Định giá HVG 100 nghìn đồng/cổ phiếu với quá nhiều tin khủng nhất!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi dongtay79, 08/03/2016.

1580 người đang online, trong đó có 632 thành viên. 21:45 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 16309 lượt đọc và 168 bài trả lời
  1. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Giảm quá nhỏ lẽ hè nhau gôm khó quá....:)):)):))
  2. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Phiên hôm qua đúng là phiên hào hứng đầy bất ngờ khi đã tăng 4.74% tương ứng lên 38.23$ đúng là phiên đầy bất ngờ cùng dự đoán khi Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết trong báo cáo Tình trạng Weekly dầu khí của mình rằng các kho dự trữ dầu thô thương mại đã tăng 3,9 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 4. Tại 521.900.000 thùng, các kho dự trữ dầu thô tại lịch sử cấp độ cao cho thời gian này trong năm. Các dữ liệu khiêm tốn cung cấp xây dựng đã được dự kiến bởi các nhà phân tích, một tuần sau khi các kho dự trữ dầu thô tăng vọt hơn 10 triệu thùng.

    Các nhà đầu tư cũng đã phản ứng với một báo cáo từ Reuters rằng Saudi Arabia đang tìm kiếm để bảo đảm các khoản vay 6-8 tỉ đô trong một nỗ lực để ngăn chặn thâm hụt ngân sách và đạt mức cao nhất là $ 100 tỷ USD năm ngoái. Báo cáo đồn đoán rằng Ả Rập Saudi có thể xem xét nhượng bộ hơn nữa với các nhà sản xuất của OPEC và phi OPEC trong một nỗ lực để thúc đẩy giá dầu vượt 50 $ một thùng. Tuần trước, Reuters cho rằng vương quốc tích cực tìm kiếm các khoản vay với tổng trị giá lên đến 10 tỷ $ từ một máy chủ của các ngân hàng đa quốc gia hàng đầu, như các quốc gia vùng Vịnh xem xét một đề nghị mà sẽ yêu cầu nó để đóng băng sản xuất ở mức độ đạt được trong tháng Giêng.

    * Lưu ý cất hết hàng: Dòng P, dòng Bank, dòng BĐS, dòng thủy sản, dòng cao su, dòng Bảo Hiểm....cho mồm dọc chảy ce chơi!

    Dòng P: GAS, PVD, PVS, PVC,...

    Dòng B: VCB, BID, CTG, MBB,...

    Dòng BĐS: IJC, VCG, DIG, ITA, KBC, DXG, SCR,...

    Dòng Bảo Hiểm: BVH, PVI, BIC,...

    Dòng Thủy sản: VHC, IDI, HVG,...

    Dòng Cao su: DLG, VHG, HNG, HAG,...

    Sẽ xanh toàn diện.....:((:((:((
    [​IMG]
    Hôm nay dễ lộ hàng nóng lắm đới!
  3. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Giá tôm thẻ chân trắng tăng cao

    Trước tình trạng người nuôi tôm không mặn mà thả nuôi dẫn đến nguồn cung nguyên liệu cho các doanh nghiệp đang thiếu đã đẩy giá tôm thẻ lên cao.

    Ông Ngô Tấn Pha, hộ nuôi tôm tại xã Phong Điền (huyện Trần Văn Thời, Cà Mau) cho biết, hiện nay giá tôm thẻ chân trắng cao gấp khoảng 1,5 lần năm ngoái. Cụ thể, loại 100 con/kg đang được mua tại ao với giá trên dưới 100.000 đồng/kg, loại 70 con giá 120.000 đồng/kg.

    Giá tôm tăng mạnh, người nuôi phấn khởi. Tại các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau hiện đã vào vụ nuôi chính, bà con đang xuống giống khá nhiều. Tuy nhiên, nhiều người cũng tỏ ra e dè, do thời tiết năm nay nắng nóng khốc liệt, nguồn nước phục vụ nuôi tôm không thuận lợi.
    http://cafef.vn/hang-hoa-nguyen-lieu/gia-tom-the-chan-trang-tang-cao-20160309080534497.chn
  4. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Xuất khẩu tôm sang thị trường Mỹ nhiều khởi sắc

    Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam(VASEP), xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Mỹ năm 2016 dự kiến sẽ khởi sắc nhờ những tín hiệu tích cực từ kết quả thuế chống bán phá giá POR9 và việc kết thúc đàm phán hiệp định TPP.

    Ngày 7-9-2015, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã công bố kết quả cuối cùng rà soát hành chính lần thứ 9 (POR9) thuế chống bán phá giá tôm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam giai đoạn từ 1-2-2013 đến 31-1-2014. Theo đó, mức thuế trung bình 0,91% đã giảm so với kết quả sơ bộ 0,93% công bố hồi tháng 3-2015 và giảm mạnh so với mức thuế 6,37% của kỳ xem xét lần trước POR8.

    Đây là một tín hiệu đáng mừng với xuất khẩu tôm của Việt Nam. Mức thuế POR9 giảm mạnh so với POR8 phần nào giúp tháo gỡ gánh nặng về thuế xuất khẩu cho các DN xuất khẩu tôm.

    Theo số liệu của Tổng cục Hải quan , xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường Mỹ năm 2015 đạt 657 triệu USD, giảm 38,3% so với năm 2014. Còn VASEP cho biết, Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu tôm số một của Việt Nam.

    Tính tới tháng 11/2015, trên thị trường Mỹ, tôm Việt Nam phải cạnh tranh mạnh với tôm Ấn Độ và Indonesia. Ấn Độ tăng 24% khối lượng tôm XK sang Mỹ (gần 124 nghìn tấn), Indonesia tăng 12% (106nghìn tấn), Thái Lan tăng 15% với 65 nghìn tấn, trong khi Việt Nam giảm 22% với 54 nghìn tấn. Việt Nam từ vị trí thứ 4 xuống thứ 5 về lượng tôm cung cấp cho Mỹ.

    VASEP cho biết, giá thành sản xuất tôm cao đang là nguyên nhân chính dẫn tới giá xuất khẩu tôm của Việt Nam cao hơn khoảng 20% so với mặt bằng chung trên thị trường Mỹ. Đồng nội tệ của các đối thủ cạnh tranh với Việt Nam như Ấn Độ, Indonesia, Ecuador, Trung Quốc…phá giá mạnh 15- 30%, trong khi đồng VND chỉ giảm giá nhẹ. Đây được đánh giá là những nguyên nhân chính khiến tôm Việt Nam XK vào Mỹ khó cạnh tranh với các quốc gia nói trên.

    Xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Mỹ năm 2016 dự kiến sẽ khởi sắc nhờ những tín hiệu tích cực từ kết quả thuế chống bán phá giá POR9 và việc kết thúc đàm phán hiệp định TPP. Theo nhận định của VASEP, nhu cầu tôm từ thị trường Mỹ năm 2016 cũng được dự báo sẽ nhích lên do USD tăng giá, giá tôm giảm so với 2 năm trước đây và tăng trưởng kinh tế được cải thiện.
  5. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Hoa Kỳ chính thức kiểm tra cá tra, cá basa Việt Nam từ 15-4!

    [​IMG]
    ảnh minh họa
    (Báo Hải Quan - 10/03/2016) -

    Theo Cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (Nafiqad), Bộ NN&PTNT, từ ngày 15-4 tới, Cơ quan kiểm tra và an toàn thực phẩm (FSIS) - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ sẽ chính thức kiểm tra các lô hàng cá tra, basa của Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ.
    Ngày 1-3 vừa qua, FSIS đã công bố danh sách các doanh nghiệp nước ngoài được phép chế biến xuất khẩu cá và sản phẩm cá họ Siluriformes vào Hoa Kỳ, trong đó có 23 cơ sở của Việt Nam là các cơ sở đang và sẽ xuất khẩu trong danh sách Nafiqad gửi FSIS.

    Ngay sau đó, ngày 7-3, Nafiqad đã có văn bản 376/QLCL- CL1 đề nghị FSIS xem xét, công nhận 22 cơ sở còn lại. Tuy nhiên, 22 doanh nghiệp chưa được FSIS đưa vào danh sách và các doanh nghiệp chế biến cá tra, basa khác có nhu cầu xuất khẩu vào Hoa Kỳ cần gửi hồ sơ, bằng chứng theo hướng dẫn của Nafiqad tại công văn 113/QLCL-CL1 để Nafiqad tổng hợp gửi đăng ký với FSIS.

    Đối với các doanh nghiệp có tên trong danh sách được phép xuất khẩu cá tra, basa sang Hoa Kỳ, Nafiqad yêu cầu doanh nghiệp chủ động rà soát hệ thống tự kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm đảm bảo sản phẩm cá tra chế biến xuất khẩu vào Hoa Kỳ đáp ứng các quy định của thị trường này về hóa chất kháng sinh, kim loại nặng, thuốc trừsâu, vi sinh vật, các quy định về ghi nhãn, thông tin về nước xuất xứ, tên và mã số cơ sở sản xuất…

    Trong quá trình thực hiện nếu có phát sinh vướng mắc đề nghị các doanh nghiệp gửi văn bản về Nafiqad để được hướng dẫn, phối hợp xử lý.

    Trước đó, ngày 2-12-2015, FSIS đã có thư gửi Nafiqad thông báo: Trước ngày 1-3-2016, Nafiqad cần gửi danh sách các doanh nghiệp Việt Nam đang và sẽ tiếp tục xuất khẩu sản phẩm cá thuộc họ Siluriformes (trong đó có cá tra, basa) vào thị trường Hoa Kỳ.

    Nafiqad đã có công văn số 113/QLCL-CL1 thông báo, hướng dẫn các doanh nghiệp đăng ký theo yêu cầu của FSIS. Sau khi tổng hợp, trong 45 cơ sở đã gửi đăng ký, có 23 cơ sở đã gửi đầy đủ hồ sơ, 22 cơ sở được đưa vào phần có nhu cầu xuất khẩu do không cung cấp các hồ sơ, bằng chứng về việc đang và sẽ tiếp tục xuất khẩu.

    Ngày 4-2-2016, Nafiqad đã có công thư số 236/QLCL-CL1 gửi FSIS danh sách 45 cơ sở nêu trên. Trong các cuộc họp với FSIS, Nafiqad đã khẳng định cả 45 cơ sở đều đã được kiểm tra, giám sát đảm bảo đủ điều kiện an toàn thực phẩm phù hợp với quy định của Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm (FDA) thuộc Bộ Y tế Hoa Kỳ, 22 cơ sở có nhu cầu xuất khẩu cá tra, basa vào Hoa Kỳ hiện đang đang tích cực tìm đối tác để xuất khẩu trong thời gian tới.
  6. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    [​IMG]


    Giá cá tra tại Mỹ tăng do quy định mới của USDA
    Thứ 4, 09/03/2016 | 16:31 GTM +07
    (vasep.com.vn) Theo nguồn tin từ Mỹ, giá chào bán cá tra Việt Nam có xu hướng tăng mặc dù hiện nay dấu hiệu chưa rõ nét.
    Đến cuối tháng 2/2016, giá chào bán cá tra tăng 0,10 – 0,15 USD/kg, trước dự đoán về chi phí cho việc điều chỉnh sau khi có quyết định cuối cùng về chương trình thanh tra cá tra, cá da trơn của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA). Quy định mới này sẽ có hiệu lực từ ngày 1/3/2016. Các chủ hàng đều tăng giá vì tốn kém thêm chi phí cho việc tuẩn thủ quy định của USDA.

    Một số container hàng phải tạm lưu lại trong kho lạnh chờ thanh tra gây tốn kém chi phí hậu cần trước khi giao hàng.
  7. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    Nga tăng gấp đôi xuất khẩu trứng cá muối
    Thứ 4, 09/03/2016 | 08:58 GTM +07
    (vasep.com.vn) Theo Bộ Nông nghiệp Nga, năm 2015, Nga đã tăng gấp đôi XK trứng cá muối, với 4,71 tấn trứng cá tầm, so với 1,65 tấn trong năm 2014.
    XK trứng cá tăng nhờ chính phủ Nga đang có chiến lược đẩy mạnh ngành này.

    XK tăng có thể do các tiến bộ trong hoạt động nuôi và sản xuất cá tầm.
  8. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    [​IMG]


    Cơ hội và thách thức của thủy sản Việt Nam khi hội nhập
    Thứ 4, 09/03/2016 | 16:02 GTM +07
    (vasep.com.vn) Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong gần 20 năm qua. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản từ mức thấp 550 triệu USD năm 1995 đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ qua từng năm với mức tăng trưởng bình quân 15,6%/năm và đã đạt 7,8 tỷ USD năm 2014. Quá trình tăng trưởng này đã đưa Việt Nam trở thành một trong 5 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, giữ vai trò chủ đạo cung cấp nguồn thủy sản toàn cầu.
    Năm 2014 XK thủy sản đã tăng mạnh 16,5% nhờ nhu cầu NK thủy sản tăng vọt, nguồn nguyên liệu giảm, giá thủy sản NK tăng. Năm 2015, xu hướng XK đảo ngược khi các yếu tố cung cầu không còn thuận lợi như 2014. Nguồn cung tôm của các nước Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan hồi phục, giá NK trung bình giảm, áp lực cạnh tranh và đồng USD tăng giá mạnh so với các đồng tiền khác khiến nhu cầu NK của các thị trường giảm. Và mục tiêu 8 tỷ USD XK trong năm 2015 đã không thể đạt được. Kim ngạch XK thủy sản năm 2015 chỉ đạt gần 6,6 tỷ USD, giảm 16% so với năm 2014.

    Các yếu tố bất lợi của năm 2015 có thể sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng đến XK thủy sản, ít nhất là trong nửa đầu năm 2016. Tuy nhiên, từ năm 2016, XK thủy sản Việt Nam sẽ được mở rộng cửa hơn nhờ việc Việt Nam tham gia một số hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương.

    Cơ hội cho ngành thủy sản

    Trên góc độ hội nhập và cạnh tranh, việc tham gia các FTA sẽ thúc đẩy sự “thay đổi” của ngành hàng, doanh nghiệp và cả công tác quản lý nhà nước. Sự thay đổi về chất bao gồm từ chất lượng hàng hóa, chất lượng dịch vụ, giá thành và “hình ảnh” nhằm tận dụng tốt các lợi thế và đáp ứng/vượt qua các thách thức mà bản chất các FTA đưa ra để cam kết & tuân thủ.

    Đánh giá thực tế và khách quan, các FTA và TPP sẽ tạo ra cơ hội không nhỏ cho thủy sản Việt Nam. Từ 2016, việc tham gia cộng đồng ASEAN cũng như một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới sẽ được ký kết hoặc bắt đầu có hiệu lực sẽ có những tác động tích cực đến ngành hàng thủy sản trong việc gia tăng đầu tư, mở rộng thị phần, thúc đẩy sản xuất trong nước, tăng hàm lượng chế biến và có nhiều cơ hội phát triển hơn. Ngoại trừ surimi, cá ngừ đóng hộp, thăn cá ngừ và cua là mấy mặt hàng hoặc phải có hạn ngạch (trong EVFTA), hoặc lộ trình giảm thuế dài 7-10 năm, còn lại hầu hết các mặt hàng đều sẽ có mức thuế bằng 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc chỉ lộ trình ngắn 3-5 năm.

    (1) Cơ hội về thuế XNK từ TPP và các FTA với EU, Hàn Quốc & liên minh Á-Âu

    Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm tới 64,4% tổng giá trị XK thủy sản của Việt Nam. Vì thế, sự tham gia của 4 đối tác kinh tế quan trọng trên vào các hiệp định thương mại sẽ đem lại những lợi ích, cơ hội lớn cho XK thủy sản Việt Nam trong thời gian tới. Các nước thành viên tham gia TPP sẽ được giảm hơn 90% các loạithuế XNK hàng hóa. Đó sẽ là tín hiệu tốt cho các DN XK thủy hải sản.

    Hiệp định FTA Việt Nam – Hàn Quốc được ký kết giúp nâng khả năng cạnh tranh của Việt Nam với Trung Quốc, Thái lan và Ecuador (đang phải chịu thuế 20%). Hàn Quốc cam kết cấp hạn ngạch thuế quan 10.000 tấn tôm cho Việt Nam trong năm đầu tiên và đạt 15.000 tấn sau 5 năm với thuế suất NK 0%. Hạn ngạch này có hiệu lực vào đầu năm 2016. Trong khi, cả ASEAN cũng chỉ có chung hạn ngạch 5.000 tấn/năm dành cho 10 nước ASEAN. Cùng với 68 dòng sản phẩm thủy sản (chủ yếu là sản phẩm nguyên liệu chương 03), riêng mặt hàng tôm được cắt giảm thuế 7 dòng bao gồm cả tôm nguyên liệu chương 03 và tôm chế biến chương 16. Mặt hàng cá ngừ và thủy sản khác quy trình cắt giảm theo lộ trình 3-10 năm. Mặt hàng cá tra và mực bạch tuộc hầu như về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực.

    Khi Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam vàLiên minh Hải quan (gồm Nga, Belarus và Kazakhstan) - Hiệp định VCUFTA - đi vào thực thi, thủy sản là nhóm hàng sẽ được hưởng ưu đãi thuế ngay lập tức từ khi Hiệp định có hiệu lực. Hầu hết các sản phẩm thủy sản đều được bỏ thuế ngay khi hiệp định có hiệu lực. Việc khai thông hàng rào thuế quan và mở cửa thị trường Nga hơn sẽ là một yếu tố quan trọng đối với thủy sản Việt Nam vì Nga là đối tác truyền thống đối với sản phẩm cá tra Việt Nam. Trong khi Nga đang áp dụng lệnh cấm NK thực phẩm từ các nước phương Tây và một số nước khác, Việt Nam sẽ có cơ hội đẩy mạnh XK thủy sản để bù đắp thiếu hụt tại thị trường này.

    Với 11 nước thành viên tham gia TPP cùng Việt Nam là: Mỹ, Nhật Bản, Canada, Australia, Singapore, Mexico, Malaysia, Newzealand, Chile, Peru và Brunei đều là những đối tác quan trọng của thủy sản Việt Nam. Năm 2015, ước tính tổng giá trị XK thủy sản sang 11 thị trường này đạt gần khoảng 3 tỷ USD, chiếm 46% tổng giá trị XK thủy sản của Việt Nam.

    Với Nhật Bản trong TPP, tất cả các SP tôm tươi/đông lạnh (HS03) sẽ có thuế 0% (trước: 1-10%) ngay khi Hiệp định có hiệu lực; tôm chế biến (HS16) bị loại trừ khỏi danh mục giảm thuế trong VJEPA. Lợi thế hơnAgentina, Ecuado và Ấn Độ khi 3 nước này không có FTA với Nhật Bản. Lợi thế cộng gộp TPP (12 nước) hơn các nước Thái Lan, Philipines và Indonesia dù 3 nước này đã có cả FTA song phương và đa phương ASEAN với Nhật Bản. Đây cũng là tín hiệu tích cực cho các DN XK hải sản, đặc biệt là DN XK cá ngừ sang Nhật Bản - thị trường đối tác lớn thứ 2 (sau Mỹ) trong 11 nước tham gia TPP bởi trong nhiều năm trước đây thuế suất của Việt Nam đang cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực ASEAN. Theo đúng lộ trình của TPP, Nhật Bản sẽ bãi bỏ thuế NK đối với sản phẩm cá ngừ và cá hồi và mở cửa cho các DN XK thuộc các nước thành viên tham gia tích cực hơn vào thị trường này.

    Với Hoa kỳ trong TPP, các SP tôm tươi/đông lạnh (HS03) đã có thuế MFN 0%, SP tôm chế biến (HS16) có lộ trình 5 năm đưa thuế về 0%. Tuy nhiên, với TPP khi có hiệu lực thì tôm VN có lợi thế cạnh tranh hơn so với 6 nước cạnh tranh chính là Agentina, Ecuado, Ấn Độ, Thái Lan, Phillipines và Indonesia khi 6 nước này không có FTA với Hoa kỳ.

    Việc ký các hiệp định FTA và TPP sẽ là cơ hội cho DN thủy sản Việt Nam mở rộng thị trường. Với năng lực hàng đầu thế giới hiện nay về công nghệ chế biến thủy sản của Việt Nam, DN có thể NK nguyên liệu từ các nước để gia công, chế biến XK sang EU và các nước tham gia TPP. Trung Quốc hiện đang đứng đầu về gia công thủy sản cho nhiều thị trường, nhưng hiện nay đang có xu hướng chuyển dịch từ Trung Quốc sang các nước khác có điều kiện sản xuất và lao động thuận lợi hơn. Vì vậy, đây cũng đồng thời là cơ hội dịch chuyển các nguồn nguyên liệu tốt và khách hàng tốt để các nhà kinh doanh và NK thủy sản từ Mỹ, Nhật Bản, EU lựa chọn Việt Nam để đầu tư.

    Nguồn nguyên liệu hải sản trong nước đang ngày càng thiếu hụt, thuế NK giảm cũng sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho các DN NK cá ngừ, mực, bạch tuộc Việt Nam khi NK từ các nước có năng lực khai thác tốt như Đài Loan, Nhật Bản, Mexico, Peru…

    (2) Có lợi thế cạnh tranh hơn

    Tham gia TPP và các FTA cũng là cơ hội tốt cho thủy sản Việt Nam tăng sức cạnh tranh nhờ sử dụng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất giá rẻ hơn như vận tải, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu vật tư, trang thiết bị; là cơ hội tăng cường hợp tác liên doanh để nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến chuỗi sản xuất hàng giá trị gia tăng…

    Đa số các nước đối thủ với Việt Nam đều chưa ký FTA với các nước đối tác trên nên đây sẽ là lợi thế cạnh tranh về mặt thuế NK cho thủy sản Việt Nam. VD: với thị trường Hàn Quốc, Việt Nam sẽ có lợi thế hơn so với đối thủ cạnh tranh trong ASEAN (Thái Lan, Indonesia, Malaysia) và Trung Quốc. Đối với Liên minh Kinh tế Á – Âu: Việt Nam là nước đầu tiên ký FTA nên có cơ hội cạnh tranh hơn các nước đối thủ.

    Đối với thị trường Mỹ: Việt Nam đều có lợi thế cạnh tranh hơn khi Hiệp định TPP có hiệu lực vì các nước đối thủ như Ấn Độ, Ecuador, Philippine Thái Lan, Indonesia đều không tham gia hiệp định.

    Đối với thị trường EU: các nước đối thủ như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Philippine đều chưa ký FTA song phương mà chỉ được hưởng ưu đãi thuế quan theo GSP. Việt Nam cũng như một số nước đối thủ cạnh tranh như Ấn Độ, Thái Lan, Phillipines, Indonesia rất dễ đạt ngưỡng trưởng thành của GSP trong thời gian tới. Do vậy, khi FTA VN – EU có hiệu lực Việt Nam sẽ có lợi thế so với hầu hết các nước SXXK cạnh tranh.

    Theo đánh giá của các chuyên gia, nhiều DN XK thủy sản Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ các FTA và TPP, tuy nhiên đó chỉ là một mặt của vấn đề. Để bước ra sân chơi lớn, để nắm được các cơ hội, các DN thủy sản phải nhanh nhạy với thị trường, nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm XK để không bị lúng túng trước các rào cản kỹ thuật khắt khe hơn, đồng thời sức cạnh tranh phải cao so với các nước cạnh tranh khác.

    Thách thức với thương mại thủy sản khi hội nhập

    Việc tham gia các hiệp định TPP và FTA mang lại cơ hội về thuế XNK nhưng cũng tạo ra những thách thức cho DN thủy sản liên quan đến các vấn đề như quy tắc xuất xứ, rào cản kỹ thuật, bảo hộ thương mại, sự gia tăng cạnh tranh và vấn đề lao động…

    (1) Nguồn nguyên liệu không ổn định, giá thành sản xuất cao: Trong những năm tới, Việt Nam sẽ tận dụng được nhiều hơn về thuế quan sau khi ký các hiệp định FTA và TPP nếuchúng ta có nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng tốt. Vì hầu hết các dòng sản phẩm nguyên liệu (chương 03) được đưa về 0% ngay khi các hiệp định có hiệu lực, trong khi các dòng sản phẩm GTGT (chương 16) đều phải có lộ trình. Thực tế, nguồn nguyên liệu hiện nay không ổn định do đầu vào sản xuất nguyên liệu như: thức ăn, con giống, hóa chất, kháng sinh đều phụ thuộc phần lớn vào các nguồn cung nước ngoài, các cơ quan quản lý chưa hoặc không kiểm soát được, dẫn đến dịch bệnh, chất lượng kém. Chi phí sản xuất cao hơn so với các nước khác khiến cho giá thành sản phẩm và giá XK cao, làm giảm khả năng cạnh tranh.

    (2) Quy tắc xuất xứ:Về cơ bản, chỉ những sản phẩm đáp ứng các quy tắc xuất xứ của một FTA mới có thể hưởng các mức thuế suất ưu đãi của FTA đó. Tuy nhiên, nhiều DN Việt Nam chưa năm bắt hoặc tận dụng được tốt các ưu đãi của FTA vì tính phức tạp và số lượng lớn quy tắc khiến các DN ngần ngại. Do vậy, thực tế đến nay, với nhiều lý do các DN Việt Nam mới tận dụng được 30% ưu đãi từ FTA. Vì vậy, DN Việt Nam có thể hưởng lợi nhiều hơn về thuế quan nếu được truyền thông và hướng dẫn nhiều hơn, sát sao hơn về áp dụng quy tắc xuất xứ trong hàng XK.

    (3) Rào cản kỹ thuật và bảo hộ thương mại:Với việc tự do hóa thương mại, thủy sản Việt Nam sẽ có lợi về thuế quan, nhưng sẽ là đối tượng để các thị trường áp dụng các rào cản phi thuế quan nhằm bảo hộ ngành sản xuất nội địa hoặc hạn chế NK. Những rào cản như thuế CBPG, thuế chống trợ cấp, các quy định kiểm tra hóa chất, kháng sinh hay chương trình thanh tra riêng biệt (vd. Chương trình thanh tra cá da trơn của Mỹ…đang và sẽ được tăng cường áp dụng.

    Bên cạnh những cơ hội và tích cực trong vấn đề thuế hoặc cộng gộp, các biện pháp SPS – TBT trong TPP/FTAs đặt ra những thách thức không nhỏ đối với ngành thủy sản. Những rào cản dưới dạng quy định kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ hay lao động rất có thể sẽ vô hiệu hóa lợi ích từ việc giảm thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam; Chẳng hạn, những quy định của TPP về quy tắc xuất xứ sẽ gây khó khăn cho một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như thủy – hải sản; còn về môi trường, có những yêu cầu cam kết cấm trợ cấp đánh bắt thủy hải sản có thể gây bất lợi đối với chính sách phát triển của ngành khai thác.

    Do vậy, việc theo dõi và cung cấp thông tin, biến động trên thị trường là rất cần thiết, đồng thời cần có biện pháp xử lý nhanh trước những động thái tạo rào cản thương mại và kỹ thuật tại các thị trường.

    (4) Chịu cạnh tranh mạnh mẽ: Tham gia vào các hiệp định thương mại đồng nghĩa với việc mở cửa và hội nhập hơn nữa vào tất cả các thị trường. Mặc dù, Chính sách của Nhà nước đã có nhiều thay đổi nhằm tạo cơ hội và điều kiện tối đa cho DN nhưng việc tái cơ cấu, cải cách thủ tục hành chính cần thời gian. Đây cũng chính là những rào cản không nhỏ đang giảm sức cạnh tranh của các DN XK thủy sản tại các thị trường NK lớn. Hiện nay, với những ưu đãi về thuế NK nguyên liệu, một số nước đối thủ cạnh canh như: Trung Quốc hay Thái Lan hay các nguồn cung lớn khác như: Bangladesh, Indonesia, Ấn Độ… đang khiến DN thủy sản Việt Nam khó cạnh tranh để có được thị phần tốt hơn.

    (5) Thách thức về vấn đề lao động:Thủy sản là ngành cần lực lượng lao động lớn. Trong khi, thực trạng lao động trong ngành không ổn định. Các ràng buộc và quy định chặt chẽ về lao động từ FTA sẽ tăng thêm thách thức cho các DN chế biến thủy sản.

    (6) Kiểm soát bảo tồn nguồn lợi – IUU(EU & Mỹ);

    (7) Quy định về thủ tục hành chính(cấp phép XK lần đầu tại Trung Quốc; quy trình đánh giá công nhận DN XK của LB Nga ..v.v.)

    (8) Truyền thông bôi nhọ tại các thị trường tiêu thụ thủy sản(đã xảy ra ở: Úc, Italia, Tây Ban Nha, Đức, Ai Cập ..vv.v.)

    (Trích Bài tham luận của VASEP tại Hội nghị Hội nghị Tham tán Thương mại 2016)
  9. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    NAFIQAD đề nghị FSIS công nhận thêm 22 cơ sở đủ điều kiện XK cá tra sang Mỹ
    Thứ 4, 09/03/2016 | 16:52 GTM +07
    (vasep.com.vn) Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD) cho biết, sau khi đã tổng hợp danh sách 45 cơ sở nộp hồ sơ đăng ký XK cá tra sang thị trường Hoa Kỳ cùng với sự đồng ý của Bộ NN và PTNT, ngày 4/02/2016, Cục đã gửi danh sách 45 cơ sở này cho Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), trong đó có 23 cơ sở đang và tiếp tục XK và 22 cơ sở có nhu cầu XK. Tuy nhiên, ngày 01/3/2016, FSIS đã công bố trên website danh sách chỉ có 23 cơ sở được phép chế biến XK cá và sản phẩm từ cá họ Siluriformes sang Hoa Kỳ. 22 cơ sở đang có nhu cầu XK chưa được USDA đưa vào danh sách.
    Ngày 7/3/2016, NAFIQAF đã gửi Văn bản số 376/QLCL-CL1 đề nghị Cục Kiểm tra và ATTP (FSIS), USDA xem xét, công nhận 22 cơ sở còn lại vào danh sách các DN nước ngoài được phép chế biến XK cá và sản phẩm cá họ Siluriformes vào Hoa Kỳ và sẽ có thông báo tới các DN khi có phản hồi từ FSIS. Do vậy, 22 DN chưa được USDA đưa vào danh sách đủ điều kiện XK sang Mỹ cần gửi hồ sơ, bằng chứng theo hướng dẫn của Cục tại công văn 113/QLCL-CL1 để Cục tổng hợp và gửi đăng ký với FSIS.

    Trước đó, ngày 02/12/2015, FSIS đã có công thư gửi NAFIQAD hướng dẫn thực hiện Quy định thanh tra bắt buộc cá và sản phẩm từ cá họ Siluriformes (trong đó có cá tra, basa của Việt Nam XK vào Hoa Kỳ). Theo đó, để việc XK cá tra, basa của Việt Nam vào Hoa Kỳ được tiếp tục trong thời gian chuyển tiếp (từ 01/3/2016 - 31/8/2017), trước ngày 01/3/2016, NAFIQAD cần gửi một số tài liệu pháp lý về việc kiểm soát các sản phẩm cá tra, basa của Việt Nam và danh sách các DN đang và sẽ tiếp tục XK sản phẩm cá thuộc họ Siluriformes vào thị trường Hoa Kỳ.

    Thực hiện yêu cầu của FSIS, ngày 19/01/2016, NAFIQAD đã có công văn số 113/QLCL-CL1 thông báo rộng rãi đến các DN đề nghị đăng ký để lập danh sách theo yêu cầu của phía Hoa Kỳ. Tại Công văn 113/QLCL-CL1, Cục đã hướng dẫn các DN rất cụ thể trong việc đăng ký cũng như nộp các hồ sơ, bằng chứng kèm theo để đưa vào danh sách. Sau khi tổng hợp, có tất cả 45 cơ sở đã nộp hồ sơ, trong đó có 23 cơ sở đã gửi đầy đủ hồ sơ về việc đang và sẽ tiếp tục XK như yêu cầu của FSIS thể hiện qua bằng chứng về việc đã XK trong năm 2015 và các hợp đồng với nhà nhập khẩu Hoa Kỳ trong đó có ghi rõ khối lượng và thời gian giao hàng trong năm 2016. 22 cơ sở còn lại được đưa vào phần có nhu cầu XK do không cung cấp các hồ sơ, bằng chứng về việc đang và sẽ tiếp tục XK như hướng dẫn của công văn 113/QLCL-CL1.

    Trong các cuộc họp với FSIS, NAFIQAD cũng đã khẳng định cả 45 cơ sở trong danh sách đều đã được Cục kiểm tra, giám sát đảm bảo đủ điều kiện an toàn thực phẩm phù hợp với quy định của Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm (FDA) thuộc Bộ Y tế Hoa Kỳ, 22 cơ sở có nhu cầu XK cá tra, basa vào Hoa Kỳ hiện đang tích cực tìm đối tác để XK trong thời gian tới.

    theo thông báo của FSIS tại các buổi làm việc với các cơ quan của Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam, FSIS sẽ chính thức kiểm tra các lô hàng cá tra, basa của Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ từ ngày 15/4/2016 (tính theo ngày lô hàng đến cảng của Hoa Kỳ). Các lô hàng cá tra, basa nhập khẩu vào Hoa Kỳ vi phạm các yêu cầu về ghi nhãn (tên thương mại, khối lượng tịnh) hoặc kết quả kiểm tra điều kiện vệ sinh lô hàng, chỉ tiêu hóa chất kháng sinh không phù hợp quy định của Hoa Kỳ sẽ không được thông quan.

    Trong thời gian chuyển tiếp, để kết quả kiểm tra các lô hàng cá tra, basa nhập khẩu từ Việt Nam do FSIS thực hiện không ảnh hưởng đến quá trình đánh giá tương đương sau này, Cục yêu cầu các DN có tên trong danh sách được phép XK cá tra, basa sang Hoa Kỳ:

    (1) Chủ động rà soát hệ thống tự kiểm soát chất lượng, ATTP đảm bảo sản phẩm cá tra chế biến XK vào Hoa Kỳ đáp ứng các quy định của thị trường này về hóa chất kháng sinh, kim loại nặng, thuốc trừ sâu, vi sinh vật,… theo quy định tại Final Rules (Tham khảo các chỉ tiêu, giới hạn tối đa cho phép, phương pháp kiểm nghiệm do FSIS thực hiện kiểm tra nhập khẩu từ ngày 15/4/2016 tại Phụ lục 3). Ngoài ra, các DN cần nghiên cứu kỹ các quy định về ghi nhãn tại Mục 541 (Part 541) Final Rule và thông tin về nước xuất xứ, tên và mã số cơ sở sản xuất.

    (2) Trong quá trình thực hiện nếu có phát sinh vướng mắc đề nghị các DN gửi văn bản về Cục để được hướng dẫn, phối hợp xử lý.
  10. dongtay79

    dongtay79 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/01/2016
    Đã được thích:
    6.083
    [​IMG]


    Ấn Độ: Giá tôm biến động do thiếu nguyên liệu
    Thứ 4, 09/03/2016 | 12:28 GTM +07
    (vasep.com.vn) Giá tôm Ấn Độ giảm khiến người ta lo ngại thị trường tôm năm nay vẫn tiếp tục phải đối mặt với khó khăn giống như năm 2015. Năm 2015, người nuôi giảm tỷ lệ thả nuôi, dẫn tới thiếu nguyên liệu và gây ra những biến động trên thị trường.
    Trong tuần từ ngày 22/2/2016, giá chào bán bởi do các nhà XK tôm ở Kerala ổn định ở mức 490 rupee đối với cỡ 40 con, 440 rupee đối với cỡ 50 con và 250 rupee với cỡ 100 con.

    Các nhà XK này đã mua nguyên liệu còn lại từ các ao sau vụ đông. Người nuôi có thể hoãn thả nuôi trong vụ hè do virut đốm trắng xuất hiện nhiều ở một số ao còn lại từ vụ đông. Do vậy, người nuôi quyết định chờ thời tiết ấm hơn trong tháng 3 mới thả nuôi.

    Để thu hoạch được tôm cỡ 30 con, nhiều người nuôi có khả năng giảm mật độ thả nuôi để tôm có thể phát triển tới cỡ lớn nhất.

    Trong tuần đầu của tháng 3, thị trường biến động và giá giảm khoảng 20-30 rupee đối với tất cả các cỡ.

    Một nguồn tin khác cho biết, giá tôm giảm đối với cỡ 30, 40, 50 và 60, cỡ nhỏ hơn giá vẫn ổn định.

    Tôm có giá 530 rupee đối với cỡ 30 con, 470 rupee đối với cỡ 40 con, 410 rupee đối vỡi cỡ 50 con, 370 rupee đối với cỡ 60 con. Tôm cỡ nhỏ hơn giá vẫn ổn định trong vòng 1 tháng nay, cỡ 70 con có giá 340 rupee, 80 con có giá 310 rupee, 90 con có giá 280 rupee và cỡ 100 con có giá 250 rupee.

    Nhu cầu từ thị trường Mỹ vẫn ảm đạm, khiến giá tôm cỡ 30-60 con có xu hướng giảm. Thị trường này chủ yếu nhập tôm cỡ 40, 50 và 60 con.

    Nhu cầu từ Trung Quốc chưa tăng khi các nhà NK đang cân nhắc các yếu tố nguồn cung và giá cả. Một số nhà cung cấp Ấn Độ cho biết, một số đơn hàng từ thị trường này sẽ được thực hiện trong 2 tuần tới.

    Cần ổn định lại thị trường

    Thị trường cần ổn định lại nếu không năm 2016 sẽ lặp lại khó khăn của năm 2015 do người nuôi ngừng thả nuôi trong tháng 8/2015 do giá thấp.

    Tháng 12/2015, các nhà chế biến tôm Ấn Độ mong chờ nguồn cung nguyên liệu ổn định vì họ phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các đối thủ và giá tăng nhanh do thiếu nguồn cung.

    Giá tháng 12 tiếp tục tăng khi các nhà XK xác nhận rằng sự cạnh tranh để đáp ứng các hợp đồng càng ngày càng tăng.

    Nửa đầu năm 2015, giá khá thấp do vậy một số người nuôi quyết định giảm mật độ thả nuôi.

    Ảnh hưởng của mưa kéo dài và lũ lụt cũng gây thiệt hại cho các vùng nuôi ở các bang Andhra và Tamil Nadu, và nguồn cung nguyên liệu vẫn ở mức thấp thời điểm cuối năm 2015.

Chia sẻ trang này