Điều gì khiến cổ phiếu bất động sản và xây dựng thăng hoa

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi big_hand, 08/05/2017.

1413 người đang online, trong đó có 565 thành viên. 19:07 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 1954 lượt đọc và 15 bài trả lời
  1. Tocxoanftu

    Tocxoanftu Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/06/2016
    Đã được thích:
    2.698
    Đã bao nhiêu chiến sĩ đứt tay vì con LDG này cuối năm 2015 do lái đánh lên mà vẫn chưa tỉnh ngộ
    Phải công nhận sóng BĐS hiệu ứng giờ khá mạnh. Nhưng cần giữ được cái đầu tỉnh táo - đừng quá ham.
  2. hpkt85

    hpkt85 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa Not Official

    Tham gia ngày:
    26/12/2009
    Đã được thích:
    22.867
    mình khg đầu tư LDG ..nhưng tăng gần 500%, đáng nể ! hihi
  3. big_hand

    big_hand Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/12/2014
    Đã được thích:
    32.076
    Bất động sản đang tạo hiệu ứng dây chuyền. Thị trường chung chưa rõ ràng vào mới giờ sợ không đủ T3 đâu.
  4. big_hand

    big_hand Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/12/2014
    Đã được thích:
    32.076
    Có nhiều “nút thắt” đang gây cản trở quá trình tái cơ cấu DNNN một cách hiệu quả, trong đó có yếu tố ưu ái, lợi ích nhóm, kỷ luật chưa nghiêm.

    [​IMG]


    Quá trình sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) dù đã được tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện, nhưng kết quả vẫn còn chậm, chưa đạt yêu cầu. Có nhiều “nút thắt” đang gây cản trở quá trình này rất cần giải pháp để “cởi nút”.

    Sự ưu ái và nhóm lợi ích đang phá DNNN

    Trong suốt thời gian qua, khu vực DNNN vẫn được dành sự “ưu ái” về mọi mặt, thể hiện qua việc các đơn vị chủ quản như Bộ, ngành, chính quyền địa phương vẫn tạo ra những đặc quyền cho các doanh nghiệp của mình. Đó là ưu ái về nguồn vốn, tài nguyên, đất đai, tuyển dụng nhân lực... Do được “cưng chiều”, không phải tự cạnh tranh công bằng với các thành phần kinh tế khác nên các DNNN ít có sự sáng tạo.

    "Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cho rằng: “khi chúng ta dành cho DNNN những lợi thế đặc quyền thì vẫn còn động lực để người ta níu kéo, chậm tái cơ cấu để hưởng những đặc quyền đó”.

    Ông Trần Quang Nghị, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam nêu thực tế, Nhà nước không quá tạo áp lực về cổ phần hóa ở các Tập đoàn, Tổng công ty lớn, mà chỉ dừng lại ở yêu cầu bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước, chứ không yêu cầu về chỉ tiêu cổ tức, tốc độ tăng trưởng, tiền lương người lao động… Vì vậy, lãnh đạo các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước là những “ông chủ giả” tiêu vốn Nhà nước nhưng lại như “ông chủ thật”.

    “Từ đó tạo ra tâm lý không cần thiết phải đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa để trở thành người làm thuê thật sự, lại phải đảm bảo chỉ tiêu của Đại hội cổ đông giao, ví dụ 10-15% cổ tức chẳng hạn, như vậy áp lực và vất vả hơn nhiều”, ông Trần Quang Nghị nêu ý kiến.

    Nhiều chuyên gia đánh giá, vấn đề về lợi ích đã hằn sâu trong nhận thức của những người quản lý ở DNNN. Đại diện nhiều bộ, ngành, địa phương, nhiều cá nhân đang quản lý DNNN không muốn nhanh chóng cổ phần hóa vì động chạm đến lợi ích cá nhân của họ. Không ít người phụ trách quản lý DNNN, đổi mới DNNN đã cố trình níu kéo để còn có lợi ích gắn liền với chuyện quản lý vốn.

    Ông Nguyễn Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính (VAFI) nêu thực tế, có chuyện lãnh đạo Bộ, UBND tỉnh cử người thân nắm giữ vị trí chủ chốt trong các DNNN sau khi cổ phần hóa để quản lý vốn, hoặc cử cán bộ quản lý không theo năng lực mà dựa vào thân quen, thậm chí diễn ra chuyện mua quan bán chức, làm cho chất lượng quản trị ở nhiều doanh nghiệp kém đi, dù đã được cổ phần hóa. Cũng do năng lực quản trị kém, thiếu giám sát, công khai, minh bạch nên dẫn đến tham nhũng, tiêu cực, đầu tư không hiệu quả như những sự việc bê bối ở PVC, gang thép Thái Nguyên… “Tiến trình cổ phần hóa DNNN diễn ra chậm vì đang bị cản trở bởi các nhóm lợi ích”, ông Nguyễn Hoàng Hải đánh giá.

    Trong thực hiện cổ phần hóa DNNN, không ít người lợi dụng thay đổi chính sách để trục lợi, làm giàu nhanh chóng từ nguồn cổ phần hay đất đai…Thậm chí, người đứng đầu doanh nghiệp cố ý buông lỏng quản lý, để làm ăn thua lỗ trước khi cổ phần hóa nhằm “hạ giá” tài sản nhà nước trong doanh nghiệp, sau đó tìm cách mua bán, thâu tóm cổ phiếu, để người thân trong gia đình nắm vị trí quan trọng trong công ty… Có tình trạng thâu tóm doanh nghiệp với giá rẻ mạt qua giao dịch thỏa thuận, bày đặt đấu giá kiểu “diễn kịch”.

    [​IMG]

    Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, cổ phần hóa nhiều nhưng vẫn chưa có luật về cổ phần hóa, đấy là một kẽ hở lớn. Có nhiều doanh nghiệp nhà nước sau một thời gian cổ phần hóa lại rơi vào nhóm lợi ích. “Không công khai, minh bạch trong quá trình cổ phần hóa đã tạo cơ hội cho nhiều người trục lợi, mua cổ phần ưu đãi rồi giàu lên từ đó”, chuyên gia Lê Đăng Doanh nhận định.

    Kỷ luật chưa nghiêm

    Quá trình cổ phần hóa DNNN thời gian qua, kỷ luật vẫn chưa được thực hiện nghiêm túc. “Đến nay, chưa thấy có vị Chủ tịch, TGĐ doanh nghiệp hoặc Bộ trưởng, Thứ trưởng nào bị cách chức vì không triển khai cổ phần hóa”, ông Nguyễn Hoàng Hải - Phó Chủ tịch VAFI thẳng thắn. Bên cạnh đó, khâu giám sát việc thực hiện cổ phần hóa chưa nghiêm túc.

    Đồng quan điểm, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong đánh giá, hiện nay chế tài cho sự chậm trễ cổ phần hóa chưa thật rõ. Điều này cho thấy những hạn chế trong vấn đề nhận thức, cơ chế cần phải tháo gỡ.

    Bàn về tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020, Đại biểu Quốc hội Phùng Đức Tiến (tỉnh Hà Nam) phân tích, kết quả thực hiện cổ phần hoá DNNN là hết sức chậm, khó khăn. Trong khi đó, nhiệm vụ này đã được đốc thúc trong nhiệm kỳ trước, thậm chí đã có chỉ đạo nơi nào làm chậm thì người đứng đầu bộ, ngành, đơn vị phải chịu trách nhiệm, sẽ mất chức. “Nhưng khi đã hết khoá, việc chậm đã rõ mà vẫn chẳng thấy ai mất chức cả… Câu chuyện vỡ trận tại Vinashin sẽ vẫn còn”, đại biểu Phùng Đức Tiến cảnh báo.

    Như vậy, để đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu DNNN nhanh và thực chất hơn, yêu cầu đặt ra là dần xóa bỏ đặc quyền dành cho DNNN, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh để các DNNN tự lớn lên cũng như tự đào thải theo quy luật của kinh tế thị trường. Đồng thời, có cơ chế, chính sách đồng bộ, thoái vốn Nhà nước một cách công khai, minh bạch; tăng cường kiểm tra, giám sát; gắn cổ phần hóa DNNN với vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; kiên quyết thực hiện kỷ luật nghiêm minh để không tạo kẽ hở cho lợi ích nhóm tồn tại.
  5. big_hand

    big_hand Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/12/2014
    Đã được thích:
    32.076
    Tổng nợ xấu của 10 nhà băng trong quý I đầu năm lên tới 59.375 tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tới 8/10 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng so với đầu năm.

    [​IMG]


    Sau một thời gian khá dài vật lộn với khó khăn, có thể nói quý I/2017 đánh dấu sự trở lại ngoại mục của ngành ngân hàng khi hàng loạt các nhà băng “hân hoan” báo lãi tăng vọt, thậm chí gấp đôi, gấp ba cùng kỳ năm trước như Techcombank hay Eximbank. Một số “ông lớn” khác cũng báo lãi lên tới cả ngàn tỷ đồng như Vietcombank, Vietinbank, BIDV, VPBank,….

    Tuy nhiên, cùng với việc lợi nhuận tăng mạnh, thì nợ xấu tiếp tục là một vấn đề đối với các ông chủ nhà băng.

    Tổng hợp số liệu từ báo cáo tài chính của 10 ngân hàng lớn Việt Nam bao gồm Vietcombank, Vietinbank, BIDV, ACB, Techcombank, MB, SHB, VPBank, Sacombank và Eximbank cho thấy, tổng nợ xấu của 10 nhà băng này trong quý I đầu năm lên tới 59.375 tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tới 8/10 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu gia tăng so với đầu năm, bao gồm Vietinbank, ACB, Techcombank, MB, SHB, VPBank, Eximbank…

    Trong khi đó, tổng nợ nhóm 5, tức nợ có khả năng mất vốn cũng tăng nhẹ 2%, lên 29.501 tỷ đồng. 7/10 ngân hàng có nhóm nợ này gia tăng bao gồm Vietcombank, VPBank, Techcombank, Eximbank, MB, SHB…

    Với tỷ lệ nợ xấu lên tới 4,89% tổng dư nợ, Sacombank đang là ngân hàng dẫn đầu trong nhóm về tỷ lệ nợ xấu, mặc dù con số này đã giảm so với mức 5,35% hồi đầu năm. Về con số tuyệt đối, dù có giảm nhẹ so với đầu năm nhưng Sacombank vẫn là một trong những nhà băng đứng đầu với 10.083 tỷ đồng nợ xấu. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn của ngân hàng ở mức 6.602 tỷ đồng, tương đương 65,5% tổng nợ xấu.

    VPBank đang là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao thứ hai với mức 3,5% tổng dư nợ, tăng khá mạnh so với mức 2,91% hồi đầu năm. Nguyên nhân khiến tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng vượt mức an toàn chủ yếu đến từ “gà đẻ trứng vàng” FE Credit. Đây là công ty tạo ra nguồn lợi nhuận lớn cho VPBank nhưng cũng chính là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng.

    Theo báo cáo riêng của ngân hàng tại ngày 31/3/2017, VPBank đang có 3.361 tỷ đồng nợ xấu, tăng 47,3% so với đầu năm nhưng vẫn ở trong khoảng “an toàn” là 2,86% tổng dư nợ (so với mức 2,03% đầu năm). Tuy nhiên, báo cáo hợp nhất lại cho thấy, nợ xấu của ngân hàng đã lên tới 5.326 tỷ đồng, tăng tới 26,6% so với đầu năm. Trong đó, nợ dưới tiêu chuẩn tăng 29% lên 3.013 tỷ đồng, nợ nghi ngờ tăng 22,3% lên 1.192 tỷ đồng và nợ có khả năng mất vốn tăng 24,9%, lên 1.120 tỷ đồng.

    Đứng thứ ba trong những ngân hàng dẫn đầu về tỷ lệ nợ xấu là Eximbank. Tính đến hết quý I/2017, ngân hàng này đang có hơn 2.589 tỷ đồng nợ xấu, chỉ tăng nhẹ 1,1% so với đầu năm. Tuy nhiên, do hoạt động tín dụng tăng trưởng âm nên đẩy tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng lên mức 3%, so với mức 2,95% hồi cuối năm 2016.

    Xét về con số tuyệt đối, thì 9/10 ngân hàng khảo sát đều có số nợ xấu tăng, trong đó Sacombank có hơn 10.083 tỷ đồng nợ xấu, còn hai “ông lớn” Vietinbank và Vietcombank có số nợ xấu lần lượt là 7.017 tỷ đồng và 7.376 tỷ đồng, tăng 6,3% và 17,4% so với đầu năm.

    Nợ xấu toàn hệ thống có thể cao hơn số báo cáo

    Trước đó, trong dự thảo lần 1 liên quan đến Luật hỗ trợ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho rằng, sau 4 năm thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống TCTD cũng như sau khi có VAMC ra đời, đến nay về cơ bản, việc cơ cấu lại hệ thống TCTD đã đạt được một số kết quả nhất định.

    Theo đó, tính đến cuối tháng 31/12/2016, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống TCTD là 2,46%. Tuy nhiên, quá trình triển khai cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng cho thấy, hệ thống các TCTD còn nhiều tồn tại, hạn chế.

    Cụ thể, hiệu quả kinh doanh của các TCTD chưa cao do hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn, áp lực xử lý nợ xấu, chi phí dự phòng rủi ro lớn.

    Mặc dù tỷ lệ nợ xấu nội bảng đã được kiểm soát ở mức dưới 3% nhưng nếu tính cả khoản do VAMC quản lý, nợ xấu nội bảng và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu thì tỷ lệ nợ xấu có khả năng lên đến 8,86% tổng dư nợ.

    NHNN cũng đánh giá việc xử lý nợ xấu đã có kết quả bước đầu khả quan nhưng pháp luật về xử lý nợ xấu cũng như xử lý tài sản bảo đảm còn nhiều bất cập, thiếu cơ chế đặc thù cho VAMC hoạt động.
  6. big_hand

    big_hand Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/12/2014
    Đã được thích:
    32.076
    Thị trường bất động sản năm 2016 và quý 1/2017 tiếp tục duy trì sự tăng trưởng ổn định…
    [​IMG]


    Tính đến tháng 4/2017, tổng giá trị tồn kho bất động sản còn khoảng 28.369 tỷ đồng, so với quý 1/2013 giảm 100.179 tỷ đồng.

    Giá cả ổn định, tồn kho tiếp tục giảm mạnh – Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà nhận định về thị trường bất động sản, trong báo cáo thực hiện nghị quyết của Quốc hội về hoạt động giám sát chuyên đề, chất vấn.

    Báo cáo này vừa được gửi đến các vị đại biểu Quốc hội khoá 14, trước thềm kỳ họp thứ ba sẽ được khai mạc sáng 22/5 tới đây.

    Theo báo cáo, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nhà ở và thị trường bất động sản đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo lập hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh để kiểm soát, điều tiết các hoạt động của thị trường, bao gồm cả việc tạo lập, giao dịch, xác lập quyền sở hữu, quản lý sử dụng sản phẩm bất động sản, nhà ở, cũng như quản lý các chủ thể tham gia thị trường.

    Bộ trưởng Phạm Hồng Hà đánh giá, các quy định mới của Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và các văn bản hướng dẫn thực hiện đã tạo điều kiện thông thoáng, thuận lợi hơn để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển thị trường bất động sản, nhà ở. Đồng thời đảm bảo yêu cầu tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước để kiểm soát thị trường phát triển ổn định, lành mạnh.

    Đặc biệt, việc hoàn thiện chính sách về phát triển và quản lý nhà ở xã hội là một trong những bước đột phá, góp phần quan trọng tái cấu trúc thị trường bất động sản, tạo điều kiện thuận lợi để các đối tượng chính sách, người nghèo, người thu nhập thấp sớm có điều kiện cải thiện nhà ở, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

    Kết quả, thị trường bất động sản năm 2016 và quý 1/2017 tiếp tục duy trì sự tăng trưởng ổn định. Giá nhà ở trong quý 1/2017 tiếp tục ổn định, một số dự án tại các khu vực gần trung tâm, có hạ tầng đầy đủ, chủ đầu tư có uy tín, triển khai đúng tiến độ, giá chào bán tăng nhẹ từ 1-5% so với cùng kỳ năm 2016.

    Yếu tố thể hiện sự ổn định tiếp theo là thanh khoản tăng. Lượng giao dịch thành công năm 2016 và quý 1/2017 tăng trưởng khá, lượng giao dịch chủ yếu tập trung tại phân khúc căn hộ trung cao cấp, lượng giao dịch căn hộ có diện tích vừa và nhỏ thấp do nguồn cung trong giai đoạn này hạn chế.

    Trong quý 1/2017, theo báo cáo của một số sàn giao dịch bất động sản, tại Hà Nội có khoảng 3.150 giao dịch thành công, tại Tp.HCM có khoảng 3.400 giao dịch thành công.

    Vẫn theo Bộ trưởng, cơ cấu hàng hóa bất động sản nhà ở được điều chỉnh hợp lý hơn, hướng tới nhu cầu thực và khả năng thanh toán thực của thị trường.

    Đến nay, trên địa bàn cả nước đã có 63 dự án đăng ký chuyển đổi từ nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội với quy mô xây dựng khoảng 42.370 căn hộ. Có 96 dự án đăng ký điều chỉnh cơ cấu căn hộ (giảm diện tích) cho phù hợp hơn với nhu cầu thị trường với số lượng ban đầu là 44.700 căn hộ đề nghị điều chỉnh thành 60.000 căn hộ.

    Sau nhận định tồn kho tiếp tục giảm mạnh, báo cáo nêu một số con số đáng chú ý. Như, tính đến tháng 4/2017, tổng giá trị tồn kho bất động sản còn khoảng 28.369 tỷ đồng, so với quý 1/2013 giảm 100.179 tỷ đồng (giảm 77,93%), so với tháng 12/2015 giảm 22.520 tỷ đồng (giảm 44,25%) và so với tháng 12/2016 giảm 2.654 tỷ đồng (giảm 8,55%), so với 20/3/2017 giảm 624 tỷ đồng.

    Tín dụng trong lĩnh vực bất động sản tiếp tục tăng trưởng, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của toàn hệ thống – Bộ trưởng tiếp tục thông tin.

    Cụ thể, tính đến 31/12/2016, dư nợ cho vay trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản là 436.144 tỷ đồng, tăng 11,03% so với 31/12/2015 và tăng 1,92% so với thời điểm 30/11/2016. Tính đến 31/12/2016, dư nợ xấu cho vay đối với lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản là 18.443 tỷ đồng trên tổng dư nợ cho vay trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản là 436.144 tỷ đồng (chiếm 4,23% tổng dư nợ cho vay trong lĩnh vực này).

    Báo cáo nêu rõ, cùng với sự phục hồi và tăng trưởng ổn định của thị trường bất động sản, cơ cấu hàng hóa bất động sản ngày càng đa dạng, phong phú cả về chủng loại và phân khúc sản phẩm, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân và xã hội, cũng như tạo lập cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ phát triển nền kinh tế. Bao gồm: bất động sản nhà ở, bất động sản du lịch, nghỉ dưỡng; văn phòng, các công trình dịch vụ, thương mại; hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp…

    Cơ cấu các chủ thể tham gia thị trường bất động sản từng bước hình thành theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa. Nhiều doanh nghiệp đã định hình và từng bước khẳng định uy tín, thương hiệu trong từng lĩnh vực hoạt động, loại hình, phân khúc sản phẩm bất động sản. Trong đó, có nhiều doanh nghiệp đã chuyển mạnh sang phát triển các dự án nhà ở xã hội, góp phần giải quyết nhu cầu nhà ở cho công nhân, người thu nhập thấp đô thị.

Chia sẻ trang này