Động lực đưa VNI lên đỉnh 1580 vào quý 1/2022?

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi Investor_70, 30/10/2021.

878 người đang online, trong đó có 351 thành viên. 11:28 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1992 lượt đọc và 12 bài trả lời
  1. Investor_70

    Investor_70 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/01/2013
    Đã được thích:
    16.012
    hứ bảy, 30/10/2021, 08:32 (GMT+7)
    Thủ tướng nêu 6 trụ cột phục hồi kinh tế
    Chia sẻ về kế hoạch tổng thể khôi phục kinh tế với các lãnh đạo tập đoàn toàn cầu, Thủ tướng đánh giá đây là thời điểm thử thách của cả Chính phủ và doanh nghiệp.

    Tối 29/10, Thủ tướng Phạm Minh Chính đồng chủ trì đối thoại chiến lược quốc gia Việt Nam - Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), đối thoại lần đầu tiên bằng hình thức trực tuyến, với chủ đề "Tăng cường quan hệ đối tác công tư: Động lực then chốt của phục hồi toàn diện và phát triển bền vững, bao trùm và đổi mới sáng tạo".

    Chia sẻ với các doanh nghiệp toàn cầu, Thủ tướng cho biết kế hoạch tổng thể phục hồi, phát triển kinh tế sẽ gồm chương trình mở cửa nền kinh tế gắn với phòng, chống dịch Covid-19; bảo đảm an sinh xã hội và tạo việc làm; phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; phát triển kết cấu hạ tầng, khơi thông nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển. Cùng đó, Việt Nam đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính, chống tham nhũng, tiêu cực.

    Sáu trụ cột chính sách quan trọng được ông nhắc tới trong phục hồi kinh tế xã hội của Việt Nam trong thời gian tới.

    Thứ nhất là phục hồi chuỗi cung ứng, bảo đảm lưu thông hàng hoá, hoạt động sản xuất, kinh doanh an toàn, thông suốt của doanh nghiệp trong điều kiện bình thường mới.

    Thứ hai là hỗ trợ doanh nghiệp, người dân thúc đẩy sản xuất kinh doanh nhằm phục hồi tăng trưởng kinh tế và ổn định đời sống xã hội.

    Thứ ba là triển khai quyết liệt các chương trình đầu tư quy mô lớn, nhất là các dự án hạ tầng giao thông liên vùng, năng lượng, hạ tầng xanh, hạ tầng số quốc gia... có tác động lan toả, tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

    Thứ tư là đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.

    Thứ năm là nâng cao chất lượng thể chế đồng bộ, hiện đại, theo chuẩn mực quốc tế, là điều kiện tiên quyết, một trong ba đột phá chiến lược để phát triển đất nước 10 năm tới.

    Thứ sáu và là yếu tố quan trọng nhất, là nguồn nhân lực nhằm phát huy tối đa nguồn lực quan trọng nhất là con người Việt Nam với tư cách vừa là chủ thể và là mục tiêu cao nhất của sự phát triển. Đồng thời, Việt Nam ưu tiên thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực tự chủ của nền kinh tế phù hợp với những điều chỉnh sau đại dịch Covid-19.

    [​IMG]
    Thủ tướng Phạm Minh Chính đồng chủ trì đối thoại quốc gia của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF). Ảnh: TTXVN

    Ông đánh giá đây là thời điểm thử thách bản lĩnh, sự sáng tạo và năng lực thích ứng của cả Chính phủ và doanh nghiệp, là thời điểm tăng cường quan hệ đối tác công - tư để vượt qua khó khăn trên tinh thần "đồng cam cộng khổ", "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ".

    "Khi dịch bệnh cơ bản được đẩy lùi, Chính phủ Việt Nam quyết tâm phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tầm nhìn, mục tiêu và khát vọng phát triển đất nước", ông nói.

    Ông kêu gọi các nhà đầu tư cùng Chính phủ thực hiện các giải pháp để phục hồi sản xuất an toàn tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu chế xuất để đảm bảo đơn hàng, duy trì chuỗi cung ứng.

    "Chính phủ Việt Nam sẵn sàng tăng cường đối thoại, phối hợp trong khuôn khổ đối tác công - tư để khuyến khích sự hưởng ứng và tham gia của tất cả doanh nghiệp và người dân", Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định.

    Ông đề nghị những mô hình như chương trình đối tác công – tư cho nông nghiệp bền vững sẽ được nhân rộng sang các lĩnh vực hợp tác có tiềm năng khác. Đối thoại chiến lược quốc gia Việt Nam - WEF thành cơ chế thường kỳ giữa lãnh đạo Chính phủ Việt Nam với các doanh nghiệp và chuyên gia của WEF.

    Tháng 10, kinh tế xã hội đã bắt đầu phục hồi khi Việt Nam cơ bản kiểm soát được dịch bệnh và từng bước mở cửa nền kinh tế. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký mới tăng gần 12%, vốn thực hiện trên 15 tỷ USD. Xuất khẩu tăng xấp xỉ 17% so với cùng kỳ 2020.

    Tổng cầu phục hồi mạnh với mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng trên 18%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng chỉ tăng 1,81%. Điều này cho thấy khó khăn hiện tại chỉ mang tính thời điểm; yếu tố cơ bản là tiềm năng, lợi thế, động lực mới cho phát triển dài hạn và nền tảng vĩ mô, các cân đối lớn của kinh tế Việt Nam vẫn là nổi trội, ổn định và vững chắc.

    Tại đối thoại, cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài đưa ra nhiều kiến nghị chính sách nhằm tái hồi phục và kích thích kinh tế, thúc đẩy FDI, cải thiện kết nối vận chuyển hàng hóa nội địa và xuyên biên giới.

    Các tập đoàn công nghệ lớn "hiến kế" các chính sách thúc đẩy hợp tác công – tư để phát triển hạ tầng kỹ thuật số, khuyến khích đầu tư cho chuyển đổi số, các chiến lược tận dụng công nghệ 4IR để ứng phó và phục hồi sau đại dịch.

    Cộng đồng doanh nghiệp hoan nghênh mạnh mẽ việc tăng tốc và thực thi các cam kết trung hòa carbon đến năm 2050 và các quy định liên quan về môi trường của Việt Nam. Riêng lĩnh vực năng lượng tái tạo, một doanh nghiệp đề xuất Việt Nam thành lập Diễn đàn Năng lượng tham vấn với sự tham gia của khu vực tư nhân và Chính phủ để tăng cường hợp tác trong lĩnh vực này.

    Khép lại đối thoại, Giáo sư Klaus Schwab, Chủ tịch điều hành kiêm nhà sáng lập Diễn đàn Kinh tế thế giới, bày tỏ tin tưởng vào tiềm năng và vị thế của Việt Nam; cam kết WEF sẽ tiếp tục dành sự hợp tác và hỗ trợ tối đa cho Chính phủ Việt Nam. "Chính phủ và Thủ tướng đã làm việc không mệt mỏi để bảo vệ cuộc sống và sinh kế của người dân Việt Nam", Giáo sư Klaus Schwab nói.

    Ông tin Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì đà phát triển ấn tượng trong những thập kỷ tới, tiếp tục vững bước trên con đường trở thành đầu tàu kinh tế của khu vực.

    Đối thoại chiến lược quốc gia về Việt Nam là một trong những sự kiện quan trọng nhất trong chương trình của WEF năm 2021 nhằm hỗ trợ các tập đoàn toàn cầu mở rộng đầu tư, kinh doanh, đón đầu các xu thế mới trong bối cảnh kinh tế thế giới đang trên đà phục hồi.

    Với Việt Nam, đối thoại là sự kiện quan trọng để Thủ tướng trao đổi trực tiếp với các lãnh đạo doanh nghiệp toàn cầu nhằm huy động mọi nguồn lực, thúc đẩy quan hệ công – tư phục vụ thực hiện kế hoạch phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội cũng như khát vọng và các mục tiêu phát triển đất nước trong trung và dài hạn.

    Anh Minh
    Vuthanhnguyenkimibull2 thích bài này.
    kimibull2 đã loan bài này
  2. kimibull2

    kimibull2 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/10/2020
    Đã được thích:
    1.642
    năm nay đánh lên luôn đấy bác.
    Investor_70 thích bài này.
  3. Investor_70

    Investor_70 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/01/2013
    Đã được thích:
    16.012
    Bộ trưởng Tài chính: 'Có nguồn lực để phát triển kinh tế và chống dịch'
    Bộ trưởng Tài chính cho biết có nguồn lực để phát triển kinh tế cũng như chống dịch khi thu ngân sách đến cuối năm sẽ tăng khoảng 1,7%, tiết kiệm chi.

    Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phớc cho biết như trên khi thảo luận tổ về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế 2021 - 2025 tại Quốc hội, chiều 29/10.

    Ông Phớc nói, năm 2021 "vô cùng vất vả", chưa năm nào khó khăn như thế. Dịch bệnh hoành hành khốc liệt trên diện rộng và trong thời gian dài. Tuy vậy, đến nay chính sách tài khóa hoàn thành kế hoạch. Dự kiến thu ngân sách năm nay tăng khoảng 1,7%; chi ngân sách không vượt dự toán, tiết kiệm chi và có nguồn lực để phát triển kinh tế cũng như chống dịch.

    Về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế, Bộ trưởng Tài chính cho biết, vừa phải bảo đảm tài chính nhà nước nhưng cũng đảm bảo tài chính doanh nghiệp và dân cư phát triển. Do đó, phải tạo các gói kích thích kinh tế, đảm bảo cầu nền kinh tế tăng lên, từ đó bước sang giai đoạn mới để phục hồi tăng trưởng.

    Ông cho biết các giải pháp đã được bàn kỹ. Bộ đề nghị Chính phủ thiết kế và quản lý từng gói kích thích kinh tế bảo đảm hiệu quả. Khi nền kinh tế đã phục hồi và phát triển sẽ tăng thu ngân sách, đồng thời với giảm chi ngân sách sẽ kéo giảm được bội chi xuống.

    Đánh giá việc chuyển đổi số thời gian tới là đúng, nhưng Bộ trưởng Tài chính cho rằng đó là kế hoạch dài hạn. Còn trong ngắn hạn ngay lúc này, doanh nghiệp cần là thị trường, nguồn nhân lực và vốn; cần tháo gỡ về cơ chế, chính sách, thể chế. Còn chuyển đổi số là vấn đề cốt lõi cho tương lai, cho sự phát triển bền vững.

    "Giờ đây, chúng ta tập trung vào đột phá về thể chế và đầu tư hạ tầng, giải ngân cũng như thúc đẩy tăng trưởng một cách nhanh nhất", ông nói.

    [​IMG]
    Bộ trưởng Tài Chính Hồ Đức Phớc phát biểu tại tổ thảo luận chiều 29/10. Ảnh: Hiếu Duy

    Riêng về vốn, Bộ trưởng Tài chính cho biết đang tham mưu Thủ tướng để có một số gói kích thích, như gói hỗ trợ lãi suất. Vừa rồi Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước chủ trì cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính xây dựng gói hỗ trợ lãi suất. Gói này lấy từ nguồn ngân sách trung ương, khoảng 20.000 tỷ đồng, hỗ trợ lãi suất 2-3% cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề của dịch, nhưng có đủ điều kiện vay để phát triển. Ví dụ trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ (vận tải, ăn uống), các dự án đầu tư hạ tầng, đặc biệt là các công trình trọng yếu, trọng điểm quốc gia...

    "Khi đó sẽ kích cầu nền kinh tế rất nhanh, nguồn vốn bỏ vào đây sẽ tạo cầu đầu tư tốt, đồng thời tháo gỡ được khó khăn cho doanh nghiệp", ông Phớc nói.

    Một tham mưu khác là đề án phát hành công trái huy động ngoại tệ trong nước. Gói này được thiết kế để huy động tiền trong dân, đơn cử như USD nhàn rỗi trong dân. Lãi suất gửi USD ở ngân hàng thương mại hiện là 0%, và gói này vay tiền của dân mà không làm ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ. Nếu cần thiết thì phát hành thêm trái phiếu Chính phủ ngắn hạn để tập trung vào giải quyết những vấn đề trước mắt và thúc đẩy quá trình tăng trưởng, sau đó là quay vòng vốn để bảo đảm kinh tế phát triển.

    Lãnh đạo Bộ Tài chính nói, năm 2022- 2023 có thể tăng bội chi nhưng đến 2024 khi kinh tế phát triển, ngân sách tăng lên rồi sẽ giảm bội chi và bội chi bình quân của cả nhiệm kỳ vẫn đạt chỉ tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đề ra (3,7% GDP).

    Bộ trưởng Tài chính cũng nói thêm, thời gian qua, một loạt chính sách đã được ban hành rất kịp thời như Nghị định 52 về giãn, hoãn thuế, giúp doanh nghiệp giảm 115.000 tỷ đồng; miễn 30 sắc thuế, miễn phạt chậm nộp khoảng 21.300 tỷ đồng, giảm thuế xăng dầu đối với máy bay và các chính sách khác...

    Chi ngân sách theo Bộ trưởng Tài chính cũng được thực hiện rất tốt khi giảm 10% chi thường xuyên, giảm 50% chi tiếp khách, công tác phí, hội nghị, đi công tác nước ngoài; giảm 15% đối với các đơn vị có tính đặc thù.

    Phát hành trái phiếu Chính phủ để cơ cấu lại nợ được ông Phớc cho biết "rất hiệu quả". Trước đây vay nước ngoài nhiều, đến nay "vay rất ít", mỗi năm khoảng 40.000 tỷ đồng. Phát hành trái phiếu Chính phủ trong nước 1 năm khoảng 350.000 tỷ đồng, lãi suất chỉ 2,26% mỗi năm, thời gian bình quân là 12 năm.

    "Chúng tôi tích cực thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt, phát triển thị trường chứng khoán, bảo hiểm một cách tốt nhất", ông Phớc nói và nhấn mạnh thị trường chứng khoán "hiện rất tốt".

    Hoàng Thùy - Viết Tuân
    --- Gộp bài viết, 30/10/2021, Bài cũ: 30/10/2021 ---
    Trước mắt tích cực VNI có thể đạt đỉnh ngắn hạn quanh 1500+/- 15, sau đó chỉnh KT để lên đỉnh mới quanh 1580:))
    kimibull2 thích bài này.
    Investor_70 đã loan bài này
  4. Investor_70

    Investor_70 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/01/2013
    Đã được thích:
    16.012
    CPI 10 tháng thấp nhất 5 năm

    Báo cáo kinh tế- xã hội tháng 10 và 10 tháng vừa được Tổng cục Thống kê công bố nhận định nhiều địa phương nới lỏng giãn cách giúp hoạt động lưu thông, vận chuyển hàng hóa thuận lợi, nhu cầu tích trữ hàng tiêu dùng của người dân giảm; nguồn cung hàng hóa được đảm bảo khiến giá lương thực, thực phẩm trong tháng giảm.

    [​IMG]
    Ảnh: GSO.

    Đồng thời, nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt giảm khi thời tiết sang thu và giá thuê nhà tiếp tục xuống thấp nhằm hỗ trợ người dân gặp khó khăn trong dịch Covid-19 là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 1,67% so với tháng 12/2020.

    Tính chung 10 tháng qua, CPI tăng 1,81% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016.

    Trong mức giảm 0,2% của CPI tháng 10 so với tháng 9 có 3 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm và 8 nhóm hàng có chỉ số giá tăng. Đáng chú ý, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có mức giảm cao nhất, làm CPI chung giảm 0,43 điểm phần trăm, do nguồn cung dồi dào.
    Vuthanhnguyenkimibull2 thích bài này.
  5. Investor_70

    Investor_70 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/01/2013
    Đã được thích:
    16.012
    Tín hiệu bắt đầu trở lại đường đua:drm


    Sản xuất công nghiệp cả nước tăng hơn 3% nhưng TP HCM vẫn giảm 16%

    Báo cáo kinh tế xã hội tháng 10 và 10 tháng vừa được Tổng cục Thống kê công bố cho thấy chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 10 ước giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tính chung 10 tháng, IIP lại tăng 3,3%.

    Trong đó, một số ngành trọng điểm thuộc công nghiệp cấp II có chỉ số tăng mạnh như sản xuất kim loại, sản xuất xe có động cơ và sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế.

    [​IMG]
    Ảnh: GSO.

    Báo cáo của Tổng cục Thống kê còn cho thấy trái ngược với tình hình khởi sắc của cả nước khi biện pháp giãn cách xã hội được nới lỏng, hoạt động sản xuất kinh doanh từng bước được khôi phục trong trạng thái bình thường mới, chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng của TP HCM vẫn giảm 16% và là 1 trong 10 địa phương có mức giảm nhiều nhất.

    [​IMG]
    Mức giảm IIP 10 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đơn vị: %. Ảnh: GSO.

    Trong khi đó, Ninh Thuận, Đắk Lắk và Gia Lai là 3 địa phương có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 10 tháng vừa qua.

    [​IMG]
    Ảnh: GSO.

    Ngoài ra, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng cao trong 10 tháng, gồm linh kiện điện thoại, thép cán và xăng dầu các loại.
  6. Investor_70

    Investor_70 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/01/2013
    Đã được thích:
    16.012
    Nới lỏng giãn cách giúp chỉ số sản xuất công nghiệp dần 'hồi sinh'
    31-10-2021 - 21:11 PM | Kinh tế vĩ mô - Đầu tư


    BÁO NÓI - 6:06


    [​IMG]
    Dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử, thiết bị thắp sáng trong xe ô tô, xe máy tại Công ty TNHH Điện Việt Nam Stanley tại Hà Nội. Ảnh: Danh Lam/TTXVN.
    Theo Tổng cục Thống kê, các biện pháp giãn cách xã hội được nới lỏng góp phần khiến hoạt động sản xuất kinh doanh từng bước được khôi phục trong trạng thái bình thường mới, đưa chỉ số sản xuất công nghiệp (IPP) tháng 10/2021 ước tăng 6,9% so với tháng trước. Trong 10 tháng năm 2021, IPP tăng 3,3% so với cùng kỳ năm ngoái.


    Nếu tính theo địa phương, IPP 10 tháng năm 2021 của 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 11 địa phương tăng cao. Ninh Thuận là tỉnh đứng đầu với chỉ số IIP 10 tháng tăng 29,7%, xếp thứ 2 là Đắk Lắk với mức tăng 25,7%. TP Hồ Chí Minh và Hà Nội đều không nằm trong nhóm tăng cao này.

    "Nếu việc kiểm soát dịch bệnh tiếp tục khả quan; các doanh nghiệp ở khu vực miền Bắc, miền Trung tăng tốc sản xuất, sản xuất công nghiệp trong quý IV/2021 sẽ tăng trưởng cao hơn quý III/202 và dự kiến IPP năm 2021 tăng khoảng 6 % so với năm 2020. Con số này mặc dù thấp hơn chỉ tiêu ngành Công Thương đặt ra ban đầu (IIP tăng 8 - 9%) nhưng cũng đã cho thấy sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan Trung ương và địa phương trong việc kiểm soát dịch bệnh, khôi phục sản xuất", đại diện Bộ Công Thương cho biết.

    Cụ thể: Trong mức tăng chung của IPP 10 tháng năm nay, ngành chế biến, chế tạo tăng 4,5%, đóng góp 3,99 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,1%, đóng góp 0,36 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,4%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 7%, làm giảm 1,1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

    Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 19,2%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 13,3%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 8,7%; sản xuất đồ uống giảm 5,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 5,4%.

    Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 10 tháng năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước như linh kiện điện thoại tăng 38,8%; thép cán tăng 37,3%; xăng dầu các loại tăng 15,5%; khí hóa lỏng LPG tăng 14,1%; ô tô tăng 12,4%; sắt, thép thô tăng 11,4%; sữa bột tăng 9,6%; thức ăn cho gia súc tăng 9,5%; giày, dép da tăng 8,5%. Ngoài ra, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/10/2021 tăng 7,7% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 7,9% so với cùng thời điểm năm 2020.

    Do chịu tác động tiêu cực của dịch COVID-19, các địa phương có khu công nghiệp lớn phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài khiến giá trị tăng thêm ngành công nghiệp quý III/2021 giảm 3,5% so với cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp vẫn đang duy trì đà tăng 4,45% so với cùng kỳ năm 2020.

    Việt Nam ở đâu trước nỗi lo ‘stagflation’ trên toàn cầu?
    Theo Minh Phương

    TTXVN
    Investor_70 đã loan bài này
  7. Investor_70

    Investor_70 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/01/2013
    Đã được thích:
    16.012
    Bất ngờ với tổng lợi nhuận tăng thêm gần 110.000 tỷ bất chấp khó khăn của các công ty chủ chốt sàn chứng khoán
    31-10-2021 - 13:33 PM | Doanh nghiệp


    BÁO NÓI - 2:34


    [​IMG]
    Tổng lợi nhuận 9 tháng đầu năm của 61 thành viên CLB lợi nhuận nghìn tỷ sàn chứng khoán tăng thêm gần 110.000 tỷ, tương ứng tăng 50% so với cùng kỳ năm 2020.

    12 nguyên tắc giúp bạn giàu có, điều số 10 'hãy sống có nguyên tắc, đừng sống theo cảm hứng' (P2)
    Hiện tại hầu hết các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán đã hoàn thành công bố kết quả kinh doanh quý 3. Mặc dù ít nhiều gặp khó khăn do tác động của đại dịch nhưng phần lớn các doanh nghiệp chủ chốt đều đã vượt qua, thậm chí ghi nhận kết quả hết sức tích cực.

    Thống kê của chúng tôi cho thấy có tổng cộng 61 doanh nghiệp có lợi nhuận trước thuế 9 tháng đầu năm đạt trên 1.000 tỷ đồng trong khi cùng kỳ năm trước chỉ có 43 doanh nghiệp.



    [​IMG]
    Vị trí quán quân lợi nhuận vẫn thuộc về VinHomes khi tăng 55% từ 22.200 tỷ lên 34.300 tỷ đồng.

    Ở vị trí thứ 2 là Hòa Phát với lợi nhuận tăng gần gấp 3, từ 10.000 tỷ lên 29.000 tỷ đồng. Chỉ riêng lợi nhuận quý 3 vừa qua của Hòa Phát đã lớn hơn 9 tháng đầu năm trước.

    Từ vị trí thứ 3 đến thứ 8 đều là các ngân hàng: Vietcombank (19.100 tỷ), Techcombank (17.100 tỷ), Vietinbank, MBBank…


    iTVC from Admicro
    Trong số 61 thành viên của câu lạc bộ lãi nghìn tỷ chỉ có 6 cái tên ghi nhận giảm: đứng đầu là Sabeco (-21%), Becamex (-21%), Vincom Retail (-15%), EVN Genco2 (-12%), Vinamilk (-6%), Novaland (-5%).

    Ba cái tên có lợi nhuận gần như đi ngang là Vingroup, VEAM, Khang Điền và Thế giới Di động tăng 8% còn lại 50 doanh nghiệp khác đều tăng trưởng từ 2 đến 3 chữ số.

    Trường hợp đảo chiều mạnh mẽ nhất là Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) – từ mức lỗ 4.090 tỷ của cùng kỳ đã quay sang lãi 4.099 tỷ đồng.

    [​IMG]
    Tổng lợi nhuận của 61 thành viên CLB nghìn tỷ là 309.500 tỷ đồng, tăng gần 55% so với mức 200.700 tỷ đồng của cùng kỳ. Những đơn vị có lợi nhuận tuyệt đối tăng thêm nhiều nhất là Hòa Phát (19.000 tỷ), Vinhomes (12.100 tỷ), Bình Sơn (8.200 tỷ), Techcombank (6.400 tỷ), MBB, BIDV, Vietinbank, VCB, Hoa Sen (trên 3.000 tỷ)...

    Riêng trong quý 3, quý được đánh giá là khó khăn nhất từ đầu đại dịch, tổng lợi nhuận của nhóm này vẫn tăng thêm 20.000 tỷ lên 97.000 tỷ đồng.

    [​IMG]

    Kinh Kha

    Theo Nhịp sống kinh tế
    chimsedimua_23 thích bài này.
  8. Investor_70

    Investor_70 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/01/2013
    Đã được thích:
    16.012
    PMI tháng 10 tăng mạnh lên ngưỡng trung tính, đạt 52,1 điểm sau 1 tháng mở cửa ở nhiều địa phương
    01-11-2021 - 07:48 AM | Kinh tế vĩ mô - Đầu tư

    BÁO NÓI - 4:59

    IHS Markit nhấn mạnh, mức tăng này cho thấy các điều kiện kinh doanh đã cải thiện trong lĩnh vực sản xuất, từ đó kết thúc thời kỳ giảm kéo dài 4 tháng.


    [​IMG]
    Thủ tướng chứng kiến lễ ký 26 thỏa thuận hợp tác trị giá hàng tỷ USD

    Sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và hoạt động mua hàng đã tăng trở lại

    Theo báo cáo mới công bố của IHS Markit, tình trạng y tế công cộng cải thiện và kéo theo đó là việc nới lỏng các biện pháp hạn chế đã giúp lĩnh vực sản xuất của Việt Nam tăng trưởng trở lại trong tháng 10. Sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và hoạt động mua hàng đã tăng trở lại, trong khi niềm tin kinh doanh cũng đã tăng.

    Mặt khác, việc làm tiếp tục giảm khi có nhiều báo cáo cho biết công nhân vẫn còn ở quê nhà sau làn sóng đại dịch COVID-19. Áp lực giá cả vẫn mạnh, khi chi phí đầu vào tăng với một trong những mức mạnh nhất từng được ghi nhận trong bối cảnh chi phí vận chuyển tăng và nguồn nguyên vật liệu khan hiếm. Để bù đắp, các công ty đã tăng giá bán nhanh hơn so với tháng 9.

    [​IMG]
    Nguồn: IHS Markit

    Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) ngành sản xuất của Việt Nam đã tăng trở lại lên trên ngưỡng trung tính 50 điểm trong tháng 10 khi đạt 52,1 điểm, sau khi chỉ đạt 40,2 điểm trong tháng 9.

    Báo cáo nhận định, điều này cho thấy các điều kiện kinh doanh đã cải thiện trong lĩnh vực sản xuất, từ đó kết thúc thời kỳ giảm kéo dài 4 tháng. Việc nới lỏng các hạn chế do COVID-19 đã giúp một số công ty tái khởi động sản xuất trong tháng 10, trong khi những công ty khác tăng sả̉n lượng để đáp ứng số lượng đơn đặt hàng mới tăng.

    Kết quả là, sản lượng được ghi nhận tăng lần đầu tiên trong 5 tháng. Số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh trở lại cũng được ghi nhận khi các nhà sản xuất và khách hàng của họ đều khôi phục hoạt động. Sự cải thiện của tình hình đại dịch đã cho phép các công ty hưởng lợi từ tình trạng nhu cầu tăng trên thị trường quốc tế, từ đó số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đã tăng lần đầu kể từ tháng 5.

    Đặc biệt, niềm tin kinh doanh đã cải thiện đáng kể trong tháng 10 khi làn sóng đại dịch COVID-19 mới đây đã có dấu hiệu dịu lại. Niềm hy vọng đại dịch sẽ được kiểm soát đã giúp mức độ lạc quan đạt mức cao của 29 tháng.

    [​IMG]
    Nguồn: IHS Markit, Tổng cục Thống kê.

    Việc làm tiếp tục giảm khi công nhân vẫn còn ở quê

    Song, những vấn đề liên quan đến việc làm vẫn hiện hữu bất kể tăng trưởng đã trở lại. Việc làm tiếp tục giảm đáng kể trong tháng 10 khi một số công ty cho biết một số nhân viên của họ đã trở về quê nhà trong làn sóng đại dịch mới nhất và vẫn chưa quay trở lại làm việc.

    Tình trạng khan hiếm lao động đã góp phần làm lượng công việc tồn đọng tiếp tục tăng, và số lượng đơn đặt hàng mới tăng cũng tạo thêm áp lực cho công suất. Tuy nhiên, tốc độ tăng đã chậm lại so với mức kỷ lục của tháng 9.

    Tốc độ tăng chi phí đầu vào đạt mức cao của 10,5 năm

    Chi phí đầu vào đã tăng với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 4/2011 và là một trong những mức tăng mạnh nhất trong lịch sử khảo sát. Chi phí vận tải tăng, làm tăng áp lực lạm phát vốn do tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu gây ra. Để đối phó với chi phí đầu vào tăng, các nhà sản xuất tăng giá bán hàng với tốc độ đáng kể và là tốc độ tăng nhanh nhất trong 5 tháng.

    Những nỗ lực hạn chế ảnh hưởng của tình trạng tăng giá có thể xảy ra trong tương lai đã khuyến khích các công ty tăng tồn kho hàng hóa đầu vào tháng thứ 3 liên tiếp trong tháng 10. Điều này đã được hỗ trợ thêm bởi hoạt động mua hàng tăng mạnh trở lại với tốc độ tăng gần kỷ lục.

    Cuối cùng, tồn kho hàng thành phẩm đã giảm nhẹ trong tháng 10. Một số công ty có hàng tồn kho giảm khi hàng thành phẩm đã được đem bán, trong khi những công ty khác cho biết sản lượng tăng trở lại đã giúp họ ổn định hàng tồn kho.

    Liên quan đến kết quả khảo sát mới đây, ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại IHS Markit, nhận định: "Theo kết quả khảo sát PMI mới nhất, tình hình đại dịch cải thiện, và kéo theo là việc nới lỏng các biện pháp hạn chế, đã giúp các nhà sản xuất Việt nam hoạt động trở lại trong tháng 10. Đồng thời với việc tăng sản lượng, các công ty cũng tự tin hơn nhiều về triển vọng sắp tới so với các tháng gần đây.

    Tuy nhiên, vẫn có những vấn đề còn tồn tại do đợt bùng phát gần đây của đại dịch mà có thể kìm hãm tăng trưởng. Thứ nhất, những khó khăn với hoạt động vận tải và chuỗi cung ứng vẫn chưa kết thúc, từ đó khiến việc tìm kiếm nguồn hàng và phân phối sản phẩm trở nên khó khăn. Thứ hai, một số công ty vẫn đợi công nhân trở lại từ quê nhà nơi mà họ đã phải quay về trong làn sóng COVID-19 gần đây, và điều này dẫn đến tình trạng khan hiếm nhân công trong tháng 10. Hy vọng những khó khăn này sẽ giảm bớt khi lĩnh vực sản xuất tiếp tục bình thường trở lại trong những tháng tới".

    PMI tháng 9 không đổi so với tháng trước, ở mức 40,2 điểm
    Anh Vũ

    Theo Doanh nghiệp và Tiếp thị
    Investor_70 đã loan bài này
  9. Investor_70

    Investor_70 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/01/2013
    Đã được thích:
    16.012
    Mặt bằng lãi suất huy động, cho vay tiếp tục giảm nhẹ trong quý 4/2021
    01-11-2021 - 16:30 PM | Tài chính - ngân hàng

    BÁO NÓI - 3:25

    [​IMG]
    Ảnh minh hoạ: Giao dịch tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam - Co-opBank
    SSI cho rằng, đây là thời điểm thích hợp các gói hỗ trợ kinh tế của Chính phủ nên được triển khai nhằm kích cầu nền kinh tế, bao gồm các gói hỗ trợ tài khóa (giảm thuế, giảm phí, hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt, đẩy nhanh đầu tư công,…) và tiền tệ (cắt giảm lãi suất điều hành, tăng hạn mức tín dụng, thực hiện gói cấp bù lãi suất,…).


    Trong bản tin thị trường tiền tệ mới đây, Chứng khoán SSI cho biết, trong tuần qua (25-29/10) cho biết, các nghiệp vụ thị trường mở không được sử dụng. Thanh khoản hệ thống tiếp tục được hỗ trợ bởi việc đáo hạn của các hợp đồng bán ngoại tệ kỳ hạn đầu tháng 4/2021, mặc dù khối lượng thực hiện có giảm đáng kể so với các tuần trước đó. Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tăng nhẹ trong tuần cuối tháng 10, kết tuần ở 0,71% (tăng 3 bp) cho kỳ hạn qua đêm và 0,83% (tăng 4 bp) cho kỳ hạn 1 tuần.

    Số liệu tăng trưởng tín dụng trong tháng 10 tại Hà Nội được công bố trong Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 10 của thành phố, cho thấy nhu cầu tín dụng vẫn tương đối yếu. Cụ thể, tín dụng tháng 10 ước tính tăng 0,95% so với tháng trước, giảm nhẹ so với mức tăng 1,1% của tháng 9 và là mức tăng trưởng theo tháng thấp nhất trong vòng 6 tháng qua. So sánh với cùng kỳ, tín dụng trong tháng 10 chỉ tăng 7,6% - thấp hơn nhiều so với mức tăng trung bình là 10% trong năm 2020.

    Dư nợ tín dụng của Hà Nội chiếm khoảng 25% tổng dư nợ của cả nước, do vậy tín dụng tăng chậm ở Hà Nội cũng phần nào cho thấy tăng trưởng tín dụng cả nước chưa thể bật nhanh trong tháng 10.

    SSI cho rằng, đây là thời điểm thích hợp các gói hỗ trợ kinh tế của Chính phủ nên được triển khai nhằm kích cầu nền kinh tế, bao gồm các gói hỗ trợ tài khóa (giảm thuế, giảm phí, hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt, đẩy nhanh đầu tư công,…) và tiền tệ (cắt giảm lãi suất điều hành, tăng hạn mức tín dụng, thực hiện gói cấp bù lãi suất,…). Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay được các tổ chức tín dụng tiếp tục điều chỉnh giảm nhẹ trong quý IV/2021.

    Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VND biến động trái chiều ở 2 thị trường liên ngân hàng và tự do. Kết tuần, tỷ giá niêm yết ở các NHTM giao dịch ở mức 22.620 - 22.850 đồng/USD, giảm 5 đồng ở cả hai chiều mua và bán so với tuần trước trước đó. Ngược lại, tỷ giá trên thị trường tự do tăng mạnh 130 đồng/USD ở chiều mua vào bán ra, kết tuần ở 23.410- 23.460 đồng/USD. Diễn biến trên thị trường tự do được điều chỉnh nhằm phù hợp với mức chênh lệch giữa giá vàng thế giới và Việt Nam, khi diễn biến trái chiều giữa 2 thị trường đẩy chênh lệch giá vàng lên trên 9 triệu đồng/lượng.

    Số liệu sơ bộ từ Tổng cục thống kê cho thấy cán cân thương mại trong tháng 10 thặng dư 1,1 tỷ USD, và thu hẹp cán cân thương mại lũy kế xuống còn nhập siêu khoảng 1,45 tỷ USD. Cán cân thanh toán tổng thể nhìn duy trì thặng dư nhờ lượng giải ngân FDI và lượng kiều hối tích cực. SSI nhận định, nguồn cung – cầu ngoại tệ trên thị trường sẽ tương đối cân bằng trong giai đoạn cuối năm và giúp tỷ giá USD/VND duy trì trạng thái ổn định.

    Hầu hết mảng kinh doanh đi lùi, lợi nhuận quý III Eximbank giảm hơn 25%
    Thu Thủy

    Theo Doanh nghiệp và Tiếp th
    Investor_70 đã loan bài này
  10. Investor_70

    Investor_70 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/01/2013
    Đã được thích:
    16.012
    Đề xuất gói phục hồi kinh tế 800.000 tỉ đồng
    [​IMG]
    Mai Phương
    [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    maiphuongthanhnien@gmail.com
    [​IMG]
    Nguyên Nga
    [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    ngngathanhnien@gmail.com
    06:38 - 02/11/20210 THANH NIÊN
    • phát triển kinh tế sau dịch bệnh Covid-19 với quy mô khoảng 800.000 tỉ đồng (gần 35 tỉ USD), gấp 3,5 lần gói hỗ trợ của Chính phủ năm 2021.

      Huy động từ nhiều nguồn
      Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư (KH-ĐT), dịch bệnh Covid-19 kéo dài, tác động nặng nề, toàn diện đến hầu hết các quốc gia trên thế giới. Các nước đã triển khai nhiều gói hỗ trợ quy mô lớn như Mỹ là 27,9% GDP, Nhật Bản 44,8% GDP, Thái Lan 15,6% GDP, Malaysia 8,8% GDP, Trung Quốc 6,1% GDP. Những gói hỗ trợ đó chưa từng có tiền lệ, chấp nhận tăng trần nợ công, nợ Chính phủ… để có nguồn lực thực hiện phòng, chống dịch bệnh, chống suy thoái, phục hồi kinh tế, đồng thời tận dụng cơ hội để giải quyết những hạn chế, thách thức, cơ cấu lại nền kinh tế và phát triển các động lực tăng trưởng mới.

      [​IMG]
      Chính phủ cần sớm ban hành Chương trình tổng thể phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch Covid-19

      NGỌC THẮNG

      Trong nước, mặc dù Chính phủ đã rất cố gắng, nỗ lực huy động mọi nguồn lực hỗ trợ người dân, doanh nghiệp (DN) vượt qua khó khăn của dịch bệnh nhưng quy mô các chính sách hỗ trợ còn tương đối thấp, năm 2021 ước khoảng 10,5 tỉ USD, tương đương 2,85% GDP, chủ yếu tác động về phía cung, chưa thực sự hỗ trợ mạnh mẽ cho người dân, DN; chưa có giải pháp tổng thể cùng với nguồn lực để thúc đẩy phục hồi đồng bộ cả về phía cung và cầu của nền kinh tế.

      [​IMG]
      Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư, việc xây dựng Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch bệnh Covid-19 nhằm tập trung hỗ trợ nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển

      NGỌC DƯƠNG

      Tuy nhiên, nếu không có chính sách hỗ trợ kịp thời với quy mô đủ lớn, thời gian đủ dài, phạm vi đủ rộng, nền kinh tế không thể sớm phục hồi và tăng trưởng, sẽ tác động đến ngân sách nhà nước, thị trường tài chính, tiền tệ, lao động, việc làm, xã hội...; bỏ lỡ các cơ hội mới, thời cơ mới trong chuỗi sản xuất, kinh doanh, đầu tư, thương mại toàn cầu và thích ứng, phát triển với tương lai sau dịch bệnh. Từ đó, ảnh hưởng đến thực hiện các mục tiêu hằng năm, 5 năm, 10 năm, nguy cơ tụt hậu so với khu vực và thế giới… Do vậy, việc xây dựng Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch bệnh Covid-19 (gọi tắt Chương trình) hiện nay hết sức phù hợp và cấp thiết nhằm tập trung hỗ trợ nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển, sớm trở lại trạng thái bình thường mới, không lỡ nhịp xu thế phục hồi và phát triển của thế giới.

      Chương trình này được thực hiện giai đoạn 2022 - 2023 bao gồm 4 chương trình thành phần, gồm Chương trình tổng thể mở cửa nền kinh tế gắn với phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Chương trình an sinh xã hội và việc làm; Chương trình phục hồi DN, hợp tác xã, hộ kinh doanh; Chương trình phát triển kết cấu hạ tầng, khơi thông nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển.

      Theo Bộ KH-ĐT, dự kiến nguồn lực thực hiện chương trình khoảng 800.000 tỉ đồng (khoảng 35 tỉ USD). Việc huy động vốn được thực hiện theo tiến độ thực hiện, giải ngân của từng chương trình thành phần, nhiệm vụ chi cụ thể. Các nguồn huy động ngân sách nhà nước chủ yếu bao gồm nguồn tiết kiệm chi thường xuyên; nguồn phát hành trái phiếu chính phủ; các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và Quỹ dự trữ ngoại hối trong trường hợp cần thiết; nguồn vay các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)…



      Current Time0:00
      /
      Duration16:09





      Auto

      Nhìn lại 5 tháng TP.HCM gồng mình chống cơn 'sóng thần' Covid-19
      Chấp nhận bội chi ngân sách cao hơn
      Đánh giá về tác động của chương trình nêu trên, Bộ KH-ĐT cho rằng khi thực hiện thì tăng trưởng kinh tế 5 năm 2021 - 2025 dự báo đạt khoảng 6,4 - 6,8%/năm, cao hơn khoảng 1 điểm % so với kịch bản không thực hiện, cơ bản đạt mục tiêu đề ra (6,5 - 7%/năm). Việc huy động các nguồn lực thực hiện làm nợ công tăng lên nhưng vẫn trong phạm vi kiểm soát. Quy mô nợ công theo các kịch bản khoảng 47% năm 2022 và 49% năm 2023.

      Chuyên gia kinh tế, TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, đánh giá đây là một chương trình phục hồi và phát triển kinh tế đủ lớn và thời gian đủ dài cần để triển khai. Bản thảo của Bộ KH-ĐT hội đủ các yếu tố trên, nhắm vào các lĩnh vực đáng quan tâm nhất, không chỉ hỗ trợ người lao động, cộng đồng DN vượt qua những khó khăn hiện tại mà còn thúc đẩy cải cách thể chế để bắt kịp nền móng cho bước phát triển tiếp theo. Ông Thành tính toán, với Chương trình 800.000 tỉ đồng, tương đương gần 35 tỉ USD kéo dài trong 2 năm, tương đương khoảng 9 - 10% GDP hằng năm thì có thể chấp nhận thâm hụt ngân sách cao hơn. Tuy nhiên, chương trình có đánh giá rủi ro và tập trung quản trị rủi ro để đảm bảo khả năng chống đỡ của nền kinh tế trước khủng hoảng, nên cho dù có thâm hụt thì kinh tế vĩ mô vẫn bảo đảm ổn định trong trung hạn.

      Chuyên gia kinh tế, TS Trần Du Lịch nhận định Chương trình này không chỉ để giúp phục hồi kinh tế mà phải gắn với việc chuyển đổi nhanh, xây dựng một nền kinh tế tự chủ trong bối cảnh mới. Trong đó, phải phát huy được vai trò của các DN trong nước và gắn kết với khối DN có vốn đầu tư nước ngoài, tận dụng các cơ hội từ những hiệp định thương mại song phương, đa phương mà VN đã tham gia. TS Lịch nhấn mạnh: tình hình hiện nay đòi hỏi phải có nguồn lực mạnh hơn giai đoạn trước từ nhà nước để hỗ trợ cho cả DN lẫn người dân đã gặp khó khăn vì đại dịch. Chẳng hạn, chính sách an sinh xã hội vẫn phải trợ cấp, đảm bảo đời sống cho những người nghèo, người yếu thế ít nhất đến hết tháng 6.2022 cũng như liên quan đến các công việc đào tạo, tìm việc làm. Do đó, Chính phủ phải chấp nhận bội chi ngân sách trong 2 năm 2022 - 2023 cao hơn mức gần 4% của năm 2021 mà Quốc hội đã phê duyệt. Từ đó cũng phải chấp nhận tăng trần nợ công nếu cần thiết. Song song đó, Chính phủ cần tiếp tục cải cách môi trường đầu tư, cải cách thủ tục hành chính để thu hút mạnh hơn đầu tư tư nhân. Nâng cao hiệu quả hành chính công, quản trị công theo nguyên tắc cung cấp dịch vụ hành chính công là trách nhiệm, chứ không phải xin - cho. Cải thiện môi trường đầu tư để kích cầu đầu tư tư nhân sau khi nhà nước đã đầu tư công như vốn mồi cho kinh tế phát triển.

      Triển khai nhanh
      Một vấn đề quan trọng nếu Chương trình này được thông qua, theo các chuyên gia kinh tế, đó là triển khai nhanh mới thực sự có hiệu quả. TS Trần Du Lịch nhấn mạnh: Những DN đã bị ảnh hưởng nặng, đang cần sự nâng đỡ của nhà nước mà không làm nhanh thì họ sẽ hoàn toàn biến mất khỏi thị trường. Vì vậy, Chính phủ cần làm gấp rút để trình Quốc hội thông qua cùng lúc với các chỉ tiêu kinh tế của năm 2022. Nếu không kịp phê duyệt từ đầu năm tới mà đợi Quốc hội họp lại sau đó thì sẽ chậm trễ và nền kinh tế sẽ chậm phục hồi.

      VN còn gần như nguyên vẹn 100 tỉ USD dự trữ ngoại tệ. Các kênh ngân hàng của thế giới.như WB, ADB… cũng sẵn sàng cho vay hoặc phát hành trái phiếu. Thế nên, nguồn lực để thực thi chương trình này là có.

      TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh

      Đồng quan điểm, TS Võ Trí Thành dẫn chứng, nên rút kinh nghiệm của các gói hỗ trợ, chương trình hỗ trợ trước đây. Tiền chưa phải vấn đề quan trọng nhất trong phục hồi kinh tế, quan trọng hơn là chúng ta triển khai được nhanh, hiệu quả, giám sát tốt để chống thất thoát cũng như bảo đảm DN đứng dậy hoặc đứng vững được. Muốn vậy, phải tăng cường cải cách hành chính, quyết liệt cải cách thể chế, xây dựng Chính phủ điện tử, hạn chế các thủ tục rườm ra gây tổn thất nguồn lực, tập trung vào vấn đề tái cấu trúc DN, đào tạo tay nghề cho người lao động. Bên cạnh đó, cần có cơ chế để phát triển các lĩnh vực mới sau này như Fintech, AI vì trong 2 năm đại dịch xảy ra, có gần 50% DN hợp tác, chia sẻ đơn hàng với nhau; 1/3 DN Việt đầu tư vào chuyển đổi số để chuyển đổi mô hình kinh doanh…

      [​IMG]
      Còn PGS-TS Hoàng Công Gia Khánh, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế - Luật TP.HCM, khuyến cáo cần phải đánh giá toàn diện để chọn lựa, xếp thứ tự ưu tiên các chương trình hỗ trợ, nhiệm vụ trọng tâm, từ đó cân đối với nguồn lực để đảm bảo tính khả thi. Nếu quy mô dự kiến lên đến 800.000 tỉ đồng, cần phải phân định rõ số tiền cần cho mỗi năm để cân đối với nguồn ngân sách tương ứng: tái phân bổ chi, chuyển nhượng tài sản công hay vay nợ. Nếu vay nợ, cần tính toán kỹ để đảm bảo tuân thủ các chỉ tiêu kiểm soát rủi ro như tỷ lệ nợ đến hạn so với tổng thu ngân sách (25%), trần nợ công (60%), trần nợ chính phủ (50%) và tỷ lệ bội chi ngân sách (3,7%).

      Trong trường hợp đánh giá việc vay nợ sẽ vượt các chỉ tiêu kiểm soát rủi ro, cần phải có thời gian để trình Quốc hội phê chuẩn điều chỉnh các chỉ tiêu này và lưu ý rằng các tỷ lệ này phải được tính theo quy mô GDP, thu ngân sách theo số liệu thực tế, dự kiến sẽ giảm nhiều so với số liệu dự toán từ đầu năm 2021...
    Investor_70 đã loan bài này

Chia sẻ trang này