Cốt lõi của Việt nam ta là đây ! Nguyên nhân suy giảm là đây !

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi kaka55, 12/08/2010.

758 người đang online, trong đó có 303 thành viên. 23:08 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 1019 lượt đọc và 10 bài trả lời
  1. kaka55

    kaka55 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/06/2009
    Đã được thích:
    0
    Kinh tế Việt Nam và “sóng ngầm” bất ổn
    [​IMG]

    TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng, sau 3 năm gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đang đứng trước hàng loạt nghịch lý.



    Hội nhập kinh tế toàn cầu đã 3 năm song kinh tế Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều nghịch lý - hậu quả từ những căn bệnh kinh niên - lâu nay chữa trị chưa dứt điểm. Đây là đầu bài khó cho đề án tái cấu trúc kinh tế.
    Vô số nghịch lý
    Tại hội thảo “Phục hồi kinh tế thế giới và Sự thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam: Bài học quản trị và phát triển doanh nghiệp”, do Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức chiều 11/08, TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng, sau 3 năm gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đang đứng trước hàng loạt nghịch lý.
    Ông viện dẫn, Việt Nam tăng trưởng liên tục 7% trong 25 năm nhưng nền kinh tế́ vẫn không phải là tăng trưởng bền vững. Điều này khiến thế giới "sửng sốt" vì chỉ cần 10 năm phát triển, với tốc độ 5% là đã đạt đến sự bền vững.
    Hơn nữa, khi bước vào hội nhập, chúng ta đã biết trước rất lâu để chuẩn bị năng lực cạnh tranh nhưng đến khi hội nhập hoàn toàn, sức cạnh tranh lại giảm rất mạnh.
    Một nghịch lý khác là dường như Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn nhiều nước trên thế nhưng cũng tụt hậu xa hơn, kể cả về thu nhập trên đầu người. Rõ ràng, giá trị của GDP (tổng sản phẩm quốc dân) trong phát triển thuần túy vẫn là về lượng, chứ chưa chú trọng về chất.
    Ba năm hội nhập WTO, cơ hội cho Việt Nam lớn, vốn đầu tư vào nhiều, thị trường rộng mở song nền kinh tế sinh ra nhiều chuyện hơn, như tăng trưởng giảm tốc, lạm phát tăng lên bất ổn và trở nên nghiêm trọng hơn. Ở đây có vấn đề rất lớn là năng lực hội nhập của Việt Nam thế nào - cần phải được đánh giá rất nghiêm túc. Đây cũng là một nghịch lý ghê gớm.
    Rồi chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Việt Nam được coi là địa chỉ tốt nhất thế giới, và nhà đầu nước ngoài từng gọi Việt Nam là thiên đường đầu tư. Tuy nhiên, TS. Trần Đình Thiên dẫn lời một cán bộ công tác lâu năm trong Bộ KH-ĐT thì có tới 60-80% nhà đầu tư vào kêu lỗ triền miên, trong khi Việt Nam không có ý kiến gì.
    "Điều lạ là họ kêu lỗ nhiều nhưng không ai bỏ chạy. Vậy gọi thiên đường đầu tư là như thế nào, cho ai, vì ai, ai được lợi? Vì sao lại thế. Ở đây có câu chuyện từ góc nhìn tái cấu trúc, không phân biệt nội lực hay ngoại lực, nhưng đang có vấn đề", TS. Thiên nghi vấn.
    Thêm vào đó, năm 2009, Việt Nam kích cầu lớn nhưng lạm phát giảm. Năm 2010 dự báo lạm phát tăng ghê gớm nhưng cuối cùng lại giảm - có sai quy luật không? Hay nói đến lạm phát, ta mới quan tâm đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) mà quên vấn đề giá đầu vào, tức chỉ quan tâm đến đầu ra.
    Ông Thiên cho rằng, lạ lùng nữa là Việt Nam sau 2 năm vất vả chống đỡ với suy giảm, ai cũng nghĩ lần này kinh tế rơi xuống hố sâu, khó hồi phục nhưng cuối cùng lại "ngóc" lên được. Hết tháng 1/2010, kinh tế hồi phục ngay lập tức.
    Song, dù đang đà tăng trưởng về GDP và khá thành công trong kiềm chế lạm phát, không ai dám khẳng định kinh tế Việt Nam ổn định và tốt lên, mà chỉ lo bất ổn gia tăng. Bằng chứng là mới đây, tổ chức đánh giá xếp hạng Fitch đã hạ điểm Việt Nam về mức tín nhiệm nợ. Lẽ ra, khi kinh tế phát triển thì họ phải nhận xét ngược lại.
    Bắt nguồn từ những căn bệnh kinh niên
    Theo TS. Trần Đình Thiên, các nghịch lý trên hiện rất đáng lo ngại, bắt nguồn từ những căn bệnh kinh niên của nền kinh tế Việt Nam. Đó là triền miên thâm hụt ngân sách (ở mức 5%), và tại các kỳ họp Quốc hội sau khi các đại biểu phê bình chi tiêu công hoang nhưng cuối cùng vẫn thông qua mức đó.
    Đó là triền miên thâm hụt thương mại - mà không có lý do gì để biện minh vì 25 năm nay, Việt Nam mới thặng dư 1 năm khoảng 40 triệu USD. Khi gia nhập WTO, thâm hụt thương mại bùng nổ ghê gớm - chứng tỏ bệnh không chữa khỏi mà còn nặng lên.
    Đáng báo động 90% thâm hụt thương mại hiện nay là với Trung Quốc. Việc lệ thuộc thương mại quá nhiều vào một nước là bất bình thường chứng tỏ cơ cấu thâm hụt có vấn đề nghiêm trọng.
    Ngoài ra, các "bệnh" khác bắt nguồn từ các tập đoàn nhà nước, "bệnh" do doanh nghiệp tư nhân chậm lớn. Điều đó phản ảnh cơ cấu của nền kinh tế và hệ quả là bất ổn vĩ mô, điều hành chính sách bất ổn.
    Ông Thiên chỉ ra rằng, trong khi chính sách tài khoá (phục vụ chi tiêu nhà nước) ổn định, thì chính sách tiền tệ (phục vụ DN) lại bất ổn, mà lẽ ra trách nhiệm chính phải là chính sách tài khóa.
    "Kinh tế khó khăn nhưng thu ngân sách vẫn bội thu chứng tỏ không có chia sẻ với doanh nghiệp", ông nhận xét.
    Dứt khoát phải thay đổi mô hình tăng trưởng Để thoát ra khỏi tình trạng trên, TS. Trần Đình Thiên nhấn mạnh, Việt Nam dứt khoát phải tái cơ cấu kinh tế, thay đổi mô hình tăng trưởng và tư duy phát triển. Ông ví von, kinh tế Việt Nam như đứa trẻ giờ đã lớn lên nhưng cái “áo” vẫn chật (dù rất đẹp) nhưng buộc phải bỏ, không nên tiếc.
    Tất nhiên, việc thay đổi là không dễ dàng vì kinh tế Việt Nam nằm trong các xung đột, đơn giản chẳng hạn là giữa nhóm xuất khẩu và nhập khẩu về tỷ giá... Hơn nữa, chuyện lương bổng cũng là một cản trở 50 năm qua từ khi chính sách lương ra đời, cần thay đổi quan niệm về lương và hệ thống lương.
    Thêm vào đó, rất cần có sự đột phá mạnh về cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng.
    Ngoài ra, cải cách toàn diện quan niệm về chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tái cơ cấu lại mô hình tập đoàn nhà nước.
    TS. Trần Đình Thiên nhìn nhận, chuyện tái cấu trúc Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) vừa qua là câu chuyện phức tạp, bởi tái cấu trúc khi tập đoàn “bệnh” quá nặng nên rất khó, cần làm từng bước.
    Nguyên tắc chung về tái cấu trúc tập đoàn, tổng công ty nhà nước là không khó, chỉ cần khi giao tiền thì phải gắn với giao trách nhiệm, giao quyền cũng gắn với giao trách nhiệm. Cần có cơ chế độc lập giám sát việc giao tiền, giao quyền này - mà đây lại là khâu yếu nhất hiện nay.
    “Vấn đề là nếu cưng chiều quá mức, thiếu nguyên tắc dẫn tới suy nhược thôi. Cách tổ chức cấu trúc quyền lực liên thông, tạo nhóm lợi ích quyền lực như vậy là không được”, ông Thiên cho hay. Đồng thời, cần phân biệt rõ ràng kinh doanh hàng hóa công và kinh doanh thông thường, tránh nhập nhèm.
    Một trong những biện pháp khác là xem xét lại chiến lược thu hút FDI, đặt nó trong chiến lược tổng thể về tái cấu trúc kinh tế. Mục tiêu của thu hút vốn đầu tư nước ngoài là phát triển quốc gia chứ không nên tăng trưởng về số lượng. Về đại thể, thu hút FDI là nên lôi kéo công nghệ, tạo nguồn lực dẫn dắt doanh nghiệp.
    Như lời nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển, Việt Nam có thể rút ra kinh nghiệm từ Hàn Quốc trong việc này khi lôi kéo nước ngoài vào đầu tư, Hàn Quốc không quan tâm nhiều đến các doanh nghiệp lớn nhưng rất khắt khe với doanh nghiệp nhỏ và vừa vì phải nuôi dưỡng thành phần này trong nước.

    Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng, hạn chế của Việt Nam hiện nay là cơ cấu sản xuất lạc hậu, tiêu hao năng lượng và ô nhiễm môi trường lớn; bảo hộ mậu dịch gia tăng trên thế giới; công nghiệp lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường dịch chuyển sang Việt Nam; vấn đề lương thực đặt ra nhiều thách thức trong tình hình mới và việc cơ cấu lại tiêu dùng của các nước mà Việt Nam đang bắt tay hợp tác.

    Ngoài ra, ông cũng cảnh báo Việt Nam cần theo dõi chặt chẽ quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá sẽ “dội” vào nước ta như thế nào, đặc biệt là về sự luân chuyển luồng vốn.
    Theo nguyên Phó thủ tướng, Việt Nam cần lưu ý đến tái cấu trúc vị trí đồng tiền; giám sát hệ thống tiền tệ và tài chính ngân hàng; vị trí của các quốc gia trong thể chế chính trị quốc tế; việc tái cấu trúc kinh tế tác động như thế nào đến sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.





    Theo Hà Yên


  2. kaka55

    kaka55 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/06/2009
    Đã được thích:
    0
    TP - “Từ năm bảy năm nay, chất lượng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam thấp, do bị lợi dụng, chạy đua để có những con số đẹp” - Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc của Invest Consult Group (doanh nghiệp chuyên tư vấn về FDI), cảnh báo.

    [​IMG]Ông Nguyễn Trần Bạt.
    Buông lỏng thẩm định


    Ông đánh giá thế nào về chất lượng FDI vào Việt Nam những năm gần đây?
    Chất lượng FDI vào Việt Nam những năm qua không tốt bằng những năm trước đây. Do quan niệm về FDI bắt đầu có vấn đề từ dăm bảy năm trở lại đây. Đặc biệt từ khi chúng ta phân cấp, phân quyền quyết định các dự án cho lãnh đạo các tỉnh, TP.
    Hiện nay, có thể nói, ở Trung ương trong con mắt của cơ quan quản lý nhà nước, FDI là một khát vọng về sự phát triển, về sự đòi hỏi cần phải có nguồn vốn, dự án để làm đẹp bức tranh thống kê về sự phát triển kinh tế nói chung.
    Đối với địa phương, nhiều nơi cũng mắc bệnh thành tích, để có những con số phục vụ việc thi đua giữa người đứng đầu các chính quyền địa phương với nhau. Chính vì thế, người ta ít đếm xỉa đến nội dung, chất lượng dự án, tạo sự chểnh mảng trong việc thẩm định chất lượng đầu tư, độ tin cậy của dự án.
    Ông có thể nói rõ hơn nguyên nhân khiến chất lượng các dự án FDI vào Việt Nam bị giảm sút, dù về mặt con số các dự án, số vốn đăng ký vẫn tăng mạnh?
    Chất lượng giảm do chúng ta không quan niệm đúng về đầu tư nước ngoài. Ở giai đoạn đầu tiên về thu hút FDI, các dự án khi vào Việt Nam đều được cân nhắc, thẩm định kỹ về kinh tế, chính trị, ngoại giao... Những vấn đề an ninh quốc phòng được xem xét rất kỹ trong từng dự án, kể cả ở những dự án có vốn đầu tư chỉ 1 triệu USD.
    Còn nay, có thể thấy chúng ta phần nào chịu ảnh hưởng của bệnh thành tích. Chúng ta không phân tích một cách cặn kẽ dự án đầu tư như một đối tượng kinh tế nữa mà phân tích như một công cụ tạo ra tăng trưởng. Khi có dự án, việc thẩm định không kỹ, chưa kể khi đã phân cấp, bản thân các tỉnh, TP cũng chưa có cơ quan chuyên môn và đội ngũ cán bộ có đủ năng lực để có thể thẩm định được.
    Nhưng Chính phủ không thể ôm việc mãi được, nhất là trong bối cảnh thực hiện cải cách hành chính, thưa ông?
    Thực ra, không phải gần đây mới phân cấp. Trước đây chúng ta cũng có phân cấp, những dự án nằm trong khu công nghiệp do ban quản lý khu công nghiệp và chính quyền địa phương cấp giấy phép, thậm chí cả cung cấp dịch vụ để hoàn tất việc cấp phép.

    "Do sự thi đua phát triển của các địa phương dẫn đến Chính phủ không đủ thời gian để thẩm định, hay nói cách khác các cơ quan của Chính phủ không đủ thời gian và không nỡ lòng thẩm định quá chặt chẽ để mang tiếng cản trở sự phát triển của các địa phương" - Ông Nguyễn Trần Bạt
    Khu công nghiệp Đồng Nai là ví dụ về sự tiên phong của các khu công nghiệp trong việc tự quản cấp giấy phép. Tuy nhiên, sự phân cấp ấy được làm theo quy trình bài bản.

    Nhưng đến gần đây mọi việc không còn đơn giản như thế nữa. Các dự án khổng lồ, những dự án sử dụng tới hàng nghìn hécta đất đều không qua con đường thẩm định chuyên nghiệp nữa.
    Việc có một số dự án FDI khổng lồ thất bại là do chúng ta nôn nóng, bỏ qua một bước rất quan trọng trong kêu gọi đầu tư là không chỉ thẩm định trực tiếp chủ đầu tư mà còn phải thẩm định qua các developers (người phát triển dự án). Quá trình kêu gọi đầu tư là một quá trình chuyên nghiệp.
    Trên thế giới có danh sách các developer, có uy tín trong kêu gọi đầu tư như Nomura, Richard Ellis… Các đơn vị này không phải là những người có vốn để thỏa mãn nhu cầu phát triển của một dự án nhưng lại là một tổ chức có uy tín để tổ chức một cộng đồng các nhà đầu tư. Chính họ khi kêu gọi nhà đầu tư đã phải tự thẩm định, trước khi giới thiệu cho nước sở tại. Và thường thì họ phải tự biết chọn nhà đầu tư chất lượng, để giữ uy tín của mình.
    Việc thẩm định các dự án FDI hiện đang “có vấn đề”, cụ thể ra sao?
    Kinh nghiệm cho thấy, những ai bỏ tiền quá 100 triệu USD một cách dễ dãi, dứt khoát không phải là nhà đầu tư thật. Việt Nam chưa phải là quốc gia khiến bất kỳ người giàu có trên thế giới nào cũng dễ dàng bỏ quá 100 triệu USD để đầu tư.
    Tất cả những ai đưa ra cam kết đầu tư 100 triệu USD trở lên là Nhà nước phải thẩm định kỹ càng. Có những vùng đất người ta bỏ ra 10 tỷ USD không cần phải bàn. Nhưng có những đất nước người ta bỏ 10 triệu USD ra đầu tư là phải thận trọng, thẩm định kỹ càng.
    Việc thẩm định dự án 10 triệu USD, 100 triệu USD hay 1 tỷ USD quy trình như nhau. Đã có thời kỳ Bộ KH&ĐT yêu cầu nếu không có xác nhận của các ngân hàng về số vốn hay tiền đọng trên tài khoản của công ty đó, không có cam kết của ngân hàng cấp vốn cho dự án thì sẽ không được cấp phép. Giờ chúng ta bỏ qua việc này.
    Có ý kiến cho rằng, sở dĩ chất lượng FDI vào Việt Nam thấp là do chúng ta không có định hướng cụ thể, nên gần như nhà đầu tư nào vào cũng được chào đón?
    Đúng là có hiện tượng như vậy. Vì các tỉnh ganh đua nhau. Có một người bạn của tôi ở Hưng Yên khi gặp khoe tỉnh em phấn đấu vào câu lạc bộ 1.000 tỷ (thu thuế), sau này là 10.000 tỷ... Dần dần trong xã hội sẽ tạo ra sự chạy đua phát triển không có mục tiêu và đến lúc nào đó sẽ dẫn tới phát triển nóng một cách không điều chỉnh được. Đây là điều Trung Quốc đã gặp phải.
    Xem lại việc phân cấp
    Theo ông, để nâng cao chất lượng thu hút các dự án FDI vào Việt Nam, chúng ta phải làm gì?
    Phải xác định lại, tổ chức lại quy trình thẩm định các dự án dựa trên kế hoạch phát triển nền kinh tế. Tức là phải có kế hoạch tổng thể phát triển từng ngành kinh tế. Hạn chế đến mức tối đa có thể bệnh thành tích, làm hại đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, đồng thời nghiên cứu lại chế độ phân cấp. Đến tỉnh thì làm bao nhiêu, động chạm bao nhiêu tài nguyên đất đai, tín dụng… trên mức đó là thuộc về quyền của Chính phủ.
    Tất cả các giới hạn đó đều phải thuộc quyền kiểm soát của Quốc hội, chứ không phải như hiện nay Quốc hội chỉ quyết định, giám sát dự án trên 35.000 tỷ đồng (bằng vốn ngân sách). Các bộ ngành phải làm tốt vai trò cố vấn, thẩm định kỹ thuật trên các tiêu chí: Có khuyến khích sử dụng lao động địa phương, chuyển giao công nghệ…
    Nếu quyết định chọn nhà đầu tư sai, lãng phí sẽ rất lớn. Tuy nhiên, hiện chưa có quy định trách nhiệm của người đứng đầu trong lĩnh vực này?
    Ở đây không chỉ lĩnh vực thu hút FDI, mà rất nhiều lĩnh vực khác chưa có quy định của pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu. Ở lĩnh vực này trách nhiệm của những người đứng đầu ở mọi cấp cần sớm được quy định bằng luật pháp.
    Cảm ơn ông.
    Bá Kiên - Phạm Tuyên

    Giải ngân FDI chỉ đạt hơn 30%
    Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT), tính đến cuối năm 2007, sau 20 năm (1988-2007), cả nước có hơn 9.500 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm). Trong đó, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD.
  3. kaka55

    kaka55 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/06/2009
    Đã được thích:
    0
    'Nếu để Vinashin phá sản, tất cả sẽ thành đống sắt vụn'
    Cập nhật lúc 19:18, Thứ Tư, 04/08/2010 (GMT+7)
    ,

    [​IMG]- Phát biểu trong phiên họp báo Chính phủ thường kỳ chiều 4/8, Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng khẳng định "nếu cứ để cho phá sản Vinashin thì tất cả sẽ thành đống sắt vụn".
    >> Bắt tạm giam nguyên Chủ tịch HĐQT Vinashin
    >> Vụ Vinashin: Xử nghiêm theo quy định pháp luật
    Bê bối Vinashin: Lỗi do chủ quan là chính
    Tại phiên họp thường trực Chính phủ tháng 7 diễn ra trong hai ngày 3 và 4/8, Chính phủ đã thảo luận, thống nhất đánh giá về tình hình hoạt động và chủ trương, giải pháp để ổn định, phát triển Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin).
    [​IMG]Trụ sở Tập đoàn Vinashin tại Hà NộiThông tin với báo chí sau phiên họp, Phó Thủ tướng nói, quan trọng nhất là Chính phủ đã thảo luận kỹ các nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính.
    "Về phía khách quan, là do DN, nhưng có nguyên nhân chủ quan từ chỉ đạo điều hành của chúng ta, của bộ máy quản lý ở bộ ngành", ông Hùng nói.
    Dẫn lại một số thách thức mà Vinashin phải đối mặt do khủng hoảng kinh tế, Phó Thủ tướng nhấn mạnh: "Trong số các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thì Vinashin bị ảnh hưởng nặng nề nhất".
    Có điều, ông Hùng cũng lập tức thừa nhận, "nếu ta có một tập đoàn khỏe về quản trị, về lãnh đạo điều hành và năng lực tài chính, nhà nước lại quản lý tốt hơn, cho dù làm thí điểm nhưng quản lý chặt hơn thì dù khó khăn bên ngoài tác động cũng không đến nỗi lâm vào khó khăn".
    [​IMG]Ảnh: LN
    "Tình hình vẫn trong tầm kiểm soát"
    Nhiều lần khẳng định "quyết tâm chính trị" của Đảng và Chính phủ xây dựng nền cơ khí đóng tàu và công nghiệp tàu thủy ở một đất nước giàu tài nguyên biển, Phó Thủ tướng cho rằng kinh tế hàng hải, các đoàn tàu, bến cảng có vai trò cực kỳ quan trọng với Việt Nam.
    Trên cơ sở một số nền tảng mà Vinashin đã gây dựng được, Phó Thủ tướng cam đoan, tình hình vẫn trong tầm kiểm soát, mọi chuyện vẫn chưa tuột ra khỏi tầm tay.
    "Còn nếu cho nó phá sản đi thì chúng ta lại phải dựng nên một ngành công nghiệp tàu thủy mới", ông Hùng nói.
    Nếu cơ cấu lại Vinashin để nó hoạt động được, phát huy được thì tiếp tục có ngành công nghiệp tàu thủy. Nếu cho phá sản đi, thì nhà máy, công trình dự án, tàu này thì trở thành sắt vụn. Nếu không thu hồi được vốn thì nợ nần sẽ nghiêm trọng, hàng nghìn người thất nghiệp, tác động dây chuyền khó mà lường hết được.
    Theo ông Hùng, quyết tâm như vậy là có cơ sở, có căn cứ và hoàn toàn khả thi chứ không hề duy ý chí vì tất cả vẫn đang trong tầm kiểm soát, trong khả năng.
    Cấp đủ vốn điều lệ để vực dậy con tàu Vinashin
    Phó Thủ tướng cũng chỉ ra ba nhân tố để "vực" con tàu Vinashin quá yếu ớt: thu hẹp ngành nghề, cơ cấu nợ và xử lý sai phạm.
    Thứ nhất, cơ cấu thu hẹp lại ngành kinh doanh, không lấn sân đa ngành, không mua bán tàu biển. Nếu trước kia Vinashin dàn trải từ 108 dự án thì nay cắt xuống chỉ còn 28 dự án, và trước mắt chỉ tập trung còn 13 dự án. Ngành chính của Vinashin mới thu hẹp trong ba lĩnh vực: đóng tàu, sửa chữa tàu và công nghiệp phụ trợ cho tàu. "Vinashin mới sẽ không làm theo kiểu cũ", ông Hùng cho hay.
    Giải pháp thứ hai là cơ cấu lại Vinashin cũ đối với dự án, công ty con đã góp vốn thì một là bán, hai là chuyển nhượng, ba là cổ phần hóa để thu lại vốn, trả nợ và đầu tư tập trung cho mấy ngành chính trên. Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất trên nền đã có. Dự kiến năm 2012, tiếp tục đóng tàu được và bán được hàng. Giai đoạn 2010-2011 còn 81 con tàu nước ngoài và 41 tàu trong nước - nghĩa là tiếp tục hoạt động được. Trong cơ cấu này, tiếp tục giữ công nhân, đào tạo lại, khi mở rộng đóng tàu phát triển. Một bộ phận chuyển theo dự án đã điều chuyển.

    Tính toán đến 2012 có thể hết lỗ, năm 2013 - 2014 sẽ bắt đầu có lãi và năm 2015 sẽ ổn định một Vinashin mới. Chỉ làm đóng tàu, phụ trợ và đào tạo thiết kế.

    Liên quan đến tình hình nợ nần, Phó Thủ tướng cho hay, chủ trương của Chính phủ là tập trung sự hỗ trợ của nhà nước, nỗ lực của DN để sòng phẳng về nợ nần. Chúng ta bán, chuyển, cổ phần hóa thì Vinashin có tiền để trả nợ, nhà nước cấp đủ vốn điều lệ cho Vinashin.
    "Một tập đoàn lớn mà nhà nước chỉ cấp cho hơn 100 tỷ, vậy thì bây giờ phải cấp đủ vốn điều lệ cho Vinashin để phát triển mới", ông Nguyễn Sinh Hùng khẳng định.
    Xử lý nghiêm sai phạm để lấy lại niềm tin trong nhân dân
    Một câu hỏi cũng được nêu lên trong cuộc họp báo là Chính phủ sẽ xử lý khuyết điểm, sai phạm của các cá nhân ở Vinashin như thế nào.
    "Cá nhân nào vi phạm, làm trái quy định nhà nước mà tự nó gây hiệu quả nghiêm trọng thì phải xử lý nghiêm minh và kỷ luật trước Đảng", ông Hùng khẳng định.
    Phó Thủ tướng cho hay, Chính phủ khẳng định quyết tâm xử lý nghiêm minh, kịp thời các sai phạm ở Vinashin để lấy lại niềm tin trong nhân dân.

    Phó Thủ tướng nói thêm, nguyên nhân dẫn đến sai phạm của Vinashin như hiện nay có một phần do các cơ quan nhà nước tham mưu chưa tốt.
    "Cũng là tham mưu nhưng tham mưu cho các tập đoàn khác thì được mà tham mưu cho Vinashin lại chưa ổn", ông Hùng nhận định.
    Dĩ nhiên, theo Phó Thủ tướng, đóng tàu là lĩnh vực đặc thù, không phải ngành nghề kinh doanh bán hàng có lợi nhuận ngay.
    Do đó, Chính phủ sẽ kịp thời bổ sung, sửa đổi các cơ chế liên quan đến đầu tư, quản lý DN, quản trị tài chính đối với tập đoàn này. Những cá nhân có sai phạm sẽ phải kiểm điểm nghiêm túc.

    Trước đó, trong phiên họp thường trực Chính phủ tháng 7 vừa diễn ra, Chính phủ đã thảo luận, thống nhất đánh giá về tình hình hoạt động và chủ trương, giải pháp để ổn định, phát triển Vinashin.
    Ngay sau phiên họp, chiều nay, Văn phòng Chính phủ ra thông báo về tình hình hoạt động và chủ trương, giải pháp để ổn định, phát triển Vinashin.
    Mời độc giả bấm vào đây để đọc.
    • Lê Nhung
    ,
    [​IMG] [​IMG]
    Chia sẻ In tin
  4. kaka55

    kaka55 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/06/2009
    Đã được thích:
    0
    Người Trung Quốc nắm nhiều dự án trọng điểm của VN
    Trong cuộc chạy đua giành giật thị phần, hàng nội vẫn chưa thắng trên sân nhà. Những gói thầu lớn của Việt Nam đều rơi vào tay doanh nghiệp ngoại đặc biệt là các nhà thầu Trung Quốc.
    Tại hội thảo người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam diễn ra ngày 6/8, bà Phạm Thị Loan, Ủy viên Ủy ban tài chính và ngân sách Quốc hội đưa ra con số khiến nhiều người giật mình. Theo bà Loan, hiện có tới 90% các dự án tổng thầu EPC (tư vấn, thiết kế - cung cấp thiết bị - xây lắp, vận hành; hay nói cách khác là thực hiện dự án theo phương thức chìa khoá trao tay) của Việt Nam do nhà thầu Trung Quốc đảm nhiệm, trong đó chủ yếu là dầu khí, hóa chất, điện, dệt kim.
    Có tới 30 doanh nghiệp Trung Quốc đang thực hiện các dự án trọng điểm quốc gia. Xét riêng về điện, đã có nhiều dự án tỷ USD rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Tiêu biểu phải kể đến dự án điện Quảng Ninh 1, 2 với giá trị 400 triệu USD, điện Mỹ Tân 2 với số vốn 1,3 tỷ USD, điện Duyên Hải 1 là 4,4 tỷ USD...
    Từ nay đến năm 2025, Việt Nam cần 117 tỷ USD phục vụ cho các công trình xây dựng hạ tầng. "Việt Nam cần xây dựng nhiều dự án hạ tầng lớn. Nếu các gói thầu trọng điểm tiếp tục rơi vào tay Trung Quốc thì vấn đề an ninh năng lượng, an ninh quốc gia thực sự đang rất đáng lo ngại", bà Loan thẳng thắn.
    [​IMG]Nhiều dự án liên quan đến điện rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc. Ảnh: Hoàng Hà.
    Theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên là hồ sơ mời thầu các dự án lớn thường được giao cho các tư vấn nước ngoài soạn thảo. Các tiêu chuẩn được đưa vào hồ sơ một cách máy móc, sao chép lại từ các tài liệu được đánh giá là đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Vì vậy, rất ít doanh nghiệp Việt Nam lọt qua vòng sơ tuyển để dự thầu.
    Ví dụ như trong lĩnh vực điện năng, ông Thành minh họa, ngoại trừ những trường hợp được chỉ định thầu, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ còn khả năng làm thầu phụ. Thậm chí nếu đơn vị Trung Quốc trúng thầu, doanh nghiệp Việt Nam khó có khả năng làm thầu phụ, vì nhà thầu nước bạn đã cung ứng hầu như tất cả vật tư, kể cả các bu-lông, ốc vít, và lao động phổ thông.
    "Đối với các gói thầu với quy mô nhỏ, việc soạn thảo hồ sơ mời thầu có phần mềm hơn. Một số doanh nghiệp Việt Nam đủ điều kiện để dự thầu lại vướng phải các vấn đề chi phí lập hồ sơ đúng tiêu chuẩn và 'chi phí quan hệ' vô cùng lớn", ông Thành nói.
    Ông Thành nhấn mạnh, chính việc thất thoát chi phí công có khi lên tới 30%, chi phí quan hệ của Việt Nam lớn đã tạo ra thất thế cho hàng nội hiện nay.
    Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong, nhà nước cần có quy định cụ thể hơn trong cơ chế đấu thầu, khuyến khích các doanh nghiệp dùng hàng nội. Các chỉ tiêu của hàng Việt cần phải được quy định rõ ràng trong các văn bản, bởi thực tế chưa có tiêu chí rõ ràng về hàng nội và hàng ngoại. Ông Phong minh họa, không ít mặt hàng sử dụng linh kiện ngoại, nhưng lắp ráp ở Việt Nam vẫn được nhiều người coi là hàng nội.
    Các chuyên gia kinh tế tham dự hội thảo này cũng bày tỏ, việc sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước không được quan tâm đúng mức, khiến hàng hóa nước ngoài thường được ưu tiên sử dụng và doanh nghiệp ngoại có cơ hội thắng thầu. Khi gói thầu lớn rơi vào doanh nghiệp nước ngoài, Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ nhập siêu ngày càng lớn hơn. Trong khi đó, nhập siêu là vấn đề lớn nhất của kinh tế trong nước năm 2010.
    Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, 7 tháng qua, nhập siêu hàng hóa đạt 7,4 tỷ USD, bằng 19,4% kim ngạch xuất khẩu. Nhập siêu trong tháng 7 ước tính đạt 1,15 tỷ USD, chiếm 19,8% kim ngạch xuất khẩu, con số này khiến nhiều người lo ngại khi cận kề mức cho phép 20% (chỉ tiêu mà Chính phủ đặt ra). Trong đó, nhập siêu về máy móc lên tới 60-70% tổng cơ cấu nhập siêu.
    Hoàng Lan
  5. phikhonglo

    phikhonglo Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa Not Official

    Tham gia ngày:
    07/03/2010
    Đã được thích:
    48.318
    Xử lý nghiêm cái con từu.

    Nếu kết thúc vụ này mà có ông bị xử bắn thì em mới tin.

    Việt nam mình vẫn chưa bỏ được chuyện thành tích cá nhân, trách nhiệm tập thể. Mà tập thể thì ko phải là cá nhân ai cả :))
  6. kaka55

    kaka55 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/06/2009
    Đã được thích:
    0
    và rồi .....................

    'Trung Quốc có thể dùng quân sự trong vấn đề Biển Đông'
    Cập nhật lúc 16:06, Thứ Sáu, 30/07/2010 (GMT+7)
    ,

    Dẫn bản tin trên trang nhất tờ nhật báo Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) ngày 29/7, Tân Hoa xã cho hay, cuộc tập trận diễn ra hôm 26/7, với sự tham gia của nhiều nhóm tàu chiến, tàu ngầm và máy bay chiến đấu.
    VietNamNet giới thiệu bài viết dưới đây như một tư liệu tham khảo. Mời bạn đọc cùng thảo luận
    PLA "sẵn sàng cho các cuộc đụng độ quân sự lớn"
    Theo kịch bản diễn tập, tàu chiến và tàu ngầm thuộc Hạm đội Biển Đông của hải quân Trung Quốc bắn tên lửa dẫn đường nhằm vào các mục tiêu trên biển, trong khi máy bay chiến đấu thực hiện kiểm soát không phận. Tuy nhiên, bản tin không nói rõ địa điểm chính xác của cuộc tập trận cũng như số tàu chiến tham gia.
    Giám sát cuộc tập trận này có Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, Trần Bỉnh Đức. Ông Đức cho biết, PLA đang theo dõi chặt chẽ các diễn biến và chuẩn bị "sẵn sàng cho các cuộc đụng độ quân sự lớn".
    [​IMG]Ảnh: xinhuanet.comCuộc tập trận diễn ra chỉ ba ngày sau khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố tại Diễn đàn an ninh khu vực (ARF), rằng Mỹ có lợi ích quốc gia trong “việc tự do đi lại, tự do đi vào vùng biển chung của châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông".
    Biển Đông được đánh giá là chứa nhiều tài nguyên như dầu khí và đá cháy, có nhiều tuyến hàng hải quan trọng và là nơi đang tồn tại những tranh chấp về chủ quyền.
    Theo tờ Văn hối báo của Hồng Kông dẫn quan điểm của các chuyên gia quân sự Bắc Kinh, cuộc diễn tập và phát biểu của ông Đức cho thấy, PLA sẽ dùng biện pháp quân sự trong vấn đề Biển Đông trong tương lai, đồng thời cũng để thể hiện sức mạnh quân sự nhằm hậu thuẫn cho các biện pháp ngoại giao.
    Quân đội Trung Quốc trong thời gian gần đây tiến hành một loạt tập trận trên biển hoặc ở duyên hải. Đầu tháng này, PLA tập trận bắn đạn thật trên vùng biển Hoa Đông. Báo chí Trung Quốc hôm qua cũng tiết lộ hai cuộc diễn tập ở gần Hoàng Hải.
    [​IMG]Tập trận có sự tham gia của nhiều nhóm tàu chiến, tàu ngầm và máy bay chiến đấuTân Hoa xã dẫn lời chuyên gia quân sự Lưu Giang Bình cho biết, sở dĩ quân đội Trung Quốc gần đây tiến hành nhiều cuộc diễn tập như vậy là vì sức ép quân sự đối với Trung Quốc đang tăng lên, nên nước này cần nâng cao số lần cũng như mức độ huấn luyện.
    Chùm ảnh trên Xinhuanet.com về tập trận của Trung Quốc:
    [​IMG][​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG][​IMG]

    • [*]Quỳnh Anh (theo Xinhua)
  7. luckiemnam

    luckiemnam Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    16/04/2010
    Đã được thích:
    2.656
    cùng lắm là cách chức thôi chứ bắn gì,nếu bắn thì nó vác tải tiền ra nó đỡ đạn nào bắn thủng được^:)^^:)^^:)^
  8. ddonasa

    ddonasa Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    31/12/2008
    Đã được thích:
    0
    Giá điện rẻ thì các nhà máy toàn mua công nghệ TQ về dùng, vì công nghệ TQ tiêu thụ nhiều điện năng. Nếu giá điện cao thì chẳng ai dám dùng công nghệ TQ nữa
  9. kaka55

    kaka55 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/06/2009
    Đã được thích:
    0
    Thông tư 13: "Giọt nước làm tràn ly chứng khoán"

    12/08/2010 | 16:05:00
    Từ khóa : Chính sách, Ngân hàng, Chứng khoán, Thông tư 13, Hệ số rủi ro.


    [​IMG] EMAIL [​IMG] PRINT var addthis_pub = "vietnamplus";[​IMG] SHARE CỠ CHỮ A A A

    [​IMG] Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)



    TIN MỚI NHẬN


    Theo đánh giá của các chuyên gia trên thị trường chứng khoán, Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng đã gây tác động cộng hưởng tới tâm lý vốn đang rất yếu ớt của thị trường, như "giọt nước làm tràn ly".

    Bỏ qua mọi dự báo phân tích của giới chuyên gia, chỉ trong bốn phiên giao dịch của tuần này (9/8 - 12/8), VN-Index bất ngờ rơi tự do đến 34,42 điểm, phá tan mọi ngưỡng hộ trợ kỹ thuật trở về mức 448 điểm, đây cũng là ngưỡng thấp nhất kể từ đầu năm 2010 đến nay.

    Một trong những nguyên nhân khiến giới đầu tư vội vã tháo chạy khỏi thị trường được các chuyên gia nhắc đến là những tác động của Thông tư 13.

    Thông tư này được ban hành từ tháng 5/2010 và đã có những tác động ngay đến các ngân hàng, khiến họ phải lên kế hoạch thu xếp lại nguồn vốn tự có qua việc thoái bớt vốn hay quyết định rút lui không rót thêm vốn cho các đợt phát hành cổ phiếu tăng thêm tại các tổ chức tín dụng khác trong năm nay. Điều này cũng đồng nghĩa với việc thị trường chứng khoán phải đón nhận một lượng cung cổ phiếu ngành tài chính tương đối lớn.

    Ngoài ra, những nội dung tại điểm a và b khoản 5.6 của Thông tư quy định các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán, cho vay các công ty chứng khoán có hệ số rủi ro bằng 250% sẽ tác động hạn chế dòng tiền tín dụng chảy vào thị trường chứng khoán.

    Những vấn đề trên đang gây ra áp lực tâm lý lớn cho các công ty chứng khoán và nhà đầu tư trên thị trường trong những ngày gần đây.

    Tuy nhiên một câu hỏi được đặt ra, Thông tư 13 đã có từ lâu nhưng tại sao tới tận thời điểm này các thành viên trên thị trường chứng khoán mới tỏ ra băn khoăn về nó?

    Lý giải điều này, nhiều chuyên gia cho rằng trong thời gian qua, diễn biến thị trường chứng khoán lình xình kéo dài nên phần lớn các thành viên trên thị trường không chú trọng nhiều đến nội dung của Thông tư, mà chỉ đơn thuần cho rằng nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các ngân hàng từ 8% lên 9% sẽ không tác động lớn đến nguồn vốn vào thị trường.

    Chị Trần Thị Thủy, một nhà đầu tư "lướt sóng" tại Hà Nội cho biết, thời gian trước chị cũng như nhiều nhà đầu tư khác cùng sàn thậm chí là không biết có những chính sách trên.

    “Thị trường hoạt động èo uột, rất khó chơi, càng đầu tư càng lỗ vì vậy các nhà đầu tư có xu hướng rút vốn ra làm việc khác, giao dịch mua bán cầm chừng nên ít ai mặn mà quan tâm đến dòng vốn tín dụng ngân hàng,” chị Thủy bộc bạch.

    Tuy nhiên không giống như các nhà đầu tư nhỏ lẻ, đối với các nhóm “đội lái” thông tin là vũ khí thiết yếu trong đầu tư thì Thông tư 13 ngay từ khi mới ra đời cũng đã khiến họ phải mất ăn, mất ngủ.

    Thành viên của một “đội lái lớn” cho biết, thời gian đó họ đã lan truyền cho nhau thông tin về khả năng ngân hàng sẽ thắt chặt tín dụng đối với chứng khoán khi Thông tư 13 có hiệu lực, tuy nhiên không thấy các nhà đầu tư, các chuyên gia trên thị trường và giới truyển thông quan tâm nhiều nên họ cho rằng những chính sách trên không tác động mạnh đến thị trường và nếu có thì nó đã phần nào phản ánh vào giá chứng khoán trong thời gian qua.

    “Theo tôi, thông tin trên không đáng lo ngại, dòng tiền tín dụng chảy vào thị trường sẽ không bị ảnh hưởng, bởi thực tế cho vay chứng khoán lại không ẩn chứa nhiều rủi ro như nhiều loại hình tín dụng khác. Hơn nữa, ngân hàng cũng là một tổ chức kinh doanh, mục tiêu của họ là lợi nhuận nên khi hạn mức tín dụng cho chứng khoán bị cắt giảm họ sẽ tìm làm chui qua kênh cấp tín dụng sản xuất kinh doanh,” thành viên trên tự tin khẳng định.

    Tuy nhiên, khi thời gian gần đây báo chí bắt đầu truyền thông mạnh mẽ về nội dung của Thông tư 13 và những phản ứng của các định chế tài chính với chính sách mới này thì thông tin trên lập tức đã gây sự chú ý của các thành viên trên thị trường chứng khoán.

    Theo ông Nguyễn Tiến Hoàng, Trưởng phòng Marketing Công ty Chứng khoán Quốc tế Hoàng Gia, thị trường chứng khoán yếu và thanh khoản suy giảm có nhiều lý do, như việc các công ty niêm yết tăng thêm vốn ồ ạt và với sự đổ bộ liên tiếp của nhiều cổ phiếu mới niêm yết trên thị trường.

    Ngoài ra, áp lực tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng của các ngân hàng cũng đòi hỏi phải thẩm thấu tới khoảng 40.000 tỷ đồng vốn từ xã hội. Hay vụ đổ bể của Tập đoàn Vinashin cũng gây tác động không nhỏ đến tâm lý thị trường.

    Trong khi dòng tiền dẫn dắt thị trường ngày càng yếu đi, thì các tổ chức lớn, các nhà đầu tư nước ngoài lại bắt đầu bị cuốn vào trào lưu "lướt sóng", đầu tư ngắn hạn khiến cho việc đầu tư vào các mã blue chip bị thiệt hại lớn và ngay cả hoạt động "lướt sóng" cổ phiếu thị giá thấp cũng tạo ra không ít tổn thất cho các nhà đầu tư và cả các “đội lái”.

    “Nên khi ngày 9/8, những kiến nghị bất đồng ý kiến của các thành viên thuộc Hiệp hội Ngân hàng được truyền thông rộng rãi, đã tác động tăng thêm nỗi sợ hãi, kéo theo những phiên tuột dốc không phanh trên thị trường chứng khoán,” ông Hoàng nói.

    Đánh giá về quy định liên quan đến hệ số rủi ro cho vay chứng khoán, ông Nguyễn Thanh Bình, Trưởng phòng Phân tích Công ty chứng khoán Châu Á Thái Bình Dương đưa ra ý kiến, tín dụng cung cấp cho đầu tư chứng khoán được phân ra nhiều loại hình sản phẩm và các cấp độ rủi ro là hoàn toàn khác nhau.

    Hoạt động cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán hoàn toàn không có rủi ro, vì thực chất người mua đã xuất tiền ra khỏi tài khoản. Hay hoạt động cho vay đầu tư trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp không có nhiều rủi ro.

    “Kể cả cho vay đầu tư chứng khoán, thời hạn vay thường rất ngắn và thậm chí là hệ số rủi ro còn thấp hơn so với một số hoạt động tín dụng sản xuất, kinh doanh,” ông Bình khẳng định.

    Ông Hoàng cho rằng, về lâu về dài chính sách nâng mức tỷ lệ an toàn trong hoạt động tín dụng lên 9% sẽ giảm được vốn đầu tư gián tiếp, đi thẳng vào sản xuất kinh doanh và đưa các định chế tài chính Việt Nam tiến gần hơn với các mức chuẩn quốc tế trong khu vực.

    Song đồng tình với ý kiến của các đồng nghiệp, ông Hoàng cũng đưa ra kiến nghị, Ngân hàng nhà nước cần thiết phải phân định chi tiết hơn về các mức tỷ lệ rủi ro cho từng sản phẩm tín dụng chứng khoán khác nhau.

    Với hệ số rủi ro bị đánh đồng lên tới 250%, dòng tiền tín dụng vào thị trường chứng khoán chắc chắn bị giới hạn. Mà, hoạt động hỗ trợ đòn bảy là sản phẩm không thể thiếu trong hoạt động đầu tư chứng khoán. Cứ 10 nhà đầu tư bám sàn thì có tới 9 người có nhu cầu sử dụng đòn bảy theo các cách khác nhau.

    "Như vậy, Thông tư có hiệu lực vào đầu tháng 10, kể cả lúc đó thị trường có tăng trưởng mạnh trở lại thì thanh khoản cũng không bao còn những phiên giao dịch đạt kỷ lục 4.000 – 5.000 tỷ đồng như trong lịch sử,” ông Hoàng nhấn mạnh./.


    Hạnh Nguyễn (Vietnam+)
  10. kaka55

    kaka55 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/06/2009
    Đã được thích:
    0
    các chú khởi nghĩa toi hết chưa ?[-X[-X[-X

Chia sẻ trang này