Đồng hành cùng bạn bè. ( Phần 2 )

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi Khavienthanh, 17/12/2014.

Trạng thái chủ đề:
Đã khóa
2166 người đang online, trong đó có 866 thành viên. 15:57 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 870409 lượt đọc và 22308 bài trả lời
  1. snackone

    snackone Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    22/07/2014
    Đã được thích:
    40.421
    M&A Ngân hàng 2015: Khoảng lặng trước bão
    Nguồn tin: Nhịp cầu đầu tư | 12/01/2015 6:29:37 SA




    [​IMG]
    2015 là năm triệt để xử lý các ngân hàng yếu kém. Cuộc tái cấu trúc ngành ngân hàng lần thứ hai sẽ tiếp diễn.

    Đã hơn 6 tháng kể khi công bố sáp nhập với Ngân hàng Phát Triển Mekong (MDB) tại kỳ đại hội cổ đông của Ngân hàng Hàng Hải (Maritime Bank), nhưng có vẻ như những người chủ ở cả 2 ngân hàng này vẫn chưa thể kết thúc mọi thứ nhanh chóng trong năm 2014. Sự im ắng ở Maritime Bank cũng là điều diễn ra trên thị trường mua bán - sáp nhập (M&A) ngân hàng trong năm qua, khác với những dự đoán nhộn nhịp từ đầu năm. Trước một cơn bão lớn, thường có những khoảng lặng. Đó có phải là điều sắp diễn ra trên thị trường M&A ngân hàng?

    Quay lại thời điểm nửa đầu năm 2014, không chỉ có Maritime Bank, đại hội cổ đông của các ngân hàng khác cũng công bố kế hoạch sáp nhập, dù chưa nói rõ đối tượng là ai. Trong số đó có những ngân hàng lớn như Sacombank, Eximbank và cả các ngân hàng nhỏ hơn như Đông Á, PGBank, VietABank…

    Tuy vậy, cho đến nay, thị trường vẫn chưa chứng kiến được thương vụ đình đám nào diễn ra, dù cho từ hồi đầu năm Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã lên tiếng về việc Ngân hàng Nhà nước có thể xử lý 6-7 ngân hàng thông qua hợp nhất và sáp nhập.

    Lý giải cho sự trầm lắng này, theo chia sẻ của lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước trên một tờ báo kinh tế gần đây, đó là vì hoạt động của các ngân hàng yếu kém đã có sự cải thiện rõ rệt và những ngân hàng này không cần thiết phải sáp nhập trong giai đoạn này vì sẽ không “được giá”.

    Thực vậy, tình hình thị trường ngân hàng đã thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn trong năm qua: các ngân hàng dồi dào hơn về thanh khoản, thị trường liên ngân hàng được lập lại trật tự, lãi suất ngân hàng đang có xu hướng giảm.

    Trước đây, do một số ngân hàng yếu về thanh khoản và gây rủi ro đến hệ thống nên cần được sáp nhập sớm để trở nên khỏe mạnh hơn. Còn hiện nay, ngoại trừ trường hợp Vietcombank đứng ra hỗ trợ thanh khoản trực tiếp cho Ngân hàng Xây dựng khi xảy ra sự cố thì nguy cơ đổ vỡ hệ thống đã giảm đi nhiều. Khi nguy cơ giảm đi, hoạt động M&A giữa các ngân hàng cũng trở nên im ắng.

    Thế nhưng, gần kết thúc năm 2014, thị trường M&A ngân hàng lại sôi nổi trở lại với các thông tin chính thức tiếp tục được công bố, trong đó nổi bật nhất là Vietcombank. Ngân hàng này vừa công bố sẽ chính thức sáp nhập với một ngân hàng khác, sau những lần úp mở ở kỳ đại hội cổ đông hồi tháng 4.2014.

    Động thái công bố lần này cho thấy Vietcombank đang bước gần hơn đến điểm chốt của thương vụ. Và nếu thành công, đây sẽ là thương vụ hợp nhất đầu tiên của một ngân hàng thuộc sự chi phối của Nhà nước sau những trục trặc trong hệ thống ngân hàng từ năm 2010. Vậy đối tượng của Vietcombank sẽ là ai?

    Có 2 lý do để Ngân hàng Nhà nước đồng ý chủ trương cho các ngân hàng lớn trong những thương vụ sáp nhập: “kèm cặp” các ngân hàng yếu kém, hoặc để tăng quy mô của ngân hàng trong hệ thống. Trong trường hợp của Vietcombank, thị trường đồn đoán rằng SaigonBank sẽ về với Vietcombank. Nhưng nếu đặt mục tiêu xây dựng ngân hàng có quy mô lớn, các đối tác khác sẽ hấp dẫn hơn.

    Giả sử sáp nhập Eximbank với Vietcombank thì sẽ tạo ra một ngân hàng mới có quy mô tài sản vượt cả VietinBank, ngân hàng đang có quy mô vốn điều lệ lớn nhất hệ thống. Hiện tại, Vietcombank đều có sở hữu cổ phần ở cả SaigonBank (tỉ lệ nắm giữ 4,03%) lẫn Eximbank (8,19%).

    Không chỉ Vietcombank, trước đó, VietinBank được cho là đang tìm hiểu PGBank, còn Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng được kỳ vọng sẽ sáp nhập, nhưng chưa rõ đối tượng là ai.

    Ở khối ngân hàng tư nhân, việc “kèm cặp” các ngân hàng yếu kém cũng đang được thực hiện. Nổi bật nhất là Sacombank với thương vụ sáp nhập Ngân hàng Phương Nam. Tại hội nghị tổng kết ngân hàng năm 2014 ở Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM, ông Nguyễn Phước Thanh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, cho biết nếu như năm 2013-2014, việc thực hiện tái cơ cấu là tự nguyện thì đến năm 2015 sẽ là bắt buộc. Trong đó, sẽ bắt đầu bằng thương vụ sáp nhập giữa Sacombank và Ngân hàng Phương Nam, theo sau là các ngân hàng khác với chủ trương các ngân hàng chịu sự chi phối của Nhà nước sẽ kèm cặp các ngân hàng yếu kém.

    Trở thành một ngân hàng có quy mô lớn hơn dường như có ý nghĩa quan trọng đối với các cơ quan quản lý ở thời điểm này. Chia sẻ với báo giới, ông Thanh cho biết trong năm 2015 sẽ là năm triệt để xử lý các ngân hàng yếu kém; ngành ngân hàng sẽ tiếp tục cuộc tái cấu trúc lần thứ hai, gom các ngân hàng về một mối để tạo thành những ngân hàng có quy mô lớn hơn.

    Rõ ràng, có nhiều lý do để tin rằng năm 2015, M&A giữa các ngân hàng sẽ bùng nổ, sau giai đoạn tích lũy và dồn sức trong năm 2014. Đây cũng là năm cuối cùng trong giai đoạn 2011-2015 trong đề án 254 về tái cấu trúc các tổ chức tín dụng.

    Thanh Phong
    Bulava, Binh Yen, kevin pham7 người khác thích bài này.
  2. snackone

    snackone Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    22/07/2014
    Đã được thích:
    40.421
    Bài toán vốn ở Ngân hàng Việt Á
    Nguồn tin: Nhịp cầu đầu tư | 12/01/2015 6:32:22 SA

    [​IMG]
    Con đường đến hội sở của Ngân hàng Việt Á (VAB) của người dân Sài Gòn sẽ xa hơn, khi ngân hàng này quyết định di dời trụ sở chính ở Nguyễn Công Trứ, quận 1, TP.HCM - con đường mệnh danh là Phố Wall Sài Gòn - ra... tận Hà Nội. Không chỉ di dời trụ sở, Việt Á cũng dự kiến thay đổi cả thương hiệu nhận diện của Ngân hàng. Những động thái này được xem là bước đi tái cấu trúc giống với Ngân hàng Quốc Dân (Navibank trước đây). Cả hai ngân hàng nhỏ này đều có điểm chung là đang phải gồng mình tái cấu trúc trong bối cảnh ngành ngân hàng vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

    Với vốn điều lệ chỉ vỏn vẹn gần 3.100 tỉ đồng, Việt Á đang im lặng bỗng trở nên ồn ào hơn vào dịp cuối năm với hàng loạt thương vụ thoái vốn đầu tư gần như cùng thời điểm. Trong khi đó, có nhiều cơ sở để các cổ đông Việt Á lo ngại về tình hình hoạt động trong năm nay của ngân hàng mình.

    Rút lui

    Ở thời điểm cuối năm 2014, Việt Á công bố thoái vốn khỏi những cổ phiếu mà ngân hàng này có tỉ lệ sở hữu cao. Trong số đó là 3,99% vốn ở Công ty Cổ phần Đất Xanh (DXG), 11% vốn ở Công ty Cổ phần Công viên nước Đầm Sen (DSN) và 3,91% cổ phần ở Gỗ Trường Thành (TTF). Cuộc rút lui này được xem là khá đặc biệt, vì Việt Á vốn gắn bó với những công ty này đã lâu.

    Trước đó, Việt Á đã trở thành cổ đông chiến lược của các công ty nói trên, sau khi nắm giữ lượng lớn cổ phiếu ở giai đoạn khoảng năm 2012. Và Ngân hàng đều có người đại diện trong các công ty này. Ông Phạm Duy Hưng, cố vấn Hội đồng Quản trị của Việt Á, cũng đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Công ty Công viên nước Đầm Sen.

    Tại Gỗ Trường Thành, Việt Á có ông Trần Việt Anh, Phó Giám đốc Khối quản lý rủi ro, cũng đồng thời giữ ghế thành viên Hội đồng Quản trị công ty này. Bà Bùi Thị Kim Tuyền, Phó Trưởng phòng Đầu tư Việt Á, giữ vai trò Trưởng Ban kiểm soát Gỗ Trường Thành.

    Bên cạnh đó, Việt Á còn có mối quan hệ tín dụng với những công ty nói trên. Chẳng hạn như khoản vay dài hạn 69,4 tỉ đồng với Đất Xanh để đầu tư dự án Sunview Town, theo báo cáo tài chính hợp nhất quý III/2014, hay hạn mức tín dụng 400 tỉ đồng để hỗ trợ cho Gỗ Trường Thành tái cấu trúc trong giai đoạn hiện nay.

    Vậy tại sao Việt Á lại quyết định bán cổ phần ở các công ty này? Theo lý giải của Ngân hàng, mục đích là để cơ cấu danh mục đầu tư. Đây cũng là chuyện bình thường, nhất là khi khoản đầu tư không hiệu quả, nhưng việc bán hết cùng lúc liệu có lý do nào khác?

    Trường hợp của Gỗ Trường Thành có lẽ dễ giải thích hơn vì công ty này hoạt động không mấy hiệu quả trong vài năm gần đây (lợi nhuận trước thuế của Gỗ Trường Thành đều âm trong năm 2012 và 2013. Nhưng đến quý III/2014, lợi nhuận đã được cải thiện đáng kể, ở mức 65,1 tỉ đồng).

    Tuy nhiên, theo ông Võ Trường Thành, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Gỗ Trường Thành, việc thoái vốn của Việt Á chỉ là vấn đề “kỹ thuật”. Ông Thành cho rằng động thái của Việt Á là nhằm dọn đường cho quy định mới trong hoạt động tín dụng của ngân hàng (Thông tư 36). “Còn hoạt động cho vay và bảo lãnh tín dụng của Việt Á ở Gỗ Trường Thành vẫn diễn ra như cũ”, ông nói.

    Phần vốn này được cho là chuyển giao cho một tổ chức khác thân hữu với Việt Á. Ông Thành cho biết chưa có danh sách chốt cổ đông chính thức cho kỳ họp đại hội cổ đông vào giữa tháng 1 tới, nên chưa thể khẳng định điều này. Nhưng nếu đúng thì việc chuyển nhượng của Việt Á chỉ là hình thức “chuyển từ tay phải qua tay trái”. Cũng cần nói thêm Gỗ Trường Thành thuộc loại cổ phiếu khó có người mua. Công ty này đang gặp khó khăn về tài chính và cả 2 lần phát hành thêm gần đây đều không thành công.

    Theo tờ trình báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong Đại hội cổ đông năm 2014, Việt Á cho biết việc đầu tư tài chính không hiệu quả là vì chưa có cơ hội để bán những khoản đầu tư không sinh lời. Gỗ Trường Thành có thể nói là khoản đầu tư không sinh lời của Việt Á. Tuy nhiên, điều này chưa hẳn đúng với trường hợp của Đất Xanh và Công ty Công viên nước Đầm Sen.

    Theo Công ty Chứng khoán MSBS, Đất Xanh thuộc loại cổ phiếu tốt mà nhà đầu tư có thể quan tâm khi triển vọng kinh doanh năm 2015 khá khả quan. Trong khi đó, Công ty Công viên nước Đầm Sen cũng được thị trường đánh giá tốt với thị giá lên đến 60.000 đồng/cổ phiếu. Công ty này cũng đang chuẩn bị chia cổ tức bằng tiền mặt với tỉ lệ 16%.

    Tuy nhiên, thông tin mới nhất cho thấy sau khi vừa thoái vốn trong năm 2014, Việt Á đã ngay lập tức mua vào lại số cổ phiếu DSN của Công ty Công viên nước Đầm Sen trong đầu năm 2015. Phải chăng động thái này nhằm phục vụ cho việc làm đẹp sổ sách cuối năm, hay là lý do “kỹ thuật” như ông Thành nói? Dù là vì lý do gì đi nữa, một điều dễ thấy là Việt Á đang kinh doanh chật vật hơn trong năm 2014 và ngân hàng này đang đối mặt với bài toán vốn nan giải.

    Một năm vất vả

    2013 là một năm đẹp với Việt Á khi các chỉ tiêu tăng trưởng đều ở mức tốt, từ tổng tài sản, huy động vốn cho đến dư nợ cho vay, đặc biệt là nợ xấu (chỉ ở mức 2,88%). Nhưng đến năm 2014 ngân hàng này dường như không còn duy trì được thế trận, ít nhất là theo báo cáo tài chính hợp nhất (chưa kiểm toán) nửa đầu năm 2014. Điều này thể hiện qua 3 trục trặc lớn của Việt Á. Đó là nợ xấu tăng lên, tăng trưởng huy động vốn bị âm và thất bại trong kế hoạch tăng vốn điều lệ.

    Có thể nói nợ xấu của Việt Á đang quay trở lại. Báo cáo hợp nhất 6 tháng đầu năm 2014 không công bố con số chính xác tỉ lệ nợ xấu, nhưng khoản mục Tài sản có khác (nơi chứa đựng các khoản nợ xấu) đã tăng lên đáng kể sau khi giảm đi trong năm 2013. Cụ thể, xét về con số tuyệt đối, khoản mục này tăng lên 20% trong nửa đầu năm 2014; còn xét về con số tương đối, tỉ lệ tài sản có khác trên tổng tài sản đã tăng từ mức 14,3% lên mức 17,5%.

    Hoạt động huy động vốn của Việt Á cũng đang có vấn đề khi tăng trưởng âm 17,6% (theo báo cáo nửa đầu năm 2014 của các ngân hàng, chỉ có Việt Á và Eximbank là tăng trưởng âm về vốn huy động nhưng Eximbank chỉ âm 3%). Trong khi đó, dòng vốn huy động là yếu tố cực kỳ quan trọng để đảm bảo thanh khoản cho các ngân hàng. Có lẽ để giảm áp lực về vốn, Việt Á đã tăng cường đi vay các ngân hàng khác. Bằng chứng là khoản mục đi vay các tổ chức tín dụng khác đã tăng 79,8% so với thời điểm đầu năm.

    Trong bối cảnh đó, việc tăng vốn điều lệ để bổ sung nguồn vốn mới cho ngân hàng là bắt buộc, đặc biệt đối với những ngân hàng có nhu cầu tái cấu trúc. Năm 2014, Việt Á đặt kỳ vọng sẽ tăng vốn điều lệ lên 4.000 tỉ đồng, nhưng không thành công. Trước đó, mục tiêu tăng lên mức 3.500 trong năm 2013 cũng không đạt được, trong khi lộ trình tăng vốn của Việt Á là đến năm 2015 phải tăng lên mức 5.000 tỉ đồng, theo Nghị quyết của Đại hội cổ đông vừa qua.

    Vẫn còn một năm nữa để Việt Á giải bài toán vốn này. Và 2015 cũng là năm cuối cùng mà Việt Á đặt ra mục tiêu phải hoàn thành việc tái cơ cấu theo đề án đã được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Một phương án khác có thể là hợp nhất hay sáp nhập với ngân hàng khác, theo Nghị quyết của Đại hội cổ đông. Nếu Việt Á tiếp tục gặp khó, đây có lẽ là kết cục của ngân hàng này.

    Thiên Phong
    Bulava, Binh Yen, kevin pham6 người khác thích bài này.
    HoangL0ng2007 đã loan bài này
  3. snackone

    snackone Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    22/07/2014
    Đã được thích:
    40.421
    Kích tổng cầu để đưa nợ xấu xuống dưới 3%
    Nguồn tin: Báo Đầu Tư | 11/01/2015 9:04:19 CH

    [​IMG]
    Để đạt được mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 3% trong năm 2015, giải pháp được cho là có tác dụng chính là kích cầu, trong đó có cả kích cầu bất động sản.

    Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, nợ xấu toàn ngành ngân hàng tính đến cuối quý III/2014 chiếm khoảng 4,17% tổng dư nợ toàn nền kinh tế (trừ đi khoản đã xử lý khoảng 210.000 tỷ đồng, tổng nợ xấu còn lại của ngành khoảng 161.000 tỷ đồng, trong đó bao gồm cả nợ xấu mới phát sinh).

    Không ai có thể khẳng định, khi nào sẽ giải quyết được nợ xấu, nhưng TS. Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cho rằng, để giải quyết được nợ xấu, trước hết phải cải thiện được tổng cầu của thị trường, song cần có thời gian.

    “Nếu tập hợp các giải pháp đồng bộ, như kích tổng cầu kinh tế, giảm lãi suất cho những doanh nghiệp có dự án kinh doanh tốt; ngân hàng tiếp tục hy sinh lợi nhuận để tăng trích dự phòng rủi ro; giảm bớt thủ tục hành chính để có thể xử lý được phát mãi tài sản; hình thành thị trường mua - bán nợ, thì tiến độ xử lý nợ xấu sẽ được đẩy mạnh hơn so với hiện nay. Mặt khác, cần thêm cơ chế và trao quyền cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) bán nợ để có điều kiện mua thêm nợ xấu…, mới có thể đạt được mục tiêu kéo nợ xấu xuống dưới 3% trong năm 2015”, ông Lịch nói.

    Thực tế cho thấy, trong 3 năm qua, mặc dù các ngân hàng thương mại đã ra sức xử lý nợ xấu bằng nhiều hình thức khác nhau (thu hồi nợ bằng tiền mặt, cơ cấu, gia hạn, giảm lãi suất, bán nợ xấu cho VAMC, phát mãi tài sản và tăng trích dự phòng rủi ro), nhưng nợ xấu của ngành ngân hàng tiếp tục diễn biến phức tạp theo chiều hướng tăng khi sức mua thị trường và tồn kho chưa cải thiện, tình hình trì trệ của nền kinh tế đã ảnh hưởng đến sức khỏe của doanh nghiệp. Ngành ngân hàng cũng không tránh khỏi khó khăn khi cục “máu đông” nợ xấu chưa thể được đánh tan. Nợ xấu của ngành ngân hàng chủ yếu tập trung ở lĩnh vực bất động sản, vì tài sản thế chấp là bất động sản chiếm 85-90%. Nhưng quá trình xử lý nợ xấu còn nhiều khó khăn và mất thời gian, nhất là để phát mãi được tài sản thế chấp.

    Do đó, giải pháp được cho là có tác dụng đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu chính là kích cầu, trong đó có cả kích cầu bất động sản bằng cách giảm lãi suất, rộng cửa đối với tín dụng lĩnh vực này khi ngân hàng đang từng bước đẩy mạnh cho vay mua nhà.

    “Nếu bất động sản tan băng, sẽ là điều kiện tốt nhất để xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, kỳ vọng thị trường bất động sản ấm lên ngay thì rất khó, kể cả có thêm gói kích cầu”, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính, ngân hàng nói và cho rằng, cần phải hiểu VAMC chính là một công cụ, sáng kiến tốt của NHNN trong việc làm sạch bản cân đối kế toán tạm thời cho ngân hàng. VAMC cũng chỉ mua nợ xấu của các ngân hàng tạm thời, song khó xử lý nợ xấu một cách triệt để. Thực tế, hơn 95.000 tỷ đồng mà VAMC mua lại chưa có đầu ra. Do đó, theo TS. Hiếu, không nên kỳ vọng quá nhiều vào VAMC.

    Trong khi đó, TS. Trương Văn Phước, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia nhận định, mục tiêu đưa nợ xấu của ngành về 3% trong năm 2015 của NHNN cũng có cơ sở, khi mà nền kinh tế đã có những bước phục hồi mạnh mẽ: tăng trưởng năm nay đạt trên 5,9%, lạm phát lại thấp, một số chỉ tiêu khác cũng rất tốt như xuất khẩu, tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại hối tăng, lãi suất giảm…

    Mặt khác, Thủ tướng đã khẳng định trước Quốc hội là, năm 2015, sẽ đưa tỷ lệ nợ xấu về mức 3%. Vì thế, TS. Phước cho rằng, nếu đà phục hồi này được duy trì cùng với việc thực hiện tốt tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu đầu tư công và tiếp tục thay đổi môi trường đầu tư, thì mục tiêu giảm nợ xấu xuống mức thấp 3% là hoàn toàn khả thi.

    Cũng theo TS. Phước, việc VAMC ra đời đã là giải pháp tình thế, nhưng phù hợp với tình hình của Việt Nam. Mặc dù cần thay đổi và tiếp tục hoàn thiện các điều kiện để VAMC có thể thực hiện tốt hơn vai trò, nhưng những gì VAMC thực hiện thời gian qua và thông qua VAMC, nhiều doanh nghiệp đã tiếp cận được trở lại vốn vay.

    Tuy nhiên, các chuyên gia lĩnh vực tài chính, tiền tệ khẳng định, phải tạo lập các quyền hạn nhất định để VAMC có thể hoạt động được một cách hiệu quả như là khả năng giải quyết tài sản đảm bảo của các khoản nợ xấu, cũng như xây dựng thị trường nợ. TS. Trần Du Lịch cho rằng, nếu tăng quyền cho VAMC trong xử lý hành chính, thì việc xử lý nợ xấu mới triệt để.

    Thùy Vinh
    Bulava, Binh Yen, kevin pham6 người khác thích bài này.
  4. snackone

    snackone Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    22/07/2014
    Đã được thích:
    40.421
    Hàng bình ổn: Cách làm phi thị trường, nông dân thiệt nhất
    Nguồn tin: Đất Việt | 12/01/2015 8:47:14 SA

    [​IMG]
    Doanh nghiệp tham gia bình ổn được hưởng lợi nhiều từ bình ổn giá, trong khi hiệu quả đối với nền kinh tế, xã hội lại không nhiều.

    Đó là đánh giá của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan khi trao đổi với Đất Việt về chương trình bình ổn giá của Việt Nam.

    PV: - Việt Nam đã triển khai chương trình bình ổn giá được gần 10 năm với phương thức hỗ trợ một phần vốn ngân sách cho doanh nghiệp không tính lãi hoặc lãi suất thấp, doanh nghiệp sử dụng vốn ưu đãi đó để mua hàng hóa cung ứng ra thị trường với mức giá phải thấp hơn giá thị trường cùng thời điểm 10 - 15%.

    Tuy nhiên, thực tế đã chỉ ra, đây là bình ổn cho người giàu, làm lợi cho khâu trung gian chứ người dân nghèo không được hưởng lợi. Bà có bất ngờ trước thực tế này không và vì sao? Theo bà, nguyên nhân vì sao một chính sách không mang lại hiệu quả lại được duy trì lâu như vậy?


    Bà Phạm Chi Lan: - Xuất phát đầu tiên của bình ổn giá là mong muốn giữ được giá cả không bị tăng lên, nhất là vào những thời điểm mặt bằng giá chung ở Việt Nam bị kéo lên, ví dụ thời điểm Tết đối với hàng tiêu dùng hoặc vào năm học mới đối với đồ dùng học sinh.

    Ý tưởng muốn cho giá cả vào những thời điểm đó không tăng lên, giữ mặt bằng giá chung để cho đông đảo người dân được lợi là tốt tuy nhiên, trong cách làm có nhiều điều không hợp lý.

    Trước hết, sự can thiệp của Nhà nước vào giá cả theo cách nói ở trên không đúng với thị trường. Thông thường, trong kinh tế thị trường, Nhà nước chỉ nên can thiệp vào những mặt hàng lớn, có ảnh hưởng nhiều tới toàn bộ nền kinh tế, còn với những mặt hàng khác, cách tốt nhất để giá không tăng là trước đó xem nguồn cung có đủ so với nhu cầu hay không và có những biện pháp khuyến khích doanh nghiệp (DN) sản xuất, cạnh tranh, cung cấp nhiều hơn sản phẩm chất lượng tốt hơn và giá thành hạ.

    Như vậy sẽ ổn định được giá chứ không nhất thiết phải trợ giá cho một số DN nào đó dù là bằng hình thức cho vay không lấy lãi hoặc là giới thiệu cho các ngân hàng để họ cho vay. Cách can thiệp ấy không mang tính thị trường và chỉ mang lại lợi ích nhất định cho những người tham gia bình ổn giá.

    Nhìn chung, các DN tham gia bình ổn đều đánh giá cao chương trình bình ổn giá, khẳng định nó giúp DN thúc đẩy đầu tư vào sản xuất nhiều sản phẩm hơn cung cấp ra thị trường, chú trọng hơn đến chất lượng sản phẩm, tăng cường thương hiệu, tăng khả năng liên kết giữa các DN cùng làm với nhau hoặc với ngân hàng sau này để có thể vay vốn khi các địa phương không cung cấp trực tiếp vốn nữa.

    Tuy nhiên, cũng có một số DN cho rằng, chương trình bình ổn giá thực hiện đã lâu và có giá trị lịch sử nhất định của nó, còn thế nào nó cũng phải thay đổi, sắp xếp lại trong tương lai, nhất là khi Việt Nam chuẩn bị hội nhập quốc tế trong 1, 2 năm tới. Lúc bấy giờ mở cửa, hàng hoá nước ngoài vào thì sức đâu Nhà nước bình ổn được theo cách đó. Nếu làm tiếp theo cách nói trên sẽ bị thổi còi ngay vì vi phạm cạnh tranh trên thị trường.

    Chính các DN được tham gia bình ổn giá và được hưởng lợi từ chương trình này cũng cho rằng, cách căn cơ hơn, nhất là đối với các mặt hàng lương thực thực phẩm là rổ hàng quan trọng của Việt Nam, nên quan tâm tới bình ổn giá đầu vào cho nông dân để họ đỡ thiệt thòi.

    Các DN thừa nhận rằng, nông dân vẫn là người bị thiệt nhất kể cả khi Nhà nước bình ổn giá gạo bởi người tiêu dùng ở đô thị được hưởng bình ổn giá, còn nông dân ở nông thôn thậm chí còn phải bán lúa với giá rẻ và mua gạo với giá đắt. Những điều DN nói hoàn toàn đúng đúng bởi quan tâm đến sản xuất mới là chuyện gốc rễ, nếu không chúng ta chỉ làm từ ngọn mà thôi.

    Một điều nữa các DN cũng thừa nhận là họ chủ yếu cung cấp hàng ở những nơi có hệ thống phân phối rộng rãi, như siêu thị, trung tâm mua sắm ở các khu đô thị hoặc ven đô. Một số DN cho biết, họ có tham gia chương trình đưa hàng Việt về nông thôn và cũng bán được nhưng đây chỉ là chương trình tổ chức ngắn trong những thời điểm nhất thời chứ không nằm trong bình ổn giá.

    Rốt cuộc, những người thu nhập thấp hơn ở khu vực nông thôn không được hưởng, và nếu nói chỉ người giàu được hưởng tức là những người ở đô thị hoặc những người hay mua hàng trong siêu thị được hưởng nhiều hơn là đúng về thực tế. Và như vậy không đúng với mục tiêu bình ổn mặt bằng giá chung trên thị trường và cho những người có thu nhập thấp được hưởng.

    Khi chúng tôi đi điều tra, gặp gỡ các DN ở Cần Thơ và TP.HCM, họ cũng công nhận chương trình bình ổn giá có hiệu quả đối với bản thân DN khi tăng được lượng bán hàng, quan tâm nhiều hơn tới chất lượng, cải thiện chất lượng, cải thiện đầu tư và xây dựng, phát triển thương hiệu, tạo được uy tín với người tiêu dùng.

    Đấy là những cái được rất lớn cho các DN, không phải chỉ bằng tiền bởi số tiền Nhà nước hỗ trợ cho DN họ cũng chỉ tương đương khoảng 15% giá trị tổng số hàng mà họ làm bình ổn giá, những giá trị vô hình DN có được là rất lớn.

    Đó là về góc độ DN tham gia, nhưng cái cần quan tâm hơn là hiệu quả đối với nền kinh tế, xã hội thì lại không nhiều.

    Tất nhiên, có thể lập luận rằng vì có hàng bình ổn nên những hàng khác cũng phải chú ý không dám bán cao. Nhưng cái đó chưa có chứng minh rõ ràng, trừ khi bình ổn trên diện thật rộng. Hàng bình ổn có tỷ lệ không cao thì không thể nói nó tác động tới toàn bộ mặt bằng giá cả ở Việt Nam. Thực tế, mặt bằng giá ở Việt Nam mấy năm qua bị tăng liên tục do lạm phát, chỉ năm 2014 chiều hướng tăng giá mới có vẻ đỡ hơn.

    PV: - Một điểm đáng lưu ý, danh sách hàng bình ổn tại các siêu thị lại có rất nhiều sản phẩm của doanh nghiệp ngoại (như dầu ăn, trứng). Phải hiểu điều nghịch dị này ra sao, thưa bà, trong khi chúng ta đang hô hào người Việt Nam dùng hàng Việt Nam? Nếu chưa thay đổi được thực tế Việt Nam chưa có một quy trình sản xuất theo thông lệ quốc tế thì Việt Nam sẽ vẫn đứng ngoài mọi ưu đãi, điều này có đúng không, thưa bà?

    Bà Phạm Chi Lan: - Đúng là có thực tế này. Các cơ quan nhà nước, chủ yếu là chính quyền địa phương chọn lựa hàng bình ổn theo tính toán về nhu cầu sử dụng của người dân, trong khi đó lượng cung cấp của các doanh nghiệp Việt Nam nhiều khi không đủ. Còn những người làm thương mại lấy hàng từ các nguồn khác nhau chứ không chỉ hướng bình ổn vào hàng của Việt Nam.

    Hàng nước ngoài cũng được coi là made in Việt Nam nếu sản xuất tại Việt Nam, do đó, vô hình trung, chương trình bình ổn cũng lại giúp bình ổn cả hàng của các nhà đầu tư nước ngoài làm ở Việt Nam.

    Ngay chương trình Người Việt dùng hàng Việt cũng định nghĩa hàng Việt là những hàng sản xuất ở Việt Nam, cho nên hiện nay các siêu thị dù nói tiêu thụ một tỷ lệ cao hàng Việt nhưng thực ra DN Việt Nam sản xuất cũng chỉ có mức độ mà thôi, trong khi nhà đầu tư nước ngoài làm ở Việt Nam lại khá lớn.

    Ngay cả hàng do DN Việt Nam sản xuất thì đầu vào nhập khẩu chiếm 70-80%. Do đó khuyến khích người Việt dùng hàng Việt cũng chỉ phần nào đó mà thôi khi những nguyên liệu, các bộ phận được sản xuất ở nước ngoài.

    Về việc Việt Nam đứng ngoài mọi ưu đãi là nói theo những cam kết mới hoặc hiệp định thương mại tự do (FTA) mới. Ví dụ, khi người ta nói đến hàng dệt may Việt Nam được hưởng lợi từ TPP thì nhấn mạnh đến việc Việt Nam không theo được tiêu chuẩn của TPP yêu cầu thì khó được hưởng lợi. Cái đó đúng, còn ở đây đang nói về bình ổn giá cho thị trường Việt Nam và đó lại là câu chuyện khác. Hiện nay nền kinh tế Việt Nam dù hội nhập nhanh nhưng chưa có nỗ lực hoặc khả năng để tăng lượng giá trị gia tăn lên mà phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu từ bên ngoài về đầu vào.

    Cho nên, hàm lượng Việt Nam trong hàng Việt phần nào bị giảm đi về ý nghĩa. Muốn nền kinh tế phát triển, các DN trưởng thành lên phải đẩy mạnh về chất lượng, trình độ công nghệ để làm những mặt hàng phức tạp hơn, từ đó mới phần của Việt Nam cao hơn, nếu không Việt Nam vẫn tiếp tục làm gia công, kể c những hàng tiêu dùng trong nước chứ không chỉ xuất khẩu.

    PV: - Mặt khác, nhìn vào danh sách các siêu thị được hưởng chính sách bình ổn, nhiều siêu thị thuộc nhà nước hoặc có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy, ngay cả khâu trung gian được hưởng lợi cũng không phải là... người dân. Tại sao trong khi hoạch định chính sách, những yếu tố này lại không được cân nhắc? Có thể đặt vấn đề "nhóm lợi ích" vận động chính sách được không, và vì sao?

    Bà Phạm Chi Lan: - Ở đây phải phân biệt trong từng trường hợp siêu thị đó trực tiếp đăng ký để nhận được hỗ trợ tham gia bình ổn, hay họ chỉ là người bán hàng bình ổn. Khi chúng tôi tiếp xúc với các DN sản xuất thì được biết thực tế này, ngay cả DN làm hàng bình ổn thương lượng để có được chỗ bán hàng bình ổn cũng không hề dễ dàng. Có DN kêu các siêu thị vẫn gây khó cho họ trong việc dành chỗ cho bán hàng bình ổn, vẫn ép họ nhiều về giá cả và các điều kiện khác để được bán hàng ở đó.

    Tuy nhiên, cũng có nơi như ở Cần Thơ, DN khen một số siêu thị hợp tác và chia sẻ bằng cách giảm cho một chút chi phí gian hàng, như vậy hai bên cùng nhau làm bình ổn.

    Tôi nghĩ những vấn đề này khi hoạch định chính sách cần được cân nhắc. Các đơn vị nhà nước ở địa phương, cụ thể là sở công thương chịu trách nhiệm chính về bình ổn nhưng cũng tuỳ từng nơi. Có nơi làm cẩn thận, nghiên cứu thấu đáo, lưu ý thúc đẩy lên theo hướng tăng cường sản xuất, chịu khó nắm các DN. Tại TP.HCM, các DN khen UBND TP, Sở Công thương chú ý lắng nghe doanh nghiệp nên chương trình mới giữ được cho đến bây giờ và có mặt tốt trong việc thúc đẩy sản xuất. Tuy nhiên, cũng có những nơi uỷ ban làm thì cứ làm và chỉ quyết định theo ý kiến của mình chứ không thực sự quan tâm, lắng nghe DN hoặc tạo điều kiện cho DN.

    Điểm chung nhất là hầu hết các DN và địa phương chưa thực sự quan tâm để vươn ra những địa bàn rộng hơn trong việc bình ổn giá, thành ra mục tiêu giúp cho giá cả thị trường ổn định, những người thu nhập thấp được hưởng lợi hơn thì lại không đạt được bao nhiêu vì tập trung quá nhiều vào các vùng đô thị có sức mua lớn hơn.

    Về nhóm lợi ích trong vận động chính sách thì ở đâu cũng có thể có. Nhưng đối với bình ổn giá tôi cho rằng nó không thực sự là những chương trình lớn cho lắm về đầu tư hay ngân sách. Tôi không có bằng chứng nào để nói rằng có nhóm lợi ích trong đó, đặc biệt bình ổn giá là tuỳ theo từng địa phương.

    Trừ mấy giá xăng dầu hay mặt hàng lớn do Nhà nước, TƯ bình ổn, còn các địa phương chủ yếu bình ổn các mặt hàng tiêu dùng hoặc lương thực thực phẩm cho người dân. Tôi quan sát ở Cần Thơ, TP.HCM, với cách họ trình bày và có cả các DN tham gia thì không cảm thấy có bóng dáng của nhóm lợi ích, tất cả đều nói thẳng thắn những cái được và chưa được.

    PV: - Để người dân thực sự được hưởng lợi từ chương trình bình ổn giá, theo bà, cần phải thay đổi từ đâu và làm như thế nào?

    Bà Phạm Chi Lan: - Đúng như một số DN họ đã khuyến nghị, đứng về phía Nhà nước, kể cả sau này thực hiện ở các địa phương, phải tập trung hỗ trợ cho khâu sản xuất, nhất là mảng lương thực thực phẩm.

    Cũng chỉ có cái đó mới cần quan tâm tới bình ổn giá. Điều này giống như tinh thần của tái cơ cấu nông nghiệp hiện nay, trong đó nêu rõ khuyến khích sự liên kết giữa nông dân và DN, chứ không phải tìm đến vài DN chuyên làm hàng lương thực, thực phẩm và giúp cho họ tham gia bình ổn giá. Khi số DN tham gia làm với nông dân đang ngày càng tăng lên thì Nhà nước chẳng sức đâu mà hỗ trợ cho từng DN.

    Phải hỗ trợ cho nông dân để họ yên tâm, có vị thế tốt tham gia được cùng với DN đẩy sản xuất đi lên lên. Đấy là cách tốt nhất và quan trọng nhất để thực hiện bình ổn giá, nhất là khi hàng lương thực thực phẩm đóng góp phần rất lớn trong rổ hàng hoá của nước ta.

    Thành Luân
    Bulava, Binh Yen, kevin pham6 người khác thích bài này.
  5. cogiko

    cogiko Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/12/2013
    Đã được thích:
    24.068
    Trời kỳ này oánh ác quá tt tăng nhưng bà con không có được bao nhiêu cp hết hic hic
  6. snackone

    snackone Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    22/07/2014
    Đã được thích:
    40.421
    Thời điểm này GAS sẽ miệt mài tăng đến cuối tuần về tiệm cận mốc 100 mới dừng lại
  7. snackone

    snackone Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    22/07/2014
    Đã được thích:
    40.421
    Cuộc giải cứu bất thành ở phía Tây Hà Nội
    Nguồn tin: VEF | 11/01/2015 8:28:17 SA

    [​IMG]
    Đại lộ Thăng Long những ngày cuối năm, một bên giới nhà giàu nô nức đón giáng sinh và năm mới, còn bên kia, các dự án vẫn im lìm. Một bức tranh ảm đạm xám xịt về những biệt thự tiền tỷ hoang lạnh, những dự án um tùm cỏ mà các ông chủ ra sức giải cứu nhưng bất thành.

    Cùng với sự xuống dốc của thị trường BĐS, các dự án đô thị phía Tây Hà Nội một thời từng là niềm mơ ước của các "đại gia" địa ốc nay trở thành dự án "chết", cùng với đó là hàng chục nghìn tỉ của nhà đầu tư đang bị "chôn" vào đất mà không biết bao giờ lấy lại được.

    Theo một thống kê chưa đầy đủ, trên địa bàn Hà Nội đã triển khai khoảng 370 dự án khu đô thị, phần lớn tập trung ở các vùng ven đô phía Tây như: Hoài Đức, Đan Phượng, Quốc Oai, Thạch Thất, Chương Mỹ... Nhiều dự án quy mô hàng ngàn tỉ đồng, đang giậm chân tại chỗ hoặc chủ đầu tư có dấu hiệu tháo chạy, gây khốn đốn cho người dân trong vùng dự án và chính quyền sở tại.

    Khảo sát cho thấy, hàng loạt biệt thự đã được xây với số tiền cả bạc tỉ tại các khu đô thị mới như Gleximco, Mễ Trì, Kim Chung - Di Trạch, Tân Tây Đô, Lideco,... Trên thực tế, giá nhà biệt thự, liền kề, dù ở thời điểm này được cho là đã giảm mạnh, đến 50%, nhưng vẫn còn quá cao so với thu nhập của đại bộ phận người dân. Biệt thự bỏ hoang giờ trở thành nơi tá túc cho người lao động nghèo. Họ tận dụng buôn bán, kinh doanh tạm bợ các mặt hàng bình dân như trà đá, cắt tóc, thậm chí cả trồng rau, tập kết phế liệu.

    Đi vào khu vực nội đô, bức tranh xám của thị trường lộ rõ qua các tòa nhà chung cư cao tầng dừng thi công, hoen rỉ, chưa biết ngày hoàn thiện. Điều dễ nhận thấy ở các dự án này là sự tham vọng quá lớn của các chủ đầu tư khi vẽ ra những dự án lung linh trên giấy, thu hút người mua nhà và sau đó không đủ năng lực để thực hiện.

    Đơn cử như dự án Usilk City sau nhiều năm triển khai, hiện mới có một vài tòa của dự án này đang hoàn thiện, còn lại đều bỏ hoang hay siêu dự án Habico Tower (Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội) nổi đình đám một thời vì mức giá khủng từ 75-100 triệu đồng/m2 được chào bán năm 2008, đã ngừng thi công tại sàn tầng 9 và đến nay chưa có dấu hiệu khởi động trở lại.

    Một trong những vấn đề nhức nhối của thị trường là các dự án đất vàng bỏ hoang nhiều năm liền quây tôn, cho thuê làm sân bóng, đỗ xe nhưng khó có thể thu hồi được. Nhiều dự án khác có vị trí "đắc địa" cũng có tên trong danh sách bị thu hồi vì chậm triển khai như: Dự án Tháp Doanh nhân của Tập đoàn Anh Quân, trên khu đất rộng 1.370 m2, tại số 1 đường Thanh Bình (Hà Đông);...

    Giải cứu

    Sau nhiều lần rà soát, kiểm tra, cơ quan chức năng đã có nhiều kiến nghị xử lý, thu hồi các dự án BĐS bỏ hoang tuy nhiên cho tới nay con số thực hiện được vẫn chưa đáng kể. Qua kiểm tra, thành phố Hà Nội đã thu hồi 820ha đất, trong đó có nhiều khu "đất vàng" ở 53 Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng; khu nhà ở để bán của Công ty Đầu tư xây dựng Gia Lâm ở quận Tây Hồ; khu đất ở số 35 Điện Biên Phủ, quận Ba Đình.

    Nhìn vào diện tích "đất vàng" bị xử lý thu hồi nêu trên, có thể thấy tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, hoặc để hoang hóa gây lãng phí đang ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội, bởi hiện nay quỹ đất cho xây dựng bệnh viện, trường học ở các địa phương còn rất khó khăn. Một trong những động thái mới nhất của Hà Nội là kiên quyết thu hồi hoặc dừng các dự án chậm triển khai, đã giao đất nhưng không sử dụng quá thời gian quy định của pháp luật.

    Nhằm tạo lối thoát cho nhiều dự án, Bộ Xây dựng đã gia hạn thêm thời gian điều chỉnh cơ cấu căn hộ và chuyển đổi nhà ở đến hết ngày 31/12/2015. Thống kê trong hai năm 2013 và 2014 cho thấy, các giao dịch tăng trưởng liên tục, trong đó tiêu biểu là sức "nóng" của thị trường nhà ở xã hội và nhà ở thương mại được chuyển đổi.

    Hiện cả nước đã có 74 dự án đăng ký điều chỉnh cơ cấu căn hộ, với số lượng căn ban đầu là 33.867 căn xin điều chỉnh thành 44.881 căn (tăng 11.014 căn). Trong đó, có 60 dự án đăng ký chuyển đổi từ nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội với quy mô xây dựng 38.897 căn hộ.

    Theo đại diện một số đơn vị phân phối, việc tiếp tục cho phép doanh nghiệp cơ cấu lại căn hộ tại dự án nhà thương mại, nguồn cung căn hộ diện tích nhỏ trong tương lai sẽ tiếp tục được bổ sung. Đây chính là cơ sở để thị trường căn hộ tiếp tục duy trì mức thanh khoản cao, thúc đẩy sự hồi phục nhanh hơn của phân khúc này.

    Nhận định về thị trường, ông Trần Ngọc Quang, quyền Tổng thư ký VNREA, dự báo, về cơ bản, thị trường bất động sản vẫn tiếp tục khó khăn từ nay đến cuối năm và cả trong năm 2015, mặc dù đang có dấu hiệu hồi phục. Tuy thị trường đã có cải thiện về thanh khoản, nhưng doanh nghiệp bất động sản vẫn chưa hết khó khăn.

    D.ANH
  8. HoangL0ng2007

    HoangL0ng2007 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/03/2014
    Đã được thích:
    32.472
    :D Nhà mình còn nhiều mà bác:drm3
  9. HoangL0ng2007

    HoangL0ng2007 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/03/2014
    Đã được thích:
    32.472
    Chậm tí bác em đọc hok kịp :D>:D< Thanks bác:drm3
  10. snackone

    snackone Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    22/07/2014
    Đã được thích:
    40.421
    USD tăng giá, vốn vào chứng khoán có giảm?
    Nguồn tin: Nhịp cầu đầu tư | 12/01/2015 6:26:26 SA

    [​IMG]
    Động thái bán ròng của nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK khi USD tăng giá mạnh so với tiền đồng ảnh hưởng lớn đến tâm lý nhà đầu tư trong nước.

    Trong năm 2014, việc bán ròng của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam thường xảy ra vào những lúc đồng USD tăng giá mạnh so với tiền đồng. Mặc dù giá trị giao dịch của khối ngoại chiếm tỉ trọng thấp trên thị trường, nhưng động thái mua bán của họ lại có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý nhà đầu tư trong nước.

    Hiện nay, nhiều nhà đầu tư trong nước đang lo lắng về khả năng khối ngoại rút vốn để về trú ẩn và kiếm lời từ “đồng bạc xanh”, làm giảm dòng tiền đổ vào thị trường chứng khoán. Lo ngại trên xuất phát từ việc USD tăng giá quá nhanh trong thời gian ngắn. Chỉ số US Dollar Index (dùng để đo giá trị đồng USD với rổ 6 đồng ngoại tệ mạnh khác) đã tăng gần 13% kể từ tháng 7 đến tháng 12.2014. Mức tăng này đánh dấu sự trở lại mạnh mẽ của đồng USD trong năm 2014 sau nhiều năm trầm lắng do nền kinh tế Mỹ rơi vào khủng hoảng.

    Sở dĩ đồng bạc xanh có thể trở lại ấn tượng như vậy là nhờ vào nền kinh tế Mỹ đã phục hồi đáng kể. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Mỹ quý III/2014 đã tăng trưởng 5%, mức cao nhất trong 11 năm trở lại đây. Thị trường lao động được cải thiện với hơn 400.000 việc làm mới được tạo ra trong tháng 10 và 11, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu ADP.

    Trong khi đó, nền kinh tế châu Âu vẫn chìm trong khó khăn và Ngân hàng Trung ương châu Âu, Ngân hàng Trung ương Nhật lại đưa ra quyết sách nới lỏng tiền tệ. Điều này càng khiến cho USD có thêm cơ hội trỗi dậy mạnh hơn so với các đồng tiền khác như euro, yen Nhật.

    Có lẽ không phải là sự trùng hợp khi thời điểm USD lên giá mạnh cũng là lúc các nhà đầu tư nước ngoài bán ròng lên đến gần 3.600 tỉ đồng (từ tháng 8-11) trong khi 7 tháng đầu năm đều mua ròng với giá trị hơn gấp đôi. Dòng vốn vào Quỹ Market Vectors Vietnam ETF (V.N.M) cũng giảm mạnh trong quý III và thậm chí bị rút ra đến hơn 52 triệu USD vào quý IV năm này, theo IndexUniverse.

    Tất nhiên, việc bán ròng này còn chịu sự tác động của những yếu tố khác như thị trường chứng khoán điều chỉnh sau làn sóng tăng mạnh mẽ trước đó, giá dầu giảm tạo áp lực bán mạnh lên nhóm cổ phiếu dầu khí, việc tái cơ cấu danh mục vào thời điểm cuối năm... Thế nhưng, dường như sự lên giá của USD cũng có tác động nhất định đến dòng vốn nước ngoài.

    Nhận định này không phải không có cơ sở. Trong năm 2013, khi USD dao động, không có xu hướng rõ ràng thì các nhà đầu tư nước ngoài vẫn mua ròng hơn 6.800 tỉ đồng. Mức mua ròng này cao gần gấp đôi so với giá trị mua ròng của năm 2014 dù trong năm 2013, nền kinh tế vĩ mô và nhiều doanh nghiệp còn khó khăn hơn.

    Tín hiệu trên cho thấy, khi nền kinh tế Mỹ chưa phục hồi và USD vẫn trong giai đoạn “lình xình“ thì nhà đầu tư vẫn đánh giá cao các thị trường chứng khoán có suất sinh lợi cao như Việt Nam. Tuy nhiên, đồng bạc xanh tăng giá trở lại đã tạo nên sức hút mãnh liệt đối với nhiều nhà đầu tư. Do đó, sẽ không tránh khỏi việc bán bớt tài sản không được định giá bằng USD để đầu tư vào đồng tiền này.

    Không chỉ vậy, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đang có những khoản nợ lớn tính bằng USD. Do đó, việc USD còn có thể tiếp tục lên giá khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) để mở khả năng tăng lãi suất cơ bản đồng USD trong thời gian tới, khiến cho gánh nặng nợ của các nước càng thêm lớn.

    Trong quá khứ, nhiều nền kinh tế mới nổi từng lâm vào khủng hoảng trầm trọng khi USD tăng giá do các nước này vay nợ USD lớn. Sự đổ vỡ của các “con hổ châu Á” vào thập niên 1990 hay các quốc gia Nam Mỹ vào thập niên 1980 là ví dụ rõ nhất.

    Hiện tại, đồng ruble của Nga, đồng hryvnia của Ukraine đã mất giá khoảng 50% so với USD. Nếu USD tiếp tục tăng giá, không loại trừ một làn sóng rút vốn sẽ xảy ra ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các thị trường chứng khoán mới nổi.

    Hãy quay trở lại với Việt Nam. Mới đây, Ngân hàng Nhà nước vừa điều chỉnh tăng tỉ giá VND/USD thêm 1%, lên mức 21.458 VND/USD (áp dụng từ ngày 7.1.2015). Nếu so sánh mức giảm giá tiền đồng này với sự mất giá của các đồng tiền khác thì việc điều chỉnh tỉ giá 1% là không đáng kể.

    Do vậy, lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam có thể sẽ gặp khó khăn khi tiền đồng đang được cho là định giá cao so với các đồng tiền khác. Những điều này có thể làm giảm triển vọng tích cực của nền kinh tế Việt Nam cũng như các công ty trên thị trường chứng khoán trong con mắt nhà đầu tư nước ngoài.

    Hoàng Điền
    Bulava, tiec_that, kevin pham4 người khác thích bài này.
Trạng thái chủ đề:
Đã khóa

Chia sẻ trang này