, ngành, địa phương và đơn vị có liên quan để thực hiện.
    5. Nội dung các phiên họp do Tổ Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo chuẩn bị.
    Điều 8. Phân công công việc
    Trưởng Ban Chỉ đạo phân công từng thành viên phối hợp với các đơn vị liên quan chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và đề xuất những cơ chế chính sách và những giải pháp thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên.
    Điều 9. Chế độ thông tin báo cáo
    Các thành viên Ban Chỉ đạo có trách nhiệm báo cáo những vấn đề liên quan đến việc thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên phục vụ cho việc lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo theo yêu cầu của Trưởng Ban.
    Điều 10. Chế độ đi công tác cơ sở
    Căn cứ vào yêu cầu công việc, các thành viên Ban Chỉ đạo thực hiện các chuyến đi công tác theo yêu cầu của Trưởng Ban.
    Chương 4.
    TỔ CHỨC BỘ PHẬN GIÚP VIỆC CỦA BAN CHỈ ĐẠO
    Điều 11. Ban Chỉ đạo có Tổ Thường trực giúp việc đặt tại Bộ Công Thương và các Tổ công tác khác do Trưởng Ban Chỉ đạo quyết định thành lập để phục vụ yêu cầu công tác của Ban Chỉ đạo.
    1. Tổ Thường trực giúp việc do Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công Thương – thành viên của Ban Chỉ đạo làm Tổ trưởng, chịu trách nhiệm thực hiện và điều hành Tổ Thường trực thực hiện chỉ đạo của Trưởng Ban và Phó trưởng Ban.
    2. Văn phòng Tổ Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo đặt tại Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công Thương. Các cán bộ chuyên môn làm việc theo chế độ chuyên gia, được phân công nhiệm vụ, xác định rõ trách nhiệm và chịu sự điều hành trực tiếp của Tổ trưởng Tổ Thường trực.
    Điều 12. Tổ Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
    1. Thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do Ban Chỉ đạo phân công.
    2. Tổ chức việc phối hợp với các cơ quan chuyên môn liên quan để triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo giao.
    3. Chủ động nắm tình hình, nghiên cứu trình Ban Chỉ đạo biện pháp giải quyết kịp thời nhằm triển khai hiệu quả các dự án bôxit Tây Nguyên.
    4. Giúp Ban Chỉ đạo soạn thảo chương trình công tác, kế hoạch làm việc; tham mưu cho Ban Chỉ đạo về chương trình công tác của Ban nhằm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo.
    5. Chuẩn bị các báo cáo theo yêu cầu của Ban Chỉ đạo; chuẩn bị nội dung các cuộc họp, hội nghị, hội thảo của Ban Chỉ đạo.
    6. Giúp Ban Chỉ đạo soạn thảo các văn bản trình Bộ trưởng Bộ Công Thương.
    7. Tham dự các cuộc họp của Ban Chỉ đạo và các cuộc họp của các đơn vị khác có nội dung liên quan đến việc thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên.
    Chương 5.
    CÔNG TÁC HÀNH CHÍNH, QUẢN TRỊ
    Điều 13. Công tác hành chính
    1. Các vấn đề thuộc thẩm quyền giải quyết của Trưởng Ban Chỉ đạo do Tổ Thường trực chuẩn bị, tổng hợp ý kiến các thành viên Ban Chỉ đạo, đề xuất giải pháp, trình Trưởng Ban Chỉ đạo. Văn bản được tiếp nhận, xử lý, ban hành và sử dụng con dấu theo quy định tại Quy chế làm việc của Bộ Công Thương.
    2. Các vấn đề thuộc thẩm quyền giải quyết của Phó Ban Chỉ đạo được Trưởng Ban ủy quyền do Tổ Thường trực chuẩn bị, trình Phó Ban xem xét, giải quyết. Văn bản được tiếp nhận, xử lý, ban hành và sử dụng con dấu theo quy định tại Quy chế làm việc của Bộ Công Thương.
    Điều 14. Công tác quản trị và tài vụ
    1. Kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 5454/QĐ-BCT ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên.
    2. Việc quản lý tài chính và chi phí phục vụ hoạt động của Ban Chỉ đạo được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
    Chương 6.
    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
    Điều 15. Quy chế này áp dụng cho Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên và các đơn vị liên quan. Các thành viên Ban Chỉ đạo phải chịu trách nhiệm cá nhân trước Trưởng Ban Chỉ đạo và Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc thực hiện những nhiệm vụ do Ban Chỉ đạo phân công.
    Điều 16. Việc sửa đổi, bổ sung Quy chế do các thành viên của Ban Chỉ đạo đề xuất, báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo để trình Bộ trưởng Bộ Công Thương xem xét, quyết định.
  9. nmtuanomc

    nmtuanomc Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Jan 4, 2010
    Likes Received:
    0
    toàn bác full cổ hehehe...!
  10. kututu

    kututu Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 20, 2008
    Likes Received:
    0

    Lại fải nhậu à đại ka :)>-:))

Share This Page